LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tác giả đã
nhận được sự động viên, giúp đỡ tận tình, tạo mọi điều kiện thuận lợi của các
cấp lãnh đạo, thầy cô và các bạn đồng nghiệp. Tác giả xin chân thành cảm ơn:
Hội đồng đào tạo, Hội đồng khoa học trường Đại học Vinh, Tỉnh Nghệ
An; Lãnh đạo Phòng Giáo dục và Đào tạo quận Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh.
Đồng thời, tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, các bạn đồng
nghiệp và học sinh thuộc 8 trường tiểu học quận Thủ Đức; các cơ quan đoàn
thể xã hội, phụ huynh học sinh trên địa bàn 8 phường, quận Thủ Đức đã nhiệt
tình cộng tác, cung cấp thông tin, số liệu, cho ý kiến và tạo điều kiện thuận lợi
cho tác giả trong quá trình nghiên cứu thực tế để làm luận văn.
Đặc biệt, tác giả xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo
- TS. Phan Quốc Lâm - Người hướng dẫn khoa học đã tận tâm bồi dưỡng, bổ
sung các kiến thức và phương pháp nghiên cứu; trực tiếp giúp đỡ và động
viên tác giả hoàn thành luận văn này.
Mặc dù trong quá trình nghiên cứu, bản thân đã nỗ lực cố gắng tìm tòi
rất nhiều kiến thức từ các tài liệu cũng như từ trải nghiệm thực tiễn, song
cũng không tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả kính mong nhận được những
lời chỉ dẫn chân thành, những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo;
ý kiến trao đổi kinh nghiệm của các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn
thiện hơn. Đồng thời giúp cho bản thân tác giả có thêm nhiều kinh nghiệm
trong sự nghiệp quản lý giáo dục của mình và nhất là trong lĩnh vực quản lý
các hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học.
Tác giả xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 08 năm 2013
Tác giả luận văn
Hồ Nguyễn Trang Đài
MỤC LỤC
Trang
7.
5
Những đóng góp của đề tài …………………………………....
8.
5
Cấu trúc của luận văn ……………………………………..… 6
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI ……………………... 7
1.1.
1.2.
1.3.
1.4.
Lịch sử vấn đề nghiên cứu ………………………………….… 7
Các khái niệm cơ bản ……………………………………….… 10
Một số vấn đề về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học.18
Một số vấn đề về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho
học sinh tiểu học ………………………………….…………… 36
Kết luận chương 1 …………..………………………………...……. .43
Chương 2. CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI ……………..……. 44
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội và tình hình
giáo dục của quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh …..….. 44
2.2. Khái quát về nghiên cứu thực trạng ..………………….……. 63
2.3. Kết quả nghiên cứu thực trạng……………………….….…. 65
thông đã và đang được đổi mới mạnh mẽ theo bốn trụ cột của giáo dục thế kỷ
XXI, mà thực chất là cách tiếp cận kỹ năng sống, đó là: Học để biết- Học để
làm- Học để tự khẳng định mình và Học để cùng chung sống.
Nhiều ý kiến cho rằng, các trường học hiện nay đã quá nặng về dạy kiến
thức, ít quan tâm đến việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh dẫn đến có một
bộ phận học sinh trong các trường thiếu hụt hiểu biết về môi trường xung
quanh, ứng xử cần thiết trong cuộc sống. Điều này cũng là một trong những
nguyên nhân dẫn đến sự bất cập trong hành vi, lối sống đạo đức của nhiều học
sinh. Theo yêu cầu của Bộ Giáo dục- Đào tạo, giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh phải đảm bảo các yếu tố: giúp học sinh ý thức được giá trị của bản thân
trong mối quan hệ xã hội; giúp học sinh hiểu biết về thể chất, tinh thần của
bản thân mình; có hành vi, thói quen ứng xử có văn hóa, hiểu biết và chấp
hành pháp luật, …Tuy nhiên, giáo dục kỹ năng sống để đạt hiệu quả đòi hỏi
nhiều yếu tố chú không phải chỉ từ các bài giảng suông bằng lý thuyết. Mặt
khác, giáo dục kỹ năng sống chỉ thật sự có hiệu quả khi người thầy có tâm
huyết, sự kiên nhẫn và nhất là phải có thời gian. Giáo dục kỹ năng sống
không phải chỉ là công việc của giáo viên, nhà trường mà là của cả xã hội của
2
cộng đồng. Phải biết kết hợp cả ba yếu tố: gia đình, nhà trường và xã hội mới
mong đào tạo được những học sinh phát triển toàn diện.
