LUẬN VĂN
“Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động
nhập khẩu và nâng cao sức cạnh tranh hàng
hoá tại công ty thanh bình htc”
Chuyªn ®Ò thùc tËp Khoa KT &
KDQT
1
DANH MỤC BẢNG BIỂU
- Sơ đồ 1: Bộ máy tổ chức của công ty Thanh Bình HTC.
- Bảng 1: Kim ngạch nhập khẩu của công ty( 2001- 2003).
- Bảng 2: Cơ cấu các mặt hàng nhập khẩu.
- Bảng 3: Thị trường nhập khẩu của công ty.
- Bảng 4: Thị phần của công ty theo miền ở Việt Nam.
- Bảng 5: Doanh thu của Hai công ty.
mặt hàng chúng ta phụ thuộc quá nhiều vào thị trường nước ngoài. Như
mặt hàng sắt thép nhập khẩu vừa qua đã tăng lên gấp 1,5 lần, trước đó
khoảng một năm chúng ta vẫn còn đang ứ đọng rất nhiều thép trong các
nhà máy sản xuất thép. Với lý do này em đã quyết định chọn công ty
Thanh Bình HTC để viết chuyên đề thực tập tốt nghiệp. Công ty Thanh
Bình HTC là chuyên nhập khẩu các mặt hàng thép công nghiệp về để
phân phối và chế biến cho thị trường trong nước. Như vậy công ty vừa
hoạt động trong lĩnh vực thương mại vừa hoạt động sản xuất các sản
phẩm để tăng khả năng cạnh tranh. Do đó em đã chọn đề tài thực tập tốt
nghiệp là: “một số giải pháp hoàn thiện hoạt động nhập khẩu và
nâng cao sức cạnh tranh hàng hoá tại công ty thanh bình htc.” Em xin chân thành cám ơn các cô chú, anh chị trong công ty Thanh
Bình HTC và thầy giáo Th.s Bùi Huy Nhượng đã hướng dẫn và giúp đỡ em
hoàn thành bài viết này.
Chuyªn ®Ò thùc tËp Khoa KT &
KDQT
3
Sinh viên:
Mai Hoàng Tùng.
ngoài, mà một quốc gia tham gia nhập khẩu không thể khống chế được.
- Hoạt động nhập khẩu được tổ chức, thực hiện nhiều nhiệm vụ, nhiều
khâu khác nhau. Từ điều tra thị trường nước ngoài, lựa chọn hàng hoá nhập
khẩu, giao dịch, tiến hành đàm phán và ký kết hợp đồng, tổ chức thực hiện
hợp đồng cho đến khi nhận hàng hoá và thanh toán. Các khâu, các nhiệm
vụ phải được nghiên cứu và phân tích kỹ lưỡng để nắm bắt được những lợi
thế và đạt được kết quả mà mình mong muốn.
- Hoạt động nhập khẩu là hoạt động giao dịch buôn bán giữa những
người có quốc tịch khác nhau. Với đặc điểm thị trường rộng lớn, khó kiểm
soát, đồng tiền thanh toán là ngoại tệ đối với một nước hoặc cả hai,và các
quốc gia khác nhau khi tham gia vào hoạt động nhập khẩu phải tuân theo
những phong tục tập quán của địa phương, và các thông lệ quốc tế.
- Hoạt động nhập khẩu diễn ra trên phậm vi rất rộng cả về không gian
và thời gian. Nó có thể được tiến hành trên phạm vi lãnh thổ của một quốc
gia hoặc trên nhiều quốc gia khác trên thế giới, và có thể chỉ diễn ra trong
một thời gian ngắn hoặc có thể kéo dài hàng năm.
- Hoạt động nhập khẩu diễn ra trên moi lĩnh vực, có thể hàng hoá nhập
khẩu là hàng tiêu dùng hay là các tư liệu sản xuất, các máy móc thiết bịvà
cả công nghệ kỹ thuật cao. Nhằm mang lại lợi ích cho các quốc gia nhập
khẩu.
