1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Rau xanh là loại thực phẩm đã được sử dụng rất lâu đời, không thể
thiếu trong bữa ăn hàng ngày của con người. Ngày nay khi cuộc sống được
nâng cao thì nhu cầu rau tăng cao và khắt khe hơn. Cà chua là loại rau giàu
dinh dưỡng dễ chế biến, có thể sử dụng lâu dài, liên tục. Do vậy, rất được con
người ưa chuộng.
Thành phần dinh dưỡng của quả cà chua rất phong phú và đa dạng, có
chứa vitamin A, C, K, vitamin B 6, B1, các nguyên tố khoáng như kali, magiê,
đồng và phốt pho, là những vi chất cần thiết để duy trì sức khỏe tốt cho con
người. Điều tuyệt vời hơn ở cà chua chứa rất ít cholesterol, chất béo no, natri
và clo,... Chính vì vậy mà cà chua được trồng phổ biến ở Việt Nam và nhiều
nước trên thế giới.
Cà chua ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nông nghiệp do vậy
nghiên cứu do vậy cà chua được rất nhiều quốc gia trên thế giới nghiên cứu
và phát triển. Hiện nay năng suất cà chua trên thế giới không ngừng nâng cao.
Theo FAO năng suất, chất lượng cà chua trên thế giới năm 2005 đạt 27,59
tấn/ha. Nhưng đến 2010 năng suất đã tăng lên 33,59 tấn /ha. Năm 2010 diện
tích trồng cà chua trên thế giới dạt 4,34 triệu ha trong khi đó diện tích trồng cà
chua ở Châu Á là 24,34 triệu ha, chiếm 56,13 % diện tích cà chua toàn thế
giới, năng suất trung bình là 33,57 tấn/ha.
Ở Việt Nam, cà chua được trồng từ rất lâu đời, cho đến nay cà chua vẫn
là loại rau ăn quả chủ lực được Nhà nước ưu tiên phát triển. Năm 2010 diện
tích trồng cà chua khoảng 17,6 nghìn ha, năng suất đạt 11,6 tấn/ha. Phần lớn
diện tích trồng cà chua tập trung tại Đồng bằng sông Hồng như Hà Nội, Hải
Phòng, Hải Dương, Thái Bình, Hưng Yên, Bắc Giang, Nam Định,… và một
2
cây trồng nói chung.
- Bổ sung tư liệu cho công tác giảng dạy và nghiên cứu dinh dưỡng
khoáng đối với cây trồng.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Trên cơ sở xác định công thức bón phân kali hợp lý để khuyến cáo cho
người trồng cà chua ở Nhơn Tân và một số xã khác sử dụng, góp phần làm
tăng năng suất, tăng hiệu quả kinh tế và tăng thu nhập cho người nông dân.
4
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Nguồn gốc, phân loại và giá trị dinh dưỡng của cà chua
1.1.1. Nguồn gốc cây cà chua
Theo tài liệu nghiên cứu của nhiều tác giả cho rằng: Cà chua trồng hiện
nay có nguồn gốc từ Peru, Ecuador, Chile và Bolivia, là các nước Nam Mỹ
thuộc khu vực nhiệt đới khô nhiều (De Candole 1984; Jekin 1948 – dẫn theo
nguồn tài liệu của Trần Khắc Thi 2003) [2],[20] .
Cà chua được mang đến Châu Âu từ thế kỷ 16, đến thế kỷ 17. Cà chua
được trồng phổ biến khắp các nước châu Âu, nhưng khi đó cà chua chỉ được
xem như là cây cảnh và có quan niệm sai lầm là cây quả có độc. Cho đến thế
kỷ 18 cà chua mới được chấp nhận là cây thực phẩm ở Châu Âu, lần đầu tiên
được trồng ở Italia và Tây Ba Nha, sau đó lan rộng ra nhiều nước khác trên
thế giới (Kuo al 1998) [20].
Ở Bắc Mỹ, lần đầu tiên người ta nói đến cây cà chua vào năm 1710,
nhưng mới đầu chưa được chấp nhận rộng rãi do quan niệm cà chua là cây
độc hại. Đến năm 1830, cà chua mới được công nhận là cây thực phẩm như
hiện nay (Heiser, 1969) [21]
Ở châu Á, cà chua được du nhập đầu tiên vào Philippin, đảo Java và
Hệ rễ cà chua thuộc loại rễ chùm, rễ phụ phân bố dày đặc trong đất khi
cây sinh trưởng mạnh. Hệ rễ phân bố chủ yếu ở tầng đất 0-30 cm, khả năng
tái sinh của hệ rễ cà chua mạnh. Khi gieo thẳng, rễ cà chua có thể ăn sâu tới
1,5 m; tuy nhiên năng hút nước và dinh dưỡng ở độ sâu 0,5 m yếu [3], [8],
[10].
