-1-
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN VIẾT HOÀI
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG WEBSITE
NHẰM TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “DÒNG ĐIỆN TRONG CÁC MÔI
TRƯỜNG” VẬT LÝ 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Nghệ An - 2013
-2-
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN VIẾT HOÀI
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG WEBSITE
NHẰM TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “DÒNG ĐIỆN TRONG CÁC MÔI
TRƯỜNG” VẬT LÝ 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học vật lí
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
CNTT
DH
ĐC
GV
HS
PPDH
THPT
TN
TNSP
Bài giảng điện tử
Công nghệ thông tin
Dạy học
Đối chứng
Giáo viên
Học sinh
Phương pháp dạy học
Trung học phổ thông
Thực nghiệm
Thực nghiệm sư phạm
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...........................................................................................
1. Lý do chọn đề tài............................................................................
2. Mục đích nghiên cứu ....................................................................
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .................................................
4. Giả thuyết khoa học......... ..............................................................
5. Nhiệm vụ nghiên cứu.....................................................................
6. Phương pháp nghiên cứu................................................................
7
1.1. Tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS trong dạy học
vật lí
7
1.1.1. Khái niệm về tích cực hoạt động nhận thức của
HS.............
7
1.1.2. Tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS............................
9
1.1.3. Các biện pháp tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS
trong dạy học vật lí............................................................................
10
1.2.
Website
trong
lí.....................................................
14
dạy
cơ
bản
dựng
trợ
xây
dựng
sử
dụng
Website
dạy
và
của
1.2.5. Hình thức triển khai ứng dụng Website trong dạy
học............
2.2.6. Hướng dẫn khai thác thông tin trong
Website..........................
1.2.7. Một số điểm
Website............................
cần
vật
1.3. Cơ sở thực tiễn của việc sử dụng Website hỗ trợ dạy
học..........
28
1.3.1. Thực trạng việc sử dụng Website trong DH Vật lí hiện
nay
ở
trường
phổ
thông................................................................................
28
1.3.2. Những thuận lợi và khó khăn của việc sử dụng Website
DH
Kết
luận
1..............................................................................
chương
30
33
Chương 2: Thiết kế và sử dụng Website dạy học chương
“Dòng điện trong các môi trường” vật lí 11 trung học phổ
thông.................
2.3. Xây dựng tiến trình DH có sử dụng Website cho một số
đơn vị kiến thức trong chương “ Dòng điện trong các môi
trường”.............
50
2.3.1.
Bài
13
-
Dòng
điện
trong
kim
loại............................................
2.3.2. Bài 15 - Dòng điện trong chất khí (tiết 1)................................
Kết
luận
chương
51
59
65
65
65
66
66
66
67
71
72
74
P1
-8-
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, xã hội đứng trước sự bùng nổ về thông tin, những thành tựu
của khoa học công nghệ đầu thế kỷ XXI, nền kinh tế tri thức và nền giáo dục
điện tử phát triển có tính chất toàn cầu hóa đã làm thay đổi nhiều hoạt động
của xã hội loài người, dẫn đến hệ quả là ngành giáo dục phải thay đổi để bắt
kịp với sự phát triển đó. Sự nghiệp giáo dục của tất cả các quốc gia đã và
đang đối mặt với những thách thức mới, những nhiệm vụ mới trước sự ra đời
của một nền giáo dục điện tử, trong đó phương thức dạy và học chủ yếu dựa
vào các thiết bị điện tử, sự tương tác giữa người dạy và người học thông qua
mạng máy tính là tất yếu.
Trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đổi mới và phát
triển giáo dục Việt Nam là vấn đề tất yếu nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo
nguồn nhân lực cho một nền kinh tế tri thức hiện nay, như Quyết định số
698/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ ngày 01 tháng 06 năm 2009 về kế
một cách có định hướng, nó còn là động lực để cho người thầy không ngừng
đổi mới PPDH và nội dung kiến thức truyền thụ cho HS phải được cập nhật
theo kiến thức mới nhất. Những vấn đề trên có thể thực hiện thông qua
Internet là thuận tiện nhất.
Phương pháp thực nghiệm và phương pháp mô hình là hai trong số các
phương pháp đặc thù và cơ bản nhất của bộ môn vật lí, nhưng trong quá trình
giảng dạy chương “Dòng điện trong các môi trường” thì khả năng trực quan
hoá các sự vật hiện tượng gặp nhiều khó khăn vì:
- Tốc độ biến thiên của sự vật, hiện tượng là nhanh (điện tích, dòng điện,
electron, ion...), các đối tượng nghiên cứu quá nhỏ
-10-
- Bộ thí nghiệm thực rất khó thực hiện.
Nếu sử dụng máy vi tính có thể trực quan hoá được:
- Chuyển động của các electron trong mạng...
- Mô hình dung dịch điện phân, hiện tượng dương cực tan...
- Mô hình ion hoá chất khí...
- Hiện tượng hồ quang điện...
Ứng dụng CNTT vào đổi mới PPDH đó là vấn đề rất quan trọng. PPDH
đặc thù của bộ môn với sự hỗ trợ đa dạng của CNTT sẽ góp phần nâng cao
chất lượng DH. Từ những lý do trên, đồng thời tạo điều kiện tốt nhất cho thầy
cô giáo và HS khai thác thông tin trong quá trình dạy và học, tôi lựa chọn đề
tài : Xây dựng và sử dụng Website nhằm tích cực hóa hoạt động nhận
thức của học sinh trong dạy học chương “Dòng điện trong các môi
trường” vật lí lớp 11.
2. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng và sử dụng Website DH chương “Dòng điện trong các môi
trường” vật lý lớp 11 THPT góp phần đổi mới phương pháp DH theo hướng
Nghiên cứu tài liệu liên quan nhằm giải quyết các nhiệm vụ của luận văn:
- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng và nhà nước, của Bộ Giáo dục và
đào tạo về đổi mới phương pháp dạy học, các tài liệu về