1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ HƯỜNG
ĐỐI SÁNH CÁI “KỲ” TRONG TRUYỀN KỲ MẠN LỤC
VÀ TRONG TIỄN ĐĂNG TÂN THOẠI
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
TS. PHẠM TUẤN VŨ
NGHỆ AN - 2012
2
MỤC LỤC
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Từ xưa đã có nhiều ý kiến chỉ ra mối liên hệ giữa Truyền kỳ mạn
lục của Nguyễn Dữ, nhà văn Việt Nam thế kỷ XVI và Tiễn đăng tân thoại
truyện truyền kỳ đích thực. Nghiên cứu cái “kỳ” ở Truyền kỳ mạn lục trong
sự đối sánh với cái “kỳ” trong Tiễn đăng tân thoại sẽ có thêm cơ sở nhận
thức sự tiếp thụ và sáng tạo của Nguyễn Dữ và biết thêm về thuộc tính thể
loại.
1.4. Trong chương trình Ngữ văn ở trường phổ thông hiện hành có
dạy học các truyện truyền kỳ: Con hổ có nghĩa, Chuyện người con gái Nam
Xương, Chuyện chức phán sự đền Tản Viên, Dế chọi. Các truyện này đều
sử dụng cái “kỳ”, qua đó nhà văn muốn chuyển tải chủ đề tư tưởng của
mình tới độc giả. Nghiên cứu đề tài này còn góp phần dạy học tốt hơn các
truyện truyền kỳ trên.
2. Lịch sử nghiên cứu
Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu và Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn
Dữ là các tác phẩm văn xuôi tự sự có vị trí quan trọng trong văn học
Trung Quốc và Việt Nam thời trung đại. Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu
làm cho thể loại truyền kỳ Trung Quốc hưng thịnh trở lại. Truyền kỳ mạn
lục của Nguyễn Dữ được đánh giá là một áng “thiên cổ kỳ bút” (Vũ
Khâm Lân), là đỉnh cao của truyện truyền kỳ Việt Nam. Điều này giải
thích vì sao cả hai tác phẩm này trở thành đối tượng nghiên cứu hấp dẫn
đối với các nhà nghiên cứu văn học. Đặc biệt vấn đề so sánh giữa hai tác
phẩm nói chung và so sánh về yếu tố “kỳ” nói riêng đã được giới nghiên
cứu trong và ngoài nước quan tâm và đạt được những thành tựu đáng kể.
Trong luận văn này, chúng tôi chỉ điểm qua một số ý kiến liên quan đến
đề tài nghiên cứu.
Ngay từ khi mới ra đời, Truyền kỳ mạn lục đã gây được sự chú ý cho
giới nghiên cứu. Trước hết phải kể đến ý kiến của Hà Thiện Hán trong lời
Tựa Truyền kỳ mạn lục viết năm Vĩnh Định sơ niên (1547): “Xem văn từ
3
của sách thấy không ra ngoài phên dậu của Tông Cát” [29, 7-8]. Tiếp
4
Tạp chí Văn học, số 3/1987: “Về nội dung, những câu chuyện của Cù
Hựu là “tư liệu” đặc biệt để Nguyễn Dữ sáng tạo ra thế giới truyện quỷ
thần của mình”.
Đặc biệt công trình nghiên cứu của giáo sư người Đài Loan Trần Ích
Nguyên với quan điểm “Nghiên cứu so sánh Tiễn đăng tân thoại và Truyền
kỳ mạn lục là một việc không thể xem nhẹ trong nghiên cứu văn học Đông
Á” thực sự có nhiều cống hiến trong việc nghiên cứu so sánh hai tác phẩm.
Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu mối quan hệ giữa Tiễn đăng tân
thoại và Truyền kỳ mạn lục về nguồn gốc, mục đích sáng tác, nội hàm tư
tưởng và kỹ xảo nghệ thuật. Công trình đã gợi ý nhiều hướng tiếp cận mới
đối với hai tác phẩm.
Điểm qua tình hình nghiên cứu so sánh giữa Tiễn đăng tân thoại và
Truyền kỳ mạn lục, chúng tôi thấy mặc dù giới nghiên cứu đã có đề cập đến
vai trò quan trọng của yếu tố “kỳ” ở hai tác phẩm và có sự so sánh ở một số
phương diện nhưng chưa được trình bày một cách hệ thống. Kế thừa các
nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi đi sâu tìm hiểu việc sử dụng cái “kỳ” ở
hai tác phẩm trong cái nhìn đối sánh, nhằm mở ra một hướng tiếp cận và
giúp cho việc dạy học một số tác phẩm thuộc thể loại truyền kỳ trong
chương trình phổ thông tốt hơn.