Cây cà chua còn có khả năng sinh ra rễ bất định, loại rễ này tập trung
chủ yếu ở đoạn thân dưới 2 lá mầm. Hệ rễ cà chua chịu hạn tương đối tốt,
nhưng rễ sinh trưởng tốt ở độ ẩm đất 70-80% [2], [3], [8].
1.2.2. Thân
Thân tròn, thẳng đứng, mọng nước, phủ nhiều lông, khi cây lớn gốc thân
dần hóa gỗ. Có các dạng thân như sau [3], [52].
6
+ Dạng vô hạn: Thân dài hơn 2m, có chùm hoa đầu tiên ở lá thứ 9-11 sau đó
cách 3-4 lá sau mới có chùm hoa tiếp theo.
+ Dạng hữu hạn: Thân cứng, mọc đứng, có chùm hoa đầu tiên ở lá thứ 7-9,
sau đó cách 1-2 lá có chùm hoa kế tiếp cho đến khi cây đưuọc 4-6
chùm
hoa thì xuất hiện chùm hoa, cây ngừng cao.
+ Dạng bán hữu hạn: Tương tự như dạng hữu hạn nhưng số chùm hoa của
loài này nhiều hơn khoảng 8-10 chùm.
+ Dạng bụi: Cà chua có lóng rất ngắn, đâm chồi mạnh, ít chùm hoa,
cho trái
tập trung, phục vụ cho việc trồng dày và thu hoạch cơ giới.
hình dạng vuông, hình quả lê, ovan.
Màu sắc quả là đặc trưng quan trọng của giống, loài. Cà chua trồng trọt
thường có màu đỏ, đỏ thẫm, vàng và vàng da cam.
Chất lượng quả cà chua được đánh giá qua các chỉ tiêu: Cấu trúc quả, độ
rắn chắt, tỷ lệ thịt quả, tỷ lệ đường, axit và sắc tố quả và thành phần hóa học
chủ yếu trong quả. Sự cân bằng về đường và axit thể hiện hương vị thích hợp
[2], [3].
1.3. Điều kiện sinh thái và kỹ thuật canh tác cây cà chua
1.3.1. Điều kiện sinh thái
Nhiệt độ
Theo Tạ Thị Thu Cúc, cà chua chịu được nhiệt độ cao, rất mẫn cảm với
nhiệt độ thấp. Cà chua có thể sinh trưởng, phát triển trong phạm vi nhiệt độ
từ 15-35oC, nhiệt độ thích hợp là 22-24oC. Giới hạn nhiệt độ tối cao đối với cà
chua là 35oC và giới hạn nhiệt độ tối thấp là 10 oC [2]. Nhiệt độ thích hợp cho
cây phát triển là nhiệt độ ban đêm thấp hơn nhiệt độ ban ngày khoảng vài oC
[38],[39].
Nhiệt độ cao ảnh hưởng đến một số quá trình sinh lý và sinh hóa và cuối
cùng làm giảm năng suất. [38], [40].
Nhiệt độ ngày và đêm đều có ảnh hưởng đến sinh trưởng sinh dưỡng của
cây. Nhiệt độ ngày thích hợp cho cây từ 20-25oC, nhiệt độ đêm thích hợp từ
8
13-18oC. Tốc độ sinh trưởng của thân, chồi và rễ đạt tốt hơn khi nhiệt độ ngày
từ 26-30oC và đêm từ 18-22oC [3], [2].
Khi nhiệt độ (ngày/đêm) trên 30/24oC làm giảm kích thước hoa, trọng
lượng noãn và bao phấn [17]. Hạt cà chua có thể nảy mầm ở nhiệt độ 1518oC. Giới hạn nhiệt độ từ 15,5oC- 29oC thì nhiệt độ càng cao tốc độ nảy mầm
càng cao. Ngoài ngưỡng này tỷ lệ nảy mầm của hạt giảm hoặc nảy mầm
chậm, dễ mất sức sống và mầm bị dị dạng. Theo Tiwari và Choudhury (1993)
Khi đất quá khô hay quá ẩm đều ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển và
năng suất của cà chua [2], [3], [8].