Chuyªn ®Ò thùc tËp Khoa KT &
KDQT
5
1.1.2. Chức năng của nhập khẩu:
- Hoạt động nhập khẩu góp phần nâng cao hiệu quả nền kinh tế quốc
dân thông qua việc trao đổi hàng hoá và dịch vụ trên cơ sở sử dụng những
khả năngvà lợi thế so sánh của phân công lao động quốc tế, năng lực của
các quốc gia trên thế giới.
được hoặc sản xuất chưa đáp ứng được nhu cầu. Hoạt động nhập khẩu có
những vai trò chủ yếu sau đây:
+ Đối với nền kinh tế thế giới:
- Thông qua hoạt động nhập khẩu các quốc gia trên thế giới có điều kiện
hiểu rõ về phong tục tập quán, văn hoá chính trị … về nhau hơn. Qua đó sẽ
góp phần đẩy nhanh quá trình hội nhập hoá nền kinh tế giữa các nước, khai
thác triệt để về lợi thế so sánh của nước mình và sử dụng các nguồn lực, tài
nguyên thiên một cách hợp lý hơn.
- Hoạt động nhập khẩu sẽ kích thích việc sản xuất và tiêu dùng trong mỗi
nước phát triển hơn. Làm cho khối lượng hàng hoá và nhu cầu trong nề
kinh tế thế giới tăng lên, từ đó mức sông của người dân được nâng cao.
- Từ hoạt động nhập khẩu sẽ giúp cho các nước kém phát triển hoặc đang
phát triển có cơ hội học hỏi được nhiều kinh nghiệm trong quản lý, tiếp thu
được các thành tựa khoa học kỹ thuật. Phục vụ cho công cuộc hiện đại hoá,
công nghiệp hoá đất nước.
- Hoạt động nhập khẩu sẽ giúp cho quá trình liên kết kinh tế giữa các quốc
gia, các khu vực được đẩy mạnh hơn. Làm cho quá trình phân công lao
động quốc tế diễm ra trên toàn thế giới. Tao uy tín cho mỗi quốc gia thành
viên được nâng cao. Các hoạt động đối ngoại khác như bảo hiểm, du lịch,
dịch vụ thương mại cũng phát triển nhanh chóng.
+ Đối với nền kinh tế VIệt Nam:
Nước ta là một nước đang phát triển do đó nhập khẩu hnàg hoá là một tất
yếu để phục vụ cho quá trình phát triển nền kinh tế, và đẩy nhanh công
cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Như vậy hoạt động nhập khẩu
có một vai trò rất to lớn đối với nền kinh tế Việt Nam:
- Nhập khẩu các thiết bị xây dựng sẽ giúp cho quá trình xây dựng cơ sở
vật chất kỹ thuật được rút ngắn thời gian và công sức. Tạo điều kiện phát
Chuyªn ®Ò thùc tËp Khoa KT &
KDQT
KDQT
8
luôn phải học hỏi kinh nghiệm, nâng cao nghiệp vụ… Điều đó lam,f nâng
cao năng lực chuyên môn của các thành viên trong doanh nghiệp.
- Hoạt động nhập khẩu hàng hoá có vai trò làm tăng thế lực và uy tín của
công ty cả ở thị trường trong nước và thị trường quốc tế. Lợi nhuận do kinh
doanh đem lại cho phép công ty xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, mở rộng
các lĩnh vực kinh doanh cả về chiều sâu lẫn chiều rộng, góp phần giải quyết
công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao đòi sống cán bộ công nhân
viên, góp phần giải quyết vấn đề bức xúc của xã hội, cải thiện và phát triển
mối quan hệ trong kinh doanh.
- Hoạt động nhập khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp liên kết giữa
các chủ thể trong và ngoài nước một cách tự giác, xuaqát phát từ lợi ích
cuảe cả hai bên, tạo ra sức mạnh chủ thể trong doanh nghiệp một cách thiết
thực.