Năm học 2011-2012, Sở Giáo dục- Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh đã
chỉ đạo các trường học tăng cường rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh bằng
một số giải pháp, cụ thể: Tổ chức tập huấn cho đội ngũ cốt cán của các
trường; đẩy mạnh thực hiện phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân
thiện, học sinh tích cực”; mỗi thầy cô giáo tâm huyết, trách nhiệm hơn trong
việc giáo dục đạo đức, nhân cách cho học sinh; giáo viên các trường học
không chỉ nâng cao chất lượng chuyên môn nghiệp vụ, mà còn thường xuyên
phong trào, nổi bật nhất là phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân
thiện, học sinh tích cực” nhưng kết quả thì chúng ta đã đạt được những gì?
Hiệu quả giáo dục ra sao? Các em học sinh thể hiện kỹ năng sống của mình
đạt được ở mức độ nào? …cho đến nay vẫn chưa có một minh chứng cụ thể
nào cả. Giáo dục kỹ năng sống không phải là một môn học cụ thể như tiếng
việt hay toán mà là một quá trình giáo dục kết hợp từ thực tiễn cuộc sống đến
các môn tâm lý học, giáo dục học. Nó không có một phương pháp hay một
hình thức giảng dạy cụ thể mà phải tùy thuộc vào từng tình huống, từng hoàn
cảnh cụ thể để giáo dục các em. Bản thân người giáo viên ngoài việc tuân thủ
theo những cái chung như: thực hiện giảng dạy tích hợp kỹ năng sống theo
hướng dẫn chỉ đạo của Bộ- Sở, tổ chức các hoạt động thi đua; ……còn phải
có ý thức tự tôi rèn, điều chỉnh các giá trị sống; phải thể hiện tốt những kỹ
năng sống ngay từ chính bản thân mình; phải là tấm gương cho các em học
tập và noi theo.
Việc quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học
quận Thủ Đức, đối với các nhà quản lý hiện nay cũng rất là nan giải. Nếu như
không hiểu rõ đối tượng mình đang quản lý từ giáo viên đến học sinh, không
tìm hiểu kỹ thực trạng của địa bàn nơi mình đang quản lý thì sẽ dẫn đến một
kết quả không như mong muốn. Một mặt, nhà quản lý cũng cần phải nghiên
4
cứu để tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua các hoạt động
dạy học, các phong trào hoạt động ngoại khóa, hoạt động đoàn thể sao cho
thật phong phú, đa dạng; quan trọng nhất là phải mang tính thiết thực và thật
gần gũi với các em. Làm sao để các em có thể vận dụng được các kỹ năng
sống ở mọi lúc, mọi nơi và hình thành được ý thức sống đẹp- sống đúng- sống
vì mình và vì mọi người. Đồng thời, nhà quản lý cũng cần phải có những giải
pháp giúp cho đội ngũ giáo viên hiểu và thấy rõ được tầm quan trọng của việc
5
5.1. Xây dựng cơ sở lý luận cho việc đề xuất các giải pháp quản lý hoạt
động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học quận Thủ Đức, thành
phố Hồ Chí Minh
5.2. Nghiên cứu thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh tiểu học quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh
5.3. Đề xuất và khảo sát tính cần thiết và tính khả thi một số giải pháp
quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học quận Thủ
Đức, thành phố Hồ Chí Minh
6.
Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
− Phương pháp phân tích- tổng hợp tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên
cứu
− Phương pháp phân loại- hệ thống hóa và cụ thể hóa các tài liệu lý luận
có liên quan
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn để thực hiện nhiệm vụ
nghiên cứu thực tiễn
− Phương pháp điều tra
− Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục
− Phương pháp thực nghiệm sư phạm
6.3. Phương pháp toán thống kê để xử lý các dữ liệu thu được về định
lượng
7.