Dinh dưỡng
Cà chua là cây có thời gian sinh trưởng dài, thân lá sinh trưởng mạnh,
khả năng ra hoa, ra quả nhiều, tiềm năng cho năng suất lớn nhất. Vì vậy cung
cấp đầy đủ chất dinh dưỡng là yếu tố có tính chất quyết định đến năng suất và
chất lượng quả [4], [17].Cũng như các cây trồng khác cà chua cần ít nhất là 12
nguyên tố đó là: photpho (P), kali (K), lưu huỳnh (S), magie (Mg), Bo (B), sắt
(Fe), mangan (Mn), đồng (Cu), kẽm (Zn), molipden (Mo) nvà canxi (Ca) [2],
[4], [17].
Trong các nguyên tố đa lượng cà chua cần nhiều kali hơn cả, sau đó là
nitơ và photpho. Mỗi nguyên tố dinh dưỡng khác nhau có ảnh hưởng khác
nhau đến sinh trưởng, phát triển của cây cà chua [2], [3].
1.3.2. Kỹ thuật canh tác cây cà chua
Luân canh
Vấn đề quan trọng trong kỹ thuật canh tác cây cà chua là thực hiện chế
độ luân canh hợp lý, không trồng cà chua trên đất vụ trước trồng cây họ cà
hoặc cây ớt. Đặc biệt là khoai tây, vì cây cà chua và cây khoai tây dễ bị các
loại bệnh gây hại giống nhau như: Bệnh mốc sương, héo xanh vi khuẩn và
virut v.v. Luân canh cà chua tốt nhất là với cây trồng trước là lúa nước hoặc
luân canh với cây rau [2],[8].
Thời vụ
Vụ đồng xuân: Gieo tháng 10-11, thu hoạch vào tháng 1- 2 dương lịch.
10
Vụ xuân hè: Gieo tháng 12-1, thu hoạch vào tháng 3-4 dương lịch
Vụ hè thu: Gieo tháng 6 - 7 và thu hoạch vào tháng 9-10 dương lịch
[3], [52].
Mật độ và khoảng cách
- Trồng hàng đôi trên luống, phân nhóm theo đặc tính sinh trưởng như sau:
+ Giống hữu hạn và bán hữu hạn: Khoảng cách giữa 2 hàng từ 60 cm đến 65
cm, cây cách cây 40cm, mật độ khoảng 3,3 vạn cây/ha.
+ Giống vô hạn: Khoảng cách giữa 2 hàng từ 65 cm đến 70cm, cây cách cây
50 cm, mật độ khoảng 2,67 vạn cây/ha [34], [2], [50].
Chăm sóc và phòng chống dịch hại
Là biện pháp kỹ thuật quan trọng trong quá trình chăm sóc cây, số lần
vun xới trung bình 2-3 lần: Sau khi cây hồi xanh, sau khi cây trồng 25-30
ngày xới lại lần 2, sau trồng 35-40 ngày (trước khi làm giàn). Dùng cuốc nạo
vét đất ở rãnh vun cao cho cây đứng vững [2], [3], [52].
Sau khi trồng phải tưới nước giữ ẩm, giúp cho cây chóng hồi phục, phải
dùng nước sạch để tưới, ngày tưới 1-2 lần tùy theo độ ẩm đất và thời tiết khí
hậu, tưới nước cách gốc 0,7-1 cm [2], [44].
Khi cây sinh trưởng mạnh, tưới rãnh là phương pháp tưới hiệu quả nhất.
Độ ẩm đất duy trì từ 70-80 % sẽ thõa mãn nhu cầu của cà chua đối với nước.
Các thời kỳ cây phân hóa hoa, nụ hoa, hoa rộ, ra quả và thời kỳ phát triển cần
cung cấp đủ nước. Tuy nhiên, cà chua không chịu được ngập úng, vì vậy khi
có mưa lớn cần kịp thời tiêu nước. (Tạ Thị Thu Cúc) [44], [45], [47].
Làm giàn, tỉa cành, tạo hình
Những giống cà chua có cành lá xum xuê, thân có nhiều nhánh, cây có
khả năng cho nhiều quả, vì vậy trong sản xuất cần phải làm giàn, tỉa cành, tạo
hình mới cho năng suất. Thời gian thực hiện là sau khi trồng 35-40 ngày (cây
chưa ngủ nghỉ) phải làm giàn kịp thời.