Như vậy nhập khẩu có ý nghiã quan trọng đối với sự phát triển của một
quốc gia, nó tồn tại như là một nhu cầu cần thiết
1.2. Các hình thức của hoạt động nhập khẩu.
1.2.1. Nhập khẩu thông thường(nhập khẩu trực tiếp).
Khái niệm: Hoạt động nhập khẩu trực tiếp là hình thức nhập khẩu độc
lập của một doanh nghiệp thực hiện nhập khẩu trực tiếp các hàng hoá dịch
vụ mà không qua tổ chức trung giam nào.
Đặc điểm:
- Doanh nghiệp phải chịu mọi chi phí và rủi ro, trách nhiệm pháp lý về
hoạt động nhập khẩu hàng hoá đó.
- doanh nghiệp phải chịu mọi nghĩa vụ về thuế liên quan đến hàng hoá
nhập khẩu về.
- Hình thức này có ưu điểm là lợi nhuận thu dược cao hơn nhiều so
- Hình thức nhập khẩu uỷ thác có ưu điểm là mức độ rủi ro thấ, trách
nhiệm ít, người đứng ra nhập khẩu phải chịu tránh nhiệm cuối cùng, không
cần bỏ vốn, nhận tiền phí uỷ thác nhanh và ít thủ tục. Nhưng phí uỷ thác
không cao.
Quy định của chính phủ Việt Nam về nhập khẩu uỷ thác:
Chuyªn ®Ò thùc tËp Khoa KT &
KDQT
10
- Doanh nghiệp có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc mã số
doanh nghiệp nhập khẩu được uỷ thác nhập khẩu hàng hoá phù hợp với nội
dung của giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
- việc uỷ thác nhập khẩu và việc nhận uỷ thác nhập khẩu các mặt hàng
nhập khẩu phải có điều kiện do bộ thương mại hướng dẫn cụ thể.
- Nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên uỷ thác nhập khẩu và bên nhận
uỷ thác nhập khẩu do các bên tham gia kí kết thoả thuận.
1.2.3. Nhập khẩu liên doanh.
Khái niệm: nhập khẩu liên doanh là hoạt động nhập khẩu hàng hoá
trên cơ sở liên kết kinh tế một cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp nhằm
phối hợp kỹ năng để giao dịch và đề ra chủ trương, biện pháp có liên quan
đến hoạt động nhập khẩu,thúc đẩy hoạt động này phát triển theo hướng có
lợi nhất cho hai bên theo nguyên tắc lãi cung chia lỗ cùng chịu.
Đặc điểm:
- So với nhập khẩu thông thường thì nhập khẩu liên doanh giúp cho
doanh nghiệp chịu ít rủi ro hơn vì mỗi doanh nghiệp nhập khẩu chỉ phải
góp một phần vốn nhất định, quyền hạn và nghĩa vụ của mỗi bên cũng tăng
lên theovốn góp. Việc phân chi chi phí các loại thuế theo tỷ lệ góp vốn, lỗ
lãi tuỳ theo hai bên phân chia.
- Trong nhập khẩu liên doanh thì doanh nghiệp đứng ra nhập hàng về
sẽ được tính kim nghạch nhập khẩu nhưng hki dưa hàng về tiêu thụ thì chỉ
khác nhằm thu được lợi nhuận cao hơn, những hàng nhập khẩu này không
qua chế biến ở nước tái xuất. Nhưvậy nhập khẩu tái xuất luôn thu hút ba
nước tham gia đó là nước xuất khẩu, nước nhập khẩu và nước tái xuất.
Đặc điểm:
- Doanh nghiệp tái xuất phải thực hiện hai hợp đồng là mmọt hợp
đồng nhập khẩu và một hợp đồng xuất khẩu.
- Doanh nghiệp nhập khẩu tái xuất được tính kim ngạnh xuất khẩu và
nhập khẩu doanh số bán tínhtrên giá trị hàng xuất khẩu và phải chịu tuế
doanh thu.
- Hàng hóa nhập khẩu không nhất thiết phải qua nước tái xuất mà có
thể chuyểnthẳng sang nước thứ ba nhưng trả tiền phải luôn là nước tái xuất
Chuyªn ®Ò thùc tËp Khoa KT &
KDQT
12
thu tiền từ nước nhập khẩu và trả cho nước xuất khẩu. Nhiều khi người tái
xuất còn thu được lợi nhuận từ việc tiền hàngthu nhanh trả chậm.
1.2.6. Nhập khẩu theo đơn nhập hàng
Khái niệm: nhập khẩu theo đơn đặt hàng là hình thức đơn vị ngoại
thương chịu mọi chi phí và rủi ro để nhập khẩu hàng hóa cho đơn vị đặt
hàng trên cơ sở đơn đặt hàng của đơn vị đặt hàng có nghĩa vụ nhận hàng và
trả tiền.
Đặc điểm:
- Đơn vị ngoại thương phải kí kết hợp đồng với đối tác nước ngoài
theo đúng đơn đặt hàng về tên hàng, số lượng,quy cách, chất lượng và điều
kiện, thời gian giao hàng.
- Đối với hình thức này phương thức thanh toán thường áp dụng là:
nhờ thu có chấp nhận, có cải tiến.
Với các hình thức nhập khẩu đa dạng như trên việc pá dụn hình thức nào
cho hợp lý còn phụ thuộc vào bản thân doanh nghiệp nhập khẩu, nhu cầu
mức độ cạnh tranh rất khốc liệt và liên tục gia tăng.
- Phân loại cạnh tranh.
+ Căn cứ vào mức độ tính chất cạnh tranh trên thị trường:
Cạnh tranh hoàn hảo: là có nhiều người mua ngươì bán độc lập với
nhau sản phẩm là đồng nhất. Doanh nghiệp định giá cao hơn thì không
bán được bất cứ thứ gì vì người mua sẽ mua của người khác. Vì thế doanh
nghiệp cạnh tranh hoàn hỏa không có sức mạnh thị trường, tức là không
có khả năng kiểm soát thị trường đối với sản phẩm của mình bán ra. Sản
lượng của doanh nghiệp là nhỏ so với cung của thị trường vì thế doanh
nghiệp không có ảnh hưởng đáng kể đến tổng sản lượng, giá trên thị
trường trong cạnhtỷanh hoàn hảo không có cạnh tranh giá cả.
Cạnh tranh độc quyền chỉ có một người mua và một người bán duy
nhất, sản phẩm là độc nhất, chính sách của doanh nghiệp trong cạnh tranh
độc quyền và định giá cao là sản lượng sản xuất ra ít. Tuy nhiên, không có
nghĩa là nhà độc quyền có thểư định giá bao nhiêu cũng được. Tuy nhiên,
tùy theo đặc điểm tiêu dùng của sản phẩm và cơ chế quản lý của nhà nước
mà độc quyền có thể định giá cao hay thấp để cuối cùng có thể thu được lợi
Chuyªn ®Ò thùc tËp Khoa KT &
KDQT
14
nhuận tối đa. Các nhà độc quyền cũng dùng hình thức cạnh tranh phi giá để
thu hút khách hàng.
Độc quyền tập đoàn: Sản phẩm có thể giống hoặc khác nhau và chỉ
có một số doanh nghiệp sản xuất toàn bộ hoặc hầu hết sản lượng. Tính phụ
thuộc giữa các doanh nghiệp là lớn, hành vi của doanh nghiệp này ảnh
hưởng đến hành vi của doanh nghiệp khác. Nừu một doanh nghiệp giảm
giá sẽ dẫn tới tình trạng phá giá, do đó các doanh nghiệp dễ cấu kết với
nhau. Vì cạnh tranh bằng giá không có lợi nên người ta chuyển sang cạnh
tranh bằng chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa sản phẩm.
Cạnh tranh giữa người mua với nhau: Cạnh tranh xảy ra trên cơ sở
tranh mua khi cung nhỏ hơn cầu. Do hàng hóa trên thị trường khan hiếm
nên người mua sẵn sàng chấp nhận giá cao để mua được hàng hóa mà họ
cần.
- Vai trò của cạnh tranh.
Mỗi một doanh nghiệp không thể lẩn tránh được cạnh tranh vì như
vậy là cầm chắc phá sản, phải chấp nhận cạnh tranh, đón trước cạnh tranh
và sẵn sàng linh hoạt sử dụng các công cụ cạnh tranh hữu hiệu của mình.
Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải:
Tối ưu hóa các yếu tố đầu vào cảu sản xuất kinh doanh.
Không ngừng áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh
doanh.
Nhanh chóng tiếp cận với cơ hội kinh doanh mới
Không ngừng phục vụ tốt hơn nhu cầu của ngưiơù tiêu dùng cuối
cùng.
Cạnh tranh làm cho giá cả phục vụ giảm xuống nhưng chất lượng lại
được nâng cao nên kích thích sức mua, làm tăng tốc độ tăng trưeởng của
nền kinh tế.
Tòm lại, cạnh tranh là sự vươn lên mạnh m,ẽ của nhà sản xuất để sản
xuất một cách dễ dàng các loại sản phẩm hàng hóa, chiếm lĩnh mỏe rộng
thị trường và thu được lợi nhuận cao. Cạnh tranh làm cho nền kinh tế sản
xuất phát triển, là điều kiện quan trọng để phát triển sản xuất tiến bộ khoa
Chuyªn ®Ò thùc tËp Khoa KT &
KDQT
16
học kỹ thuât, giáo dục tính năng độngtháo vát cho các nhà sản xuất kinh
doanh. Cạnh tranh là cho các doanh nghiệp không ngừng nâng cao chất
lượng sản phẩm và ngày càng cải tiến cách thức sản xuất để đem lại lợi
nhuận tối đa nhưng bên cạnh đó vẫn còn có những vấn đề còn tồn tại cần
nhuận thu được sẽ tăng. Ngược lại với một mức giá thấp hơn thị trường sẽ
thu hút được nhiều khác hàng và tăng sản lượng tiêu thụ, doanh nghiệp sẽ
có cơ hội thâm nhập thị trường và chiếm lĩnh thị trường mới. Mức giá
doanh nghiệp áp đặt cao hơn mức giá thị trường chỉ sử dụng được khi các
doanh nghiệp có tính độc quyền, điều này sẽ giúp doanh nghiệp thu được
lợi nhuận siêu ngạch.
Để chiếm lĩnh được ưu thế trong cạnh tranh doanh nghiệp cần phải
có sự lựa chọn các chính sách giá thích hợp cho từng loại sản phẩm, từng
thời kỳ trong chu kỳ sản phẩm hay tùy thuộc đặc điểm của thị trường
+ Chất lượng sản phẩm: Khi thu nhập trong đời sống dân cư ngày
càng cao thì cạnh tranh bằng giá xem như không hiệu quả. Chất lượng của
sản phẩm và dịch vụ sẽ là mối quan tâm, của khách hàng nên nếu như hàng
hóa có chất lượng thấp thì dù có bán rẻ cũng không thể tiêu thụ được. Để
nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ doanh nghiệp không
còn cách nào khác là phải nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ. Chất
lượng được thể hiện qua nhiều yếu tố, nếu doanh nghiệp không đủ điều
kiện phát triển mọi yếu tố chất lượng thì vẫn có thể đi sâu khai thác thế
mạnh một hoặc một số yếu tố nào đó.
Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của khách hàng và kỹ thuật
cúng như sự bành chướng của các công ty đa quốc gia thì vấn đề canỵh
tranh bằng chất lượng càng trở nên gay gắt, Khi các sản phẩm đưa ra thị
trường đều đảm bảo chất lượng cao. Chính vì vậy, đối với các quốc gia có
trình độ sản xuất còn nhiều hạn chế sẽ rất khó có khả năng canh tranh trên
thị trường quốc tế.
+ Dịch vụ khách hàng: Ngoài cạnh tranh bằng giá cả, chất lượng
thì trên thực tế doanh còn phải cạnh tranh với nhau bằng dịch vụ. Đây là
công cụ cạnh tranh hết sức phổ biến, đó có thể là:
Chuyªn ®Ò thùc tËp Khoa KT &
KDQT
KDQT
19
Kênh gián tiếp dài: người sản xuất- người bán buôn- người bán lẻ-
người tiêu dùng cuối cùng.
Việc lựa chọn kênh phân phối phải dựa vào đặc điểm sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp cũng như đặc điểm kinh tế kỹ thuất của sản phẩm cần
tiêu thụ, đặc điểm về khoảng cách với thị trường, địa hình, hệ thống thông
tin của thị trường và khả năng tiêu thụ của thị trường. Từ việc phân tích các
đặc điểm trên doanh nghiệp sẽ lựa chọn cho mình một hệ thống kênh phân
phối hợp lý đạt hiệu quả cao.
- Các đối thủ cạnh tranh.
Để có thể tồn tại và phát triển được trên thương trường thì các doanh
nghiệp buộc phải nghiên cưu đối thủ cạnh tranh của mình để từ đó tìm ra
được điểm mạn điểm yếu và tìm ra những biện pháp khắc phục nhược điểm
của mình. Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh dưới 2 góc độ:
+ Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh dưới góc độ ngành kinh doanh:
Đối thủ cạnh tranh được xác định là những doanh nghiệp sản xuất cùng
một loại sản phẩm giống nhau hoặc cung cấp cùng một loại dịch vụ giống
nhau. Những đối thủ cạnh tranh trong một ngành sản xuất hoặc cung cấp
hàng hóa, dịch vụ giống nhau hoặc rất giống nhau. Hơn thế nữa những
ngành này hoặc ngành khác có thể được mô tả theo số người bán và tiêu
chuẩn sản phẩm. Lượng người bán và mức độ khác biệt của sản phẩm, dich
vụ sẽ ảnh hưởng đến cường độ cạnh tranh của ngành.
+ Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh dưới góc độ nhóm chiến lược:
Trong một ngành có thể thấy ít nhất hoặc một số nhóm chiến lược phụ
thuộc và những yếu tố chiến lược nào là quan trọng đối với những nhóm
khách hàng khác nhau. Ví dụ hai nhóm yêu tố chiến lược thường được
dùng để phân nhóm các đối thủ cạnh tranh là giá cả và chất lượng bởi vì
chúng rất quan trọng đối với khách hàng. Các đối thủ cạnh tranh có thể
số của sản phẩm nhờ đó mà sản phẩm có được sự ưu việt, sự vượt trội hơn
so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh trực tiếp. Ưu thế cạnh tranh của
hàng hóa thể hiện ở sự phân biệt hóa sản phẩm.
Để đánh giá được một sản phẩm có sức cạnh tranh mạnh hay
không thì cần phải dựa vào một số công cụ sau:
Chuyªn ®Ò thùc tËp Khoa KT &
KDQT
21
` Giá thành sản phẩm và lợi thế về chi phí.
` Chất lượng sản phẩm và khả năng đảm bảo nâng cao chất lượng
sản phẩm của doanh nghiệp.
` Các dịch vụ đi kèm theo sản phẩm.
- Các chỉ tiêu đánh giá sức cạnh tranh.
+ Các chỉ tiêu định tính:
` Sản phẩm và cơ cấu sản phẩm:
Sản phẩm của công ty thể hiện sức cạnh tranh ở chỗ nó được khách
hàng đánh giá như thế nào trên thị trường, tốt hay xấu, xu hướng tiêu dùng
đối với sản phẩm đó dài lâu hay không. Nừu khách hàng đánh giá sản phẩm
đó là tốt và có nhu cầu tiêu dùng trong thời gian dài thì chứng tỏ sức cạnh
tranh của sản phẩm đó là tốt.
Cơ cấu sản phẩm của công ty thể hiện sức cạnh tranh ở chỗ sản
phẩm có đa dạng, phong phú về chủng koại hay không? Nếu sản phẩm
phong phú và đa dạng thì khả năng cạnh tranh cao hơn nuững sản phẩm
yếu kém hơn về cơ cấu.
Như vậy, dựa vào sản phẩm và cơ cấu của sản phẩm của công ty
chúng ta biết được phần nào tình hình kinh doanh của công ty và biết được
khả năng cạnh tranh về sản phẩm của công ty ở mức độ nào. Vì vậy, các
doanh nghiệp cần phải thay đổi sản phẩm và cơ cấu sản phẩm của mình
một cách thích hợp theo nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng để năng cao
Như vậy, sản phẩm và xác định cơ cấu sản phẩm là một trong những
yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
` Chất lượng của sản phẩm:
Chất lượng của sản phẩm cũng là một chỉ tiêu định tính phản ánh
sức cạnh tranh của sản phẩm. Nếu chất lượng của sản phẩm là tốt chứng tỏ
sức cạnh tranh của sản phẩm là cao và ngược lại, chất lượng của snả phẩm
xấu thì sức cạnh tranh của sản phẩm thấp. Như vậy, việc doanh nghiệp
nâng cao chất lượng sản phẩm đồng nghĩa với việc nâng cao sức cạnh tranh
của sản phẩm.
Chất lượng sản phẩm là hệ thống nội tại của sản phẩm được xác dịnh
bắng các thông số có thể đo được hoặc so sánh được thoả mãn các diều
Chuyªn ®Ò thùc tËp Khoa KT &
KDQT
23
kiện kỹ thuật và các yêu cầu nhất định của người tiêu dùng và xã hội. Chất
lượng sản phẩm được hình thành từ khâu thiết kế tới tổ chức sản xuất và
ngay cả sau khi tiêu thụ hàng hoá và chịu tác động của nhiều yếu tố: công
nghệ, dây chuyền sản xuất, nguyên vật liệu, trình đọ tay nghề lao động,
trình độ quản lý.
Chất lượng sản phẩm là một vấn đề sống còn đối với một doanh
nghiệp. Một khi chất lượng sản phẩm không được đảm bảo thì cũng có
nghĩa là doanh nghiệp bị mât khách hàng, mất thị trường và nhanh chóng đi
đến chỗ suy yếu và bị phá sản.
Hiện nay, nền kinh tế ngày càng phát triển, một quan niệm mới về
chất lượng đã xuất hiện: Chất lượng sản phẩm không chỉ là tốt, bền, đẹp mà
nó ccòn do khách hàng quyết định. Quản lý chất lượng sản phẩm là yếu tố
chủ quan còn sự đánh giá của kháchhàng mang tính khách quan. Đây là
một quan niệm mới xuất phát từ thực tế là mức độ cạnh tranh trên thị
trường ngày càng trở nên quyết liệt hơn.
và giữ vững thị trường, chống sự lôi kéo khách hàng của đối thủ cạnh
tranh, và hình ảnh của doanh nghiệp là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá
sức cạnh tranh của sẩnhẩm doanh nghiệp. Hình ảnh của doanh nghiệp tốt sẽ
đồng nghĩa với sản phẩm của doanh nghiệp có chất lượng tốt và giá cả vừa
phải, thoả mãn tốt nhu cầu của khách hàng.
+ Chỉ tiêu định lượng:
` Thị phần của doanh nghiệp:
*Thị trường của công ty so với toàn bộ thị trường
Công thức tính:
Thị phần của công ty Doanh thu của công ty .100%
=
So với toàn bộ thị trường Doanh thu toàn bộ thị trường
Ý nghĩa kinh tế: Thị phần này cho ta biết khả năng chấp nhận của thị
trường với mặt hàng doanh nghiệp đang sản suất kinh doanh như thế nào?
Thị phần lớn hơn chứng tỏ nó được khách hàng ưa chuộng và đáng giá cao
hơn so với đối thủ cạnh tranh. Những doanh nghiệp có thị phần lớn ở mặt
hàng nào đó là những doanh nghiệp có công nghệ tiên tiến để sản xuất mặt