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Các nghiên cứu trong nước
1.1.1.1. Một số công trình nghiên cứu về giáo dục kỹ năng sống:
Năm 1996, thuật ngữ “kỹ năng sống” bắt đầu được biết đến ở Việt Nam
qua chương trình của UNICEF “Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khỏe và
phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” do
các chuyên gia Australia tập huấn.
Năm 2003, hội thảo “Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống do
UNESCO” tài trợ được tổ chức.
Năm 2005, có một số tài liệu, đề tài nghiên cứu được triển khai liên quan
đến giáo dục kỹ năng sống trong các trường trung học cơ sở và trung học phổ
thông như: Dự án VIE 01/10 do UNFPA tài trợ “Giáo dục dân số và sức khỏe
sinh sản vị thành niên thông qua hoạt động ngoại khóa trong nhà trường”; đề
tài cấp Bộ “Giáo dục một số kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông”,
do trung tâm Nghiên cứu Giáo dục học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội triển
khai.
Bên cạnh những nghiên cứu liên quan đến giáo dục kỹ năng sống trong
giáo dục phổ thông, còn có một số tài liệu nghiên cứu khác đề cập đến giáo
dục kỹ năng sống trong giáo dục thường xuyên. Tiêu biểu là một số dự án hợp
tác giữa Viện chiến lược và Chương trình giáo dục với văn phòng UNESCO
Hà Nội: “Giáo dục kỹ năng sống ở trung tâm học tập cộng đồng” (2005);
“Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn” (2006).
Nhìn chung, ở Việt Nam hiện nay, có rất ít tác giả nghiên cứu về giáo
dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học. Đặc biệt, các công trình nghiên cứu
8
về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học nói chung và qua các môn học
đạo đức, tự nhiên xã hội, khoa học, kỹ thuật, mỹ thuật, … mới chỉ nghiên cứu
Students with Special Needs); Botvin – 2001 (Life skills training: fact sheet)
… Còn có nhiều các công trình nghiên cứu được thực hiện bởi các tổ chức
quốc tế: UNICEF, WHO, UNESCO. Có thể kể ra một vài công trình nghiên
cứu tiêu biểu như:
− Life skills Education in schools (WHO, 1997)
− Skills for Health (WHO, 2001)
− Life Skills in Non- Formal Education: A Review (UNESCO, 2001)
1.1.2.2. Hiện trạng triển khai giáo dục kỹ năng sống
Năm 1979, tiến sĩ người Mỹ là Gilbert Botvin đã công bố một chương
trình đào tạo kỹ năng sống có hiệu quả cao cho thanh thiếu niên từ lớp 7 đến
lớp 9. Sau đó, chương trình này đã được triển khai trong nhiều trường học
khác nhau và đã thu được nhiều kết quả ấn tượng.
Với sự tài trợ của các tổ chức quốc tế như: UNICEF, UNESCO,
UNFPA, WHO chương trình giáo dục kĩ năng sống đã được phát triển rộng
khắp trên phạm vi toàn cầu . Các tổ chức này đã mở những cuộc hội thảo,
cung cấp vật liệu, đồng thời phối hợp với nhau để đẩy mạnh hoạt động giáo
dục kĩ năng sống trong thanh thiếu niên. Chương trình này đã được thức hiện
và phát triển mạnh trong khu vực Mỹ Latinh và Caribe, khu vực Nam Phi và
Botswana, khu vực Châu Á.
Tại khu vực Châu Á, được sự tài trợ của các tổ chức quốc tế, đặc biệt là
UNICEF, UNESCO, UNFPA, các chương trình giáo dục kỹ năng sống đã
được triển khai rộng khắp ở cả Nam Á (Bangladesh, Bhutan, Nepal, Sri
Lanka), Đông Á (Trung Quốc), Trung Á (Mông Cổ), Đông Nam Á
(Campuchia, Idonesia, Lào, Myanmar, Philippin, Thái Lan, Đông Timor và
Việt Nam).
10
Tại khu vực Đông Nam Á, cả chương trình giáo dục dựa trên kỹ năng
Đại học sư phạm Hà Nội: Kỹ năng sống là năng lực, khả năng tâm lý- xã hội
của con người có thể ứng phó với những thách thức trong cuộc sống, giải
quyết các tình huống một cách tích cực và giao tiếp có hiệu quả.
Theo thuyết hành vi: Kỹ năng sống là những kỹ năng tâm lý xã hội liên
quan đến những tri thức, những giá trị và những thái độ; là những hành vi làm
cho các cá nhân có thể thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu và
thách thức của cuộc sống.
Cũng cần hiểu rộng hơn: Kỹ năng sống không phải là năng lực cá nhân
bất biến trong mọi thời đại, mà là những năng lực thích nghi cho mỗi thời đại
mà cá nhân đó sống. Chính vì vậy, kỹ năng sống vừa mang tính cá nhân, vừa
mang tính dân tộc- quốc gia, vừa mang tính xã hội- toàn cầu.
1.2.2. Hoạt động giáo dục kỹ năng sống
Giáo dục kỹ năng sống là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện
đại, xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen
tiêu cực trên cơ sở giúp học sinh có thái độ, kiến thức, kỹ năng, giá trị cá nhân
thích hợp với thực tế xã hội. Mục tiêu cơ bản của giáo dục kỹ năng sống là
làm thay đổi hành vi của học sinh, chuyển từ thói quen thụ động, có thể gây
rủi ro, dẫn đến hậu quả tiêu cực thành những hành vi mang tính xây dựng tích
cực và có hiệu quả để nâng cao chất lượng cuộc sống cá nhân và góp phần
phát triển xã hội bền vững.
Giáo dục kỹ năng sống được xem như là một cách tiếp cận giáo dục
nhằm mục đích giúp con người có những khả năng tâm lý xã hội để tương tác
với người khác và giải quyết vấn đề, những tình huống của cuộc sống hàng
ngày một cách có hiệu quả. Giáo dục kỹ năng sống còn mang ý nghĩa tạo nền
tảng tinh thần để học sinh đối mặt với các vấn đề từ hoàn cảnh, môi trường
sống, cũng như phương pháp hiệu quả để giải quyết các vấn đề đó.
12
Trong quan hệ với gia đình: giáo dục kỹ năng sống giúp học sinh biết
kính trọng ông bà, hiếu thảo với cha mẹ, quan tâm chăm sóc người thân khi
ốm đau, động viên an ủi nhau khi gia đình quyến có chuyện chẳng lành.
Trong quan hệ với xã hội: giáo dục kỹ năng sống giúp học sinh biết cách
ứng xử thân thiện với môi trường tự nhiên, với cộng đồng như: có ý thức giữ
gìn trật tự an toàn giao thông; giữ vệ sinh đường phố; bảo vệ môi trường,
thiên nhiên … Từ đó, góp phần làm cho môi trường sống trong sạch, lành
mạnh, bớt đi những tệ nạn xã hội, những bệnh tật do sự thiếu hiểu biết của
chính con người gây nên; góp phần thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội
tích cực để hài hòa mối quan hệ giữa nhu cầu- quyền lợi và nghĩa vụ trong
cộng đồng.
Hoạt động giáo dục kỹ năng sống là một quá trình tổ chức cách thực
hành các kỹ năng sống thông qua quá trình giáo dục. Kỹ năng sống được hình
thành từ các hoạt động giáo dục: giáo dục chính khóa, giáo dục ngoại khóa;
giáo dục lý thuyết, giáo dục thực hành, trải nghiệm, … Các em học sinh được
phát triển toàn diện, được hình thành và phát triển những phẩm chất và năng
lực của mình; được hoàn thiện nhân cách chính là nhờ các hoạt động giáo dục
kỹ năng sống.
Hoạt động giáo dục kỹ năng sống là mối quan hệ tương tác giữa con
người với môi trường và với các mối quan hệ xung quanh mình. Trong quá
trình tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống, bản thân người tổ chức và
người tham gia hoạt động giáo dục vừa tạo ra được sản phẩm cho xã hội vừa
tạo ra tâm lý của chính bản thân mình. Sản phẩm xã hội được tạo ra trong quá
trình tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh đó chính là
những con người phát triển toàn diện về nhân cách, có khả năng nhận thức tốt
mọi sự vật xung quanh mình; biết thể hiện bản thân ở mọi hoàn cảnh; có ý
thức điều chỉnh hành vi, phân biệt hành vi tốt- xấu hoặc đúng- sai; biết bày tỏ
14
về quản lý lại càng phong phú. Các trường phái quản lý học đã đưa ra những
định nghĩa về quản lý như sau:
Tailor: “Làm quản lý là bạn phải biết rõ: muốn người khác làm việc gì
và hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm”.
Fayel: “Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh
nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức,
chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát. Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ
chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy”.
Hard Koont: “Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp
con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định”.
Peter F Druker: “Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn. Bản chất của nó
không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự
logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích”.
Peter F Dalark: “Định nghĩa quản lý học phải được giới hạn bởi môi
trường bên ngoài nó. Theo đó, quản lý bao gồm 3 chức năng chính là: Quản
lý doanh nghiệp, quản lý giám đốc, quản lý công việc và nhân công”.
Quản lý không đơn giản chỉ là khái niệm, nó là sự kết hợp của 3 phương
diện:
Thứ nhất, thông qua tập thể để thúc đẩy tính tích cực của cá nhân.
Thứ hai, điều hòa quan hệ giữa người với người, giảm mâu thuẫn giữa
hai bên.
Thứ ba, tăng cường hợp tác hỗ trợ lẫn nhau, thông qua hỗ trợ để làm
được những việc mà một cá nhân không thể làm được, thông qua hợp tác tạo
ra giá trị lớn hơn giá trị cá nhân- giá trị tập thể.
Trung tâm nghiên cứu khoa học tổ chức, quản lý đã nêu: “Quản lý là một
quá trình công tác gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý
nhằm đạt được mục tiêu chung… Quản lý là một nghệ thuật đạt được mục
17
định để đạt được mục đích hoạt động. Giải pháp càng thích hợp, càng tối ưu,
càng giúp con người nhanh chóng giải quyết những vấn đề đặt ra và càng thu
được hiệu quả cao.
Một giải pháp theo đúng khái niệm của nó là phải khả thi (về lý thuyết),
rồi phải được thực thi, chuyển thành một hình thái trực quan cảm tính trong
thực tiễn cuộc sống.
1.2.4.2. Giải pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống
Giải pháp quản lý là tổng thể các cách thức tác động của chủ thể quản lý
lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý để đạt được các mục tiêu đã đề ra.
Giải pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học
là cách thức tác động của chủ thể quản lý đến đội ngũ cán bộ giáo viên, các
lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để đạt được mục tiêu giáo dục
kỹ năng sống, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh.
Chỉ đạo các trường học về rèn kỹ năng sống cho học sinh, xây dựng quy
tắc ứng xử có văn hóa trong nhà trường. Trước hết, đội ngũ cán bộ, giáo viên
phải nhận thức và thực hiện đúng quy tắc ứng xử, phải là tấm gương sáng cho
học sinh noi theo. Mỗi thầy, cô giáo tâm huyết, trách nhiệm hơn trong việc
giáo dục đạo đức, nhân cách cho học sinh. Nhà trường làm tốt phong trào thi
đua, biểu dương, nhân rộng điển hình là học sinh tiêu biểu trên các lĩnh vực.
Các trường học tăng cường phối hợp hơn nữa với phụ huynh học sinh để cùng
thực hiện nhiệm vụ giáo dục. Không nên coi xã hội hóa giáo dục chỉ là đóng
góp xây dựng cơ sở vật chấttrường, lớp học; mà còn là tăng cường trao đổi
thông tin giữa gia đình và nhà trường một cách thường xuyên, liên tục.
Nhà trường luôn xác định, không chỉ chú trọng dạy kiến thức văn hóa
cho học sinh mà còn dạy các em cách sống, cách tu dưỡng, rèn luyện đạo đức
để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. Nhà trường thường xuyên
Cùng với cuộc sống nhà trường, hoạt động học tập đem đến cho trẻ nhiều điều
19
mà trước đây trẻ chưa bao giờ có được hoặc không thể tiếp cận được. Từ đó,
cùng với sự phát triển về thể chất dựa trên những thành tựu phát triển tâm lý
đã đạt được của giai đoạn trước, trẻ sẽ tạo lập nên những cái mới trong đời
sống tâm lý của mình, mà trước hết là tính chủ định, kỹ năng làm việc trí óc,
sự phản tỉnh- những cấu tạo tâm lý mới đặc trưng cho lứa tuổi này. Ngoài ra,
nhà trường và hoạt động học tập cũng đặt ra cho trẻ những đòi hỏi mới của
cuộc sống. Trẻ không chỉ phải tự lập lấy vị trí của mình trong môi trường
“trung lập về tình cảm”, mà còn phải thích ứng với những bó buộc không
tránh khỏi và chấp nhận việc một người lớn ngoài gia đình (thầy, cô giáo) sẽ
đóng vai trò hàng đầu trong cuộc sống của trẻ. Trẻ chẳng những phải có ý
thức và có thái độ trách nhiệm trong việc thực hiện các nhiệm vụ của mình,
đặc biệt là nhiệm vụ học tập và biết điều khiển hành vi của mình một cách có
chủ định, đồng thời phải có khả năng thiết lập,vận hành cùng một lúc các mối
quan hệ với các đối tượng khác nhau và mang các tính chất khác nhau. Trước
những thách thức này, trẻ dù muốn hay không cũng phải lĩnh hội các cách
thức, phương thức thích hợp hơn của hành vi và hoạt động để thỏa mãn những
yêu cầu và đòi hỏi của cuộc sống nhà trường và nhờ vậy “đẩy” được sự phát
triển của mình lên một mức cao hơn.
Tuổi tiểu học là tuổi của sự phát triển hồn nhiên bằng phương thức lĩnh
hội. Cùng với việc lĩnh hội, tiếp thu một hệ thống tri thức về các môn học, trẻ
em học cách học, học kỹ năng sống trong môi trường trường học và môi
trường xã hội. Cùng với sự ảnh hưởng khá lớn của môi trường giáo dục gia
đình và quan hệ của bạn bè cùng tuổi, cùng lớp và trường học, học sinh tiểu
học lĩnh hội các chuẩn mực quy tắc đạo đức của hành vi. Sự lĩnh hội trên tạo
ra những biến đổi cơ bản trong sự phát triển tâm lý của học sinh tiểu học.
1.3.2.1. Mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học
Giáo dục kỹ năng sống nhằm giúp cho học sinh:
21
Trang bị cho HS những kiến thức, giá trị, thái độ và kỹ năng phù hợp.
Trên cơ sở đó hình thành cho HS những hành vi, thói quen lành mạnh,
tích cực; loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan
hệ, các tình huống và hoạt động hàng ngày.
Có kỹ năng tự bảo vệ trước những vấn đề xã hội có nguy cơ ảnh hưởng
đến cuộc sống khỏe mạnh và an toàn của các em (nguy cơ bị lạm dụng tình
dục, bị dụ dỗ vào những trò chơi gây nghiện, ....); giúp phòng ngừa những
hành vi nguy cơ có hại cho sức khỏe và sự phát triển của các em.
Biết làm chủ bản thân, có khả năng thích ứng, biết cách ứng phó trước
những tình huống căng thẳng, khó khăn trong giao tiếp hằng ngày của các em.
Tạo cơ hội thuận lợi để HS thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình và
phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức.
Rèn luyện kỹ năng ứng xử thân thiện trong mọi tình huống; thói quen và
kỹ năng làm việc theo nhóm, kỹ năng hoạt động xã hội; Giáo dục cho học
sinh thói quen rèn luyện sức khỏe, ý thức tự bảo vệ bản thân, phòng ngừa tai
nạn giao thông, đuối nước và các tệ nạn xã hội. Đối với học sinh tiểu học,
việc hình thành các kỹ năng cơ bản trong học tập và sinh hoạt là vô cùng quan
trọng, ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách sau này.
1.3.2.2.
Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học
Dựa trên cơ sở phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực trạng giáo dục kỹ
năng sống ở Việt Nam những năm qua, nội dung giáo dục kỹ năng sống cơ