Nguyên liệu làm giàn thường là: Trúc, nứa tép, cây điền thanh, v.v.
12
Kiểu giàn: Ở vùng sản xuất cà chua, người ta làm giàn theo kiểu chữ A
5SC), Diafenthiuron (Pegasus 500SC, Pesieu 500SC); Matrine (Kobisuper
1SL, Sokupi 0,36SL); Spinosad (Success 25SC),…
Bọ phấn trắng: Khi ruộng bị nhiễm bọ phấn có thể dùng luân phiên các loại
thuốc sau: Dinotefuran (Chat 20WP, Oshin 20WP); Oxymatrine: (Vimatrine
0.6L); Citrus oil: (MAP Green 10AS); Thiamethoxam (Actara 25WG).
Bệnh héo xanh: Bón phân cân đối giữa đạm, lân và kali, tăng cường bón
thêm phân hữu cơ hoai mục, vôi. Bệnh không có thuốc đặc trị. Tuy nhiên có
thể dùng thuốc Stamer 20WP, thuốc có gốc đồng để phun xịt để làm chậm tốc
độ phát triển bệnh.
Bệnh xoắn lá: Không bón nhiều đạm, tăng cường phân kali và các yếu tố vi
lượng, phun thuốc diệt bọ phấn truyền virus như sherpa với liều lượng
0,5lit/ha.
Bệnh mốc sương: Phun dung dịch Booc-đô 1%,
Ridozeb 72WP 30-40
g/bình 8 lít, Polyram 80DF 30-40 g/bình 8 lít, Dithane M45 80WP 30-40
g/bình 8 lít.
Bệnh thán thư: Khi bệnh hại cây thì phun trị bằng một trong các loại thuốc
như Ridomil 72WP, Copper B 75 WP, Daconil 75WP,…
1.4. Tình hình nghiên cứu cây cà chua trên thế giới và ở Việt Nam
1.4.1. Tình hình nghiên cứu cây cà chua trên thế giới
Theo các nghiên cứu về N2, P2O5, K2O trên cà chua ở Florida khuyến cáo
nên sử dụng một hàm lượng phân K 2O cho cây cà chua ở khu vực này là
181,44 kg/ha (Kidder et al, 1989) [60].
Vào năm 2001 các nhà nghiên cứu Bishnu P. Chapagain, Zeev Wiesman
thuộc (Viện Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng), Ben-Gurion ở Negev,
Israel đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của kali clorua magie (KCl. MgCl 2)
đến sinh trưởng, năng suất cà chua trong nhà kính [61].
Trường Đại học Cần Thơ đã tiến hành thử nghiệm chuyển gen kháng sâu
trên
cây
cà
chua
(Lycopersiconesculentum-mill.)
Agrobacterrium Tumefaciens.
Ở Bình Định
bằng
vi
khuẩn
15
Nghiên cứu ảnh hưởng của Cu và Mn đến một số chỉ tiêu năng suất của
một số giống cà chua trồng trong vụ Xuân- Hè tại vườn trường Đại học Sư
Phạm Quy Nhơn (Lê Dụ, 1996).
Nghiên cứu tác động của chế phẩm EM đến các chỉ tiêu sinh lý, hóa
sinh, năng suất, phẩm chất của cây cà chua trồng tại Quy Nhơn, Bình Định.
1.5. Vai trò của nguyên tố kali
1.5.1. Vai trò của kali đối với thực vật
Kali cần thiết cho sự hình thành thân, bầu quả, làm cho cây cứng, chắc do làm
tăng bề dày của mô cơ. Kali có tác dụng vô cùng quan trọng đối với khả năng
chống chịu điều kiện ngoại cảnh bất lợi và sâu, bệnh hại cho cây cà chua.
Đặc biệt kali có tác dụng làm cho quả chắc do đó làm tăng khả năng vận
chuyển và bảo quản khi quả chín. Kali còn có ảnh hưởng tốt đến chất lượng
quả như làm tăng hàm lượng đường, hàm lượng các chất tan và viatmin C. Cà
chua cần nhiều kali ở giai đoạn ra hoa và hình thành quả.
Thiếu kali lá có màu xanh thẫm, lóng ngắn, nghiêm trọng sẽ xuất hiện
những vết chết hoại ở mép các lá già. Nhìn chung thời kỳ cây ra hoa rộ cần tất
cả các nguyên tố đa lượng. Tuy vậy, liều lượng mỗi nguyên tố thay đổi theo
giống, đất dai, khí hậu, thời tiết và kỹ thuật trồng trọt. [2], [3].
1.6. Nghiên cứu ứng dụng kali ở Việt Nam
Nghiên cứu về vai trò của kali đối với cây trồng thể hiện rất khác nhau
tùy theo từng loại đất. Hiệu lực cao nhất thường thấy trên đất xám bạc màu và
trên đất cát biển. Đối với một số loại cây lấy hạt như ngô thì hiệu lực của kali
khá cao, năng suất tăng từ 23-36 % và hiệu lực của kali trung bình đạt từ 15 20kg hạt/1kg K2O [53].
Nghiên cứu của các nhà khoa học về tính chất đất xám miền Đông Nam
Bộ và đất phèn ở Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy: Các loại đất này đều
17
có hàm lượng kali tổng só và dễ tiêu thấp, hàm lượng kali tổng số trong đất từ
0,03-0,09 % và kali trao đổi cũng thấp, trong khi nhu cầu kali của cây cao hơn
gấp nhiều lần. Do vậy để cây trồng sinh trưởng phát triển và cho năng suất
cao, chất lượng tốt thì con đường duy nhất là phải bổ sung kali thông qua
nguồn phân bón [52], [53].
Nhiều kết quả nghiên cứu của các tác giả trên thế giới và nước ta đã
chứng minh rằng: Nếu thiếu kali sẽ ảnh hưởng xấu đến quá trình trao đổi chất
trong cây, làm suy yếu hoạt động của hàng loạt enzyme, giảm quá trình trao
11/2015
12/2015
01/2015
02/2015
03/2015
Nhiệt độ
trung bình
26,3
26,0
24,4
22,0
23,0
24,0
ẩm độ trung Tổng
Tổng giờ nắng /
bình (%)
lượng mưa tháng (giờ)
(mm)
86,0
330,5
123,1
86,2
335,1
122,3
78,0
187,8
119,2
79,5
lại 3 lần. Mỗi ô thí nghiệm 10m2.
- CT1: Nền +100 kg K2O/ha tương đương khoảng 164 kg KCl/ha
- CT2: Nền + 120 kg K2O/ha tương đương khoảng 197 kg KCl/ha
- CT3: Nền + 140 kg K2O/ha tương đương khoảng 230 kg KCl/ha
- CT4: Nền + 150 kg K2O/ha tương đương khoảng 246 kg KCl/ha
ĐC
TN2
TN1
TN3
TN2
ĐC
TN3
TN1
ĐC
TN2
TN1
TN3
- Nền : 120 kg N; 120 kg P2O5; 20 tấn phân chuồng; 500 kg vôi bón cho 1
hecta.
- Mật độ trồng: Trồng luống đôi 1,5 m, hàng cách hàng 65 cm, cây cách cây
20
21
- Thời gian hình thành quả: Thời điểm có 50% số hoa trong ô thí nghiệm đậu quả.
- Ngày thu quả đợt 1: Ngày có khoảng 50% cây trong ô thí nghiệm có quả
chín để thu hoạch.
2.3.2.3. Phương pháp xác định chỉ tiêu về năng suất và phẩm chất
Phương pháp xác định một số chỉ tiêu về năng suất
- Số hoa/ cây: Đếm số hoa có trên cây, đếm 10 cây/ 1 ô thí nghiệm, 30 cây/ 1
công thức.
- Tỷ lệ hình thành quả (%): Đếm số quả được hình thành trên cây, đếm 10
cây/ 1 ô thí nghiệm, mọi công thức đếm 30 cây.
- Số quả/ cây: Tổng số quả của các lần thu hoạch/cây, mỗi công thức xác định
15 cây.
- Khối lượng quả/cây: Cân toàn bộ khối lượng quả thu được qua các lần ở mỗi
cây, mỗi công thức xác định 15 cây.
- Khối lượng trung bình của quả:
M(g) =
Tổng khối lượng của quả/cây
Số quả/cây
Mỗi công thức thí nghiệm xác định 15 cây
- Đường kính quả: Đo đường kính mặt cắt ngang phần lớn nhất của quả, chọn
quả của chùm quả thứ 2 đến chùm quả thứ 3 trên cây, đo 10 quả/ 1 ô thí
nghiệm, 30 quả cho 1 công thức thí nghiệm.
- Độ dày quả: Đo từ vỏ đến chỗ tiếp xúc ngăn hạt tại phần lớn nhất của quả,
chọn quả của chùm quả thứ 2 đến chùm quả thứ 3 trên cây; đo 10 quả /1 ô thí
nghiệm, 30 quả cho 1 công thức thí nghiệm.
- Số hạt trong quả: Đếm số hạt trong từng quả, đếm 10 quả/ 1 ô thí nghiệm, 30
quả cho 1 công thức thí nghiệm và lấy giá trị trung bình.
- Phương pháp xác định hàm lượng nước trong lá qua các giai đoạn (cây con,
ra hoa, hình thành quả
+ Lượng nước tổng số bằng phương pháp sấy khô đến khối lượng
không đổi và cân lại khối lượng sau khi sấy.
+ Hàm lượng nước tự do theo phương pháp A.P.Marinsich.
+ Hàm lượng nước liên kết (%) = %Nước tổng số - %nước tự do.
- Hàm lượng diệp lục a, diệp lục b, diệp lục a + b trong lá cà chua xác định
qua 3 giai đoạn bằng cách chiết rút diệp lục trong lá bằng ethanol 96 độ và đo
mật độ quang trên máy quang phổ ở bước sóng 665 và 649 nm.
2.3.2.6. Phương pháp xác định tỷ lệ cây bị nhiễm sâu, bệnh
Tỷ lệ cây bị bệnh (%):
Số cây bị bệnh
X 100
23
Tổng số cây xác định
X 100
Tỷ lệ cây bị sâu hại (%): Số cây bị sâu hại
Tổng số cây xác định
2.3.3
Hiệu quả kinh tế
Xác định tổng chi phí sản xuất và tổng doanh thu từ sản phẩm thu được.
Lợi nhuận
Trước thí nghiệm
Sau thí nghiệm
Giá trị
Mức độ
Giá trị
Mức độ
Ph
5,23
Chua vừa
6,75
Trung tính
Mùn (%) chất khô
2.19
Nitơ dễ tiêu (mg/ 100 g đất)
3,50
Mùn trung
bình
Nghèo
nitơ
25
Qua kết quả phân tích ở bảng 3.1 chúng tôi nhận xét
Độ pH
Độ chua, độ kiềm của đất được đo bằng độ pH. Đất thường có trị số pH
từ 3 đến 9. Theo phân chia của Lê Văn Khoa (2001) [13] pH < 4,5 thì đất
thuộc loại rất chua, pH từ 4,5-5 thì đất thuộc loại chua vừa, độ pH từ 5– 5,5
đất thuộc loại chua nhẹ , độ pH từ 5,5 – 6 thì đất thuộc loại gần trung tính và
pH > 6 thì đất thuộc loại trung tính. Dựa vào kết quả ở bảng 3.1 chúng tôi
thấy trước thí nghiệm đất có độ chua vừa (pH = 5,23). Sau thí nghiệm độ chua
của đất giảm đạt trị số trung tính ( 6,75). Sở dĩ độ chua của đất giảm là do
chúng tôi bón phân chuồng và vôi ở giai đoạn bón lót, phân chuồng, và vôi
trong quá trình phân giải có khả năng cải thiện độ chua của đất. Mặt khác
trong quá trình sinh trưởng và phát triển, cây cà chua hút chất dinh dưỡng
cũng có thể làm thay đổi độ chua của đất.
Hàm lượng mùn
Mùn có vai trò rất quan trọng đối với cây trồng nói chung và cây cà
chua nói riêng. Nó không chỉ là kho dinh dưỡng cho cây trồng mà còn ảnh
hưởng đến việc làm đất và sức sản xuất của đất. Hàm lượng mùn trong đất tại
khu thí nghiệm thuộc loại thấp (2,193%) và sau thí nghiệm thì hàm lượng
mùn cũng không thay đổi so với trước thí nghiệm (2,416%). Điều này chứng
tỏ sự phân giải các hợp chất hữu cơ trong đất diễn ra chậm và phân kali ít ảnh
hưởng tới sự phân giải các hợp chất hữu cơ trong đất [13].
Hàm lượng photpho dễ tiêu