3. Mục đích nghiên cứu
3.1. Chỉ ra sự tương đồng cơ bản, sự khác biệt cơ bản hoặc vừa khác
biệt vừa tương đồng về cái “kỳ” của các cặp truyện trong Truyền kỳ mạn
lục và Tiễn đăng tân thoại.
3.2. Lý giải những điều đó từ những yếu tố chủ quan và khách quan
(khát vọng và tài năng sáng tạo của Nguyễn Dữ; những quan hệ phổ quát
thời trung đại; quan hệ văn học Việt - Trung vừa phổ quát vừa cá biệt thời
trung đại…).
3.3. Nhận thức giá trị của những sự tương đồng, sự khác biệt hoặc vừa
tương đồng vừa khác biệt đó ở truyện của Nguyễn Dữ.
Việt Nam trung đại là ảnh hưởng của một nền văn học lâu đời có vai trò
kiến tạo vùng đối với một nền văn học trẻ tuổi ở gần. Ngoài ra, những nhân
tố phi văn học như sự tương đồng lớn về hình thái kinh tế xã hội, sự ảnh
hưởng của đời sống chính trị các triều đại phong kiến Trung Quốc đối với
phong kiến Việt Nam, việc chịu ảnh hưởng của văn minh Khổng giáo và sự
tương đồng về chế độ thi cử… góp phần làm cho văn học Việt Nam trung
đại chịu ảnh hưởng lâu dài, phổ biến, trên nhiều phương diện của văn học
cổ - trung đại Trung Quốc.
Trong cuốn Nghiên cứu so sánh Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn
lục, Trần Ích Nguyên đã dẫn ý kiến của GS. Lã Sĩ Bằng trong công trình
Văn hóa Trung Quốc và văn hóa Việt Nam như sau: “Quan hệ Trung - Việt
hơn hai nghìn năm qua do hai đại dân tộc Trung - Việt có hơn một nửa thời
gian sống chung dưới một tổ chức chính trị, có non một nửa thời gian duy
trì quan hệ phụ thuộc trên danh nghĩa, cho nên về phương diện lịch sử,
chính trị hơn một nghìn năm trước đã không có cách nào tách rời, thì một
nghìn năm sau quan hệ càng mật thiết. Còn như về lịch sử văn hóa, bởi hai
đại dân tộc Trung - Việt trước sau đều sinh hoạt trong cùng một hệ thống
văn hóa, hình thành chi gốc và chi nhánh của văn hóa nho gia, truyền thống
tinh thần xuất phát từ một nguồn, cho nên chúng ta có thể nói “văn hóa
Việt Nam có phần nào đấy là hình ảnh thu nhỏ của văn hóa Trung Hoa”.
Đến như sự dung hợp huyết thống, sự phát triển hay không của kinh tế, sự
tương ứng bề trong và bề ngoài về lịch sử, nỗi buồn vui vinh nhục giữa hai
7
đại dân tộc Trung - Việt đều nhất nhất nhằng nhịt với nhau khó mà phân
chia, thực không thể nói hết được như ý muốn” [49, 18].
Hiển nhiên là sự tổng quan này không thể thay thế cho việc nghiên
cứu những quan hệ cụ thể cá biệt, mà ngược lại càng thôi thúc những mối
quan tâm, vì rằng văn chương thực sự bao giờ cũng là những giá trị ra đời
niệm của người Việt Nam trung đại là vừa tiếp thu có chọn lọc những
tinh hoa văn hóa, văn học Trung Quốc vừa có những sáng tạo, cách tân
để phù hợp với tâm tư, tình cảm và đời sống hiện thực của con người
Việt Nam. Dấu ấn văn hóa, văn học Trung Quốc thể hiện đậm nét trong
văn học trung đại Việt Nam. Ngược lại, văn hóa, văn học Việt Nam đã
có những sáng tạo mới, góp phần phát triển và làm phong phú thêm nội
dung của văn hóa, văn học Trung Quốc.
1.2. Truyện truyền kỳ
Truyền kỳ là một loại truyện ngắn, có nguồn gốc từ Trung Hoa, dùng
yếu tố kỳ ảo làm phương thức nghệ thuật để phản ánh cuộc sống. Đây là
một thể loại văn xuôi tự sự độc đáo, có sức sống mãnh liệt và lan tỏa ở
nhiều quốc gia như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam…
Truyền kỳ là truyền đi một sự kỳ lạ. Vì vậy hạt nhân cơ bản của thể
loại này là “kỳ”. Nó chính là phương thức tư duy nghệ thuật kiểu phương
Đông để tạo nên những “kì văn”. Theo GS. Đào Duy Anh, “truyền kỳ là
sao chép sự kỳ quái”. Lăng Văn Hàn cho rằng, đó là thể loại “thuật kỳ ký
dị” (thuật điều lỳ lạ, ghi sự khác thường). Theo Khổng Thượng Nhậm (đời
Thanh), “Truyền kỳ là truyền những tình tiết khác lạ, tình tiết không ly kỳ
thì không truyền”. Các tác giả cuốn Từ điển văn học (bộ mới) đã giới
thuyết về truyện truyền kỳ khá rõ ràng và chi tiết. Đó là “một hình thức văn
xuôi tự sự cổ điển Trung Quốc, vốn bắt nguồn từ truyện kể dân gian, sau
được các nhà văn nâng lên thành bác học, sử dụng môtíp kỳ quái hoang
đường, lồng trong một cốt truyện có ý nghĩa trần thế, nhằm gợi hứng thú
cho người đọc” [25, 1730].
Những định nghĩa trên đều nhấn mạnh hai đặc điểm nổi bật ở truyện
truyền kỳ đó là hình thức văn xuôi tự sự và việc tham gia của yếu tố kỳ ảo,
9
môtíp kỳ quái, hoang đường, không có thực. Sự có mặt một cách tương đối
khác như Đào Phụ, Sái Vũ, Vương Hiến Định (1598 - 1662), Ngụy Hy
(1624 - 1681), Lý Thanh (1602 - 1681)...
Truyện kỳ ảo Trung Quốc, đặc biệt giai đoạn truyền kỳ, chí dị có ảnh
hưởng hết sức rộng lớn đến các nước chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán. Tác
phẩm Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu có sức lan tỏa rộng nhất, mạnh nhất,
thúc đẩy sự ra đời các tập truyện truyền kỳ ở ba nước châu Á như Kim
Ngao tân thoại của Kim Thời Tập (1435 - 1493, Triều Tiên), Truyền kỳ
mạn lục của Nguyễn Dữ (đầu thế kỷ XVI, Việt Nam), Gia tỳ tử của Asai
Ryohi (1612 - 1691, Nhật Bản). Nó tạo thành một thể loại văn cổ điển phổ
biến mang đặc trưng cho truyện ngắn phương Đông. Có khi cùng một cốt
truyện, một đề tài, các nhà văn ở các nước đã tạo nên những tác phẩm
truyền kỳ khác nhau, với những sắc thái tâm lý, phong tục, địa danh riêng
biệt của mỗi nước. Đó chính là giá trị văn hóa mà thể loại truyền kỳ đóng
góp vào văn hóa nhân loại.
Truyện truyền kỳ Việt Nam vốn có nguồn gốc từ thể loại truyện kỳ ảo
Trung Quốc cổ trung đại nhưng có quá trình phát triển nội sinh gắn liền với
nền văn hóa và văn học dân tộc, đặc biệt là với văn học dân gian và văn
xuôi lịch sử. Văn hóa dân tộc như cái nôi nuôi dưỡng truyện truyền kỳ Việt
Nam trong suốt quá trình hình thành, phát triển và cũng chính nền văn hóa
dân tộc, đặc biệt là văn học dân gian đã giúp cho thể loại truyện này ở Việt
Nam khác với truyện truyền kỳ các nước đồng văn trong khu vực. Truyền
thống văn hóa, văn học dân tộc là một trong những nguồn gốc quan trọng
nhất của truyền kỳ Việt Nam. Tác phẩm tiêu biểu cho truyền kỳ Việt Nam
là Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ.
Như vậy, truyện truyền kỳ đã đem đến một bức tranh lạ về thế giới
hiện thực và con người bằng một phương tiện nghệ thuật riêng. Trong tiến
trình phát triển của mình, mặc dù có lúc thăng trầm nhưng truyện truyền kỳ
đã khẳng định được chỗ đứng trong hệ thống thể loại văn học để trở thành
một thể loại độc đáo và đặc sắc trong văn xuôi tự sự.
mà người đọc được đến với một không gian khác - nơi con người được
12
sống hạnh phúc hơn, công bằng hơn. Qua đó, nhà văn bộc lộ sự đồng cảm
với số phận cũng như thái độ đồng tình với những khát vọng của con
người.
Đinh Phan Cẩm Vân đã viết về vai trò của cái “kỳ” trong truyện
truyền kỳ: “Yếu tố “kỳ” tạo nên sức hấp dẫn bề nổi cho câu chuyện và
truyền kỳ như được khoác một cái áo sặc sỡ, bắt mắt. Nhưng đó là cái áo
trong tay nhà ảo thuật. Biểu hiện của cái “kỳ” còn ở tầng sâu hơn chi phối
tư duy nghệ thuật của tác giả. Nó xử lý những yếu tố không gian, thời gian,
cách xây dựng hình tượng nhân vật theo một con đường riêng, nhuốm màu
sắc kỳ ảo, thần kỳ làm nên cái đẹp nội tại cho truyền kỳ” [73, 49].
Nhận định về sự hấp dẫn cũng như sức sống bền chặt của yếu tố “kỳ”
đối với nghệ thuật văn học, Lê Nguyên Cẩn đã viết: “Yếu tố kỳ ảo có mặt
trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật của nhân loại từ rất lâu và là một hình
thức ước lệ nghệ thuật giàu khả năng tái tạo và khám phá hiện thực. Nó tạo
ra các đột biến nghệ thuật, tạo nên hiệu quả nghệ thuật - gián cách nghệ
thuật rất độc đáo, bất ngờ. Nó tham gia tạo dựng hệ thống các điểm nhìn
nghệ thuật mới, mở rộng không gian nghệ thuật của tác phẩm, dàn trải và
căng thêm chiều sâu của thời gian nghệ thuật. Việc sử dụng yếu tố kỳ ảo
như một phương thức nghệ thuật để chiếm lĩnh và tái hiện cuộc sống không
tách rời các phương tiện thể hiện nghệ thuật khác, mà chúng được đan kết,
xoắn quyện vào nhau. Từ đó gia tăng hiệu quả triết lý nghệ thuật, tạo nên
độ tin cậy và thuyết phục trong cách bình giá, nhận diện con người và cuộc
đời” [4, 218].
Như vậy, truyền kỳ đã phản ánh cuộc sống theo một cách thức
riêng. Cái cách thức riêng đó chịu sự chi phối của cái “kỳ”. “Kỳ” là quan
niệm, là cái nhìn về thế giới của truyền kỳ. Nó khiến cho câu chuyện
và chiếm ưu thế. Đây cũng chính là nguồn gốc quan trọng nhất của yếu tố
“kỳ” trong truyện truyền kỳ. Dưới góc độ thể loại, cái “kỳ” trong truyện
truyền kỳ không đơn giản chỉ là yếu tố nghệ thuật mà còn là thế giới quan
của cả một thời kỳ lịch sử dài lâu - một cách nhìn nhận thế giới. Quan niệm
về cái kỳ ảo, siêu nhiên, về thế giới tâm linh xuất phát từ cái nhìn phi nhị
14
nguyên luận trước vũ trụ của người Đông Á thời cổ trung đại. Ở đó không
có sự phân chia rạch ròi giữa trần gian và thế giới siêu nhiên, thậm chí giữa
chúng còn có sự tác động lẫn nhau một cách nhân quả. Vì vậy, việc phản
ánh mặt kỳ lạ đó chẳng phải là cái gì phi thực tế, mà đó chính là một phần
quan trọng của hiện thực.
Cái “kỳ rất thích hợp với bản chất của văn chương nói riêng và nghệ
thuật nói chung. Nó giải phóng nhận thức và cảm xúc của con người khỏi
cái hiện tồn để vươn tới những hình thái tồn tại khác.
Cái “kỳ” rất hữu dụng trong văn chương của những xã hội bất bình
đẳng. Nhờ cái “kỳ”, người ta có thể biểu thị một cách nghệ thuật những vấn
đề thiết thân của đời sống mà không bị thế lực xã hội ngăn trở. Chúng ta
đều biết đương thời nhà Thanh áp dụng chính sách ngục văn tự. Thời
Nguyễn Dữ, chính quyền chuyên chế cũng không cởi mở với văn chương,
vì vậy càng cần cái “kỳ”.
Cái “kỳ” trong truyện truyền kỳ được phát triển từ thụ động đến ý
thức. Từ cái “kỳ” còn thô phác, mộc mạc, mang tính tự phát, gần gũi với
cái siêu nhiên, kì vĩ của thần thoại và cổ tích đến cái “kỳ” được nhà văn sử
dụng một cách có ý thức như một thủ pháp nghệ thuật, như một hạt nhân tự
sự quan trọng trong kết cấu tác phẩm. Cái “kỳ” và cái thực đã có sự kết hợp
ngày càng chặt chẽ hơn trong việc phản ánh thực tại cuộc sống, điều này
khiến cho cái “kỳ” không cản trở mà ngược lại gắn bó mật thiết với cái
thực, giúp nhà văn phản ánh một cách sâu sắc hơn cuộc sống. Trong mối
Truyền kỳ mạn lục khi cáo quan về ở ẩn, dưới triều Lê.
Có thể Nguyễn Dữ đã sáng tác Truyền kỳ mạn lục trong nhiều giai
đoạn cuộc đời, nhưng chắc chắn tác phẩm đã được hoàn thiện trong thời
gian ông cáo quan về phụng dưỡng mẹ già, sau thời điểm Mạc Đăng Dung
cướp ngôi nhà Lê (1572) và sau khi đã tiếp xúc với tập truyền kỳ của nhà
văn Trung Quốc Cù Hựu (1347-1433).
Chỉ trong vòng 30 năm kể từ khi Lê Thánh Tông mất (1497) cho đến
khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê (1527) đã trải qua sự trị vì của 6 vị
vua. Lê Hiền Tông lên ngôi từ 1498 đến 1504, thọ 44 tuổi; Lê Túc Tông
16
lên ngôi chỉ gần 1 năm (1504) thọ 17 tuổi. Lê Uy Mục làm vua 5 năm
(1505 - 1509) thọ 22 tuổi; Lê Tương Dực làm vua 7 năm (1510 – 1516),
thọ 24 tuổi; Lê Chiêu Tông làm vua 7 năm (1516 - 1522) thọ 26 tuổi; Lê
Cung Hoàng làm vua 6 năm (1522 - 1527) thọ 21 tuổi. Đây là thời kỳ mà
sử gọi là “vua quỷ” và “vua lợn”, là những triều đại lịch sử rối ren, thối nát,
tàn bạo và đi ngược lại quyền lợi của con người. Những cảnh chém giết,
đọa đày nhân dân thường xuyên đập vào mắt Nguyễn Dữ, khiến ông càng
thêm cô đơn bất bình, cảm thấy mình như kẻ bất tài vô dụng. Nguyễn Dữ
đã bỏ lại sau lưng mình một xã hội đầy rẫy những mục rỗng ở chốn quan
trường, đời sống dân chúng thảm hại và tìm đến một thế giới khác sáng tác
để ký thác tâm sự thời thế và tìm tri âm. Đây chính là hoàn cảnh xã hội
khiến ông cầm bút. Đúng như cổ nhân đã nói: “Vạn bất bình mà kêu”. Nhà
nghiên cứu Xô viết Mirian Tkatsov khi giới thiệu tác phẩm này ở Liên Xô
đã viết: “Nguyễn Dữ đã suy nghĩ có tính chất phạm trù về thời đại mình”.
Truyền kỳ mạn lục gồm 20 truyện, chia làm 4 quyển. Truyện được viết
bằng văn xuôi Hán có xen những bài thơ, ca, từ, biền văn. Hầu hết các
truyện xảy ra ở đời Lý, đời Trần, đời Hồ hoặc đời Lê sơ từ Nghệ An trở ra
Bắc. Trừ truyện 19 Kim Hoa thi thoại ký (Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa)
Truyền kỳ mạn lục có giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc. Tác
phẩm một mặt vạch trần những tệ nạn của chế độ phong kiến, mặt khác đề
cao phẩm giá của con người, đồng tình với những khát vọng chân chính
cũng như bày tỏ niềm cảm thông, chia sẻ trước nỗi đau khổ của nhân dân.
Đặc biệt là của những người phụ nữ phải chịu nhiều bất công, thiệt thòi
trong xã hội phong kiến.
PGS. TS. Trần Thị Băng Thanh khi giới thiệu sơ lược về giá trị nội
dung của Truyền kỳ mạn lục trong Lời tựa như sau: “Thông qua các nhân
vật thần tiên, ma quái, tinh loài vật, cây cỏ… tác phẩm muốn gửi gắm ý
tưởng phê phán nền chính sự rối loạn, không còn kỷ cương trật tự, vua chúa
hôn ám, bề tôi thoán đoạt, bọn gian hiểm nịnh hót đầy triều đình; những kẻ
quan cao chức trọng thả sức vơ vét của cải, sách nhiễu dân lành, thậm chí
đến chiếm đoạt vợ người, bức hại chồng người. Trong một xã hội rối ren
18
như thế, nhiều tệ nạn thế tất sẽ nảy sinh. Cờ bạc, trộm cắp, tật dịch, ma quỷ
hoành hành, đến Hộ pháp, Long thần cũng trở thành yêu quái, sư sãi, học
trò, thương nhân, nhiều kẻ đắm chìm trong sắc dục” [66, 6].
Bên cạnh đó, Truyền kỳ mạn lục còn là tác phẩm có nhiều đặc sắc
nghệ thuật. Trong tác phẩm có một số truyện phóng tác nhưng phần tưởng
tượng, hư cấu, sáng tạo của tác giả rất đáng kể. Hình tượng nhân vật trong
tác phẩm của ông đã trở thành những con người có số phận, tính cách riêng
và hết sức đa dạng, phong phú.
Trong lời giới thiệu Truyền kỳ mạn lục (được Trúc Khê Ngô Văn Triện
dịch ra quốc ngữ in năm 1941), Bùi Kỷ viết: “Nguyễn Dữ học rất rộng, lại
có tài viết văn dùng nhiều điển tích. Lối viết nào cũng hay, về phần uyên
bác có thể ngang với Bồ Tùng Linh, về phần vận dụng các văn thể vượt hơn
Đặng Trần Côn…”.
Bùi Duy Tân khi đánh giá về nghệ thuật của Truyền kỳ mạn lục đã
thuật nhất định, đặc biệt là mấy thiên viết về tình yêu như Thúy Thúy
truyện, Ái Khanh truyện đã phản ánh được nỗi bất hạnh, nhà cửa tan nát, vợ
con chia lìa của nhân dân trong cuộc đại loạn cuối triều Nguyên. Bằng ngòi
bút đầy cảm thông ông đã viết bi kịch sinh ly tử biệt của hai cặp vợ chồng
son trẻ là Kim Định và Lưu Thúy Thúy, Triệu Lục và La Ái Ái, những đau
khổ triền miên thê thảm, làm xúc động lòng người nhất là Thúy Thúy
truyện lại càng xuất sắc. Nhưng do ông xuất phát từ mục đích khuyến thiện
phạt ác cho nên có đến ba phần tư tác phẩm viết toàn những truyện thần
tiên ma quái, đầy màu sắc hoang đường, nhân quả báo ứng. Đồng thời phần
nhiều những thơ từ văn phú ông đưa vào để khoe tài đã làm hỏng cái hoàn
chỉnh kết cấu tác phẩm”. Trong Nghiên cứu so sánh Tiễn đăng tân thoại và
Truyền kỳ mạn lục của nhà nghiên cứu Trần Ích Nguyên có dẫn lời giới
thiệu của Chu Thanh Nguyên viết về tài năng và động cơ sáng tác của Cù
Hựu: “Nhưng tuy như vậy, mà “hữu tài vô mệnh”, dưới ngòi bút đã viết cả
ngàn bài thi phú mà tìm trong túi không có được một hai đồng thông bảo.
Thật là thời vậy! Vận vậy! Mệnh vậy! Cho nên trong lòng ông dậy lên
niềm cảm khái mà trước hết thể hiện ở một bài thơ:
20
Tự cổ văn chương ách mệnh cùng,
Thông minh vị tất thắng ngu mông.
Bút đoan hoa dữ hung trung gấm,
Khiểm đắc Tương Như tứ bích không.
(Tự cổ văn chương hãm mệnh cùng,
Hơn thua chưa hẳn bởi ngu, thông.
Gấm, hoa đầu bút cùng trong dạ,
Kiếm được Tương Như bốn vách không.)
Bèn viết một bộ sách đặt tên là Tiễn đăng tân thoại, bỡn cợt bút mực,
trào phúng một để khuyên răn một trăm, mượn việc đó để bộc lộ ý chí và
trước mà là ở chỗ gợi mở cho người đi sau” [49, 226].
Về giá trị nghệ thuật, Tiễn đăng tân thoại thể hiện tài năng của Cù
Hựu trong việc vận dụng một cách tài tình thơ từ, cách dùng chữ nghĩa của
lối văn biền ngẫu, lời đẹp, kể chuyện và miêu tả uyển chuyển xen lẫn với
nhiều bài thơ, có ảnh hưởng rất lớn đối với sáng tác tiểu thuyết văn ngôn
(cổ văn) đời Minh và đời Thanh. Trong lịch sử tiểu thuyết văn ngôn, Tiễn
đăng tân thoại là khâu nối tiếp giữa tiểu thuyết đời Đường và Liêu Trai chí
dị đời Thanh.
22
Chương 2
NHỮNG TRUYỆN TRONG TRUYỀN KỲ MẠN LỤC VÀ TRONG
TIỄN ĐĂNG TÂN THOẠI TƯƠNG ĐỒNG CƠ BẢN VỀ CÁI “KỲ”
2.1. Tóm tắt và phân tích từng cặp truyện có sự tương đồng về cái “kỳ”
Nguyễn Dữ khi sáng tác Truyền kỳ mạn lục đã ảnh hưởng ở Cù Hựu
nhiều yếu tố như tình tiết, điển tích, môtíp… Ảnh hưởng dễ nhận thấy nhất
đó là bút pháp thể loại. Bởi vậy, ở đây chúng tôi lấy tiêu điểm là yếu tố
“kỳ”, một thuộc tính của thể loại truyền kỳ để so sánh. Phương pháp so
sánh là theo phương pháp phân loại truyện truyền kỳ đời Đường, chia theo
loại hình chung là loại diễm tình, loại kỳ quái và loại biệt truyện. Từ đó
phân tích so sánh để tìm ra được những điểm giống nhau giữa hai tác phẩm
như sau:
2.1.1. Loại diễm tình
Trên cơ sở tham khảo phương pháp phân loại truyền kỳ đời
Đường, trước hết chúng tôi so sánh số lượng truyện loại diễm tình viết
về tình yêu ly - hợp của các nam nữ nhân vật chính. Tiễn đăng tân
thoại có 7 truyện loại diễm tình (trong tổng số 20 truyện, gồm Vị
Đường kỳ ngộ ký, Liên Phương lâu ký, Thúy Thúy truyện, Ái Khanh
truyện, Kim phượng thoa ký, Đằng Mục túy du Tụ Cảnh viên ký, Lục y
là Ái Khanh. Từ sau khi được gả cùng ngâm vịnh, cả hai đều yêu
cho chàng họ Triệu cùng làng, mến nhau. Không ngờ Lệ
chuyện phấn son rũ bỏ, nàng Nương gặp họa ở Khát Chân
trông coi việc nhà, lại hiếu thuận phải vào cung làm nữ tỳ, mấy
với mẹ chồng. Không bao lâu năm sau lại bị tướng nhà Minh là
chồng đi làm quan xa, mẹ chồng Lã Nghị bắt đi. Nàng không chịu
cũng qua đời. Ái Khanh côi cút nhục đã tự vẫn.
đau khổ. Có một viên vạn hộ họ
Lưu ham mê nhan sắc nàng, ép
nàng lấy hắn. Ái Khanh giữ lòng
trinh lấy khăn thắt cổ tử tự.
Chàng Triệu về nghe hết mọi Phật Sinh tìm Lệ Nương nhưng
chuyện đau xót không cùng, Ái không gặp, chỉ thấy mộ nàng.
Khanh hiện về dương thế cùng Chàng kể lại sự tình trước mộ,
chồng nối lại niềm loan ái cũ.
đêm ấy Lệ Nương lững thững đi
đến. Hai người âu yếm chuyện
trò rồi giao hoan.
Đằng Mục túy du Tụ Cảnh viên
Tây viên kỳ ngộ ký
ký
(Đằng Mục rượu say chơi vườn
Tụ Cảnh)
( Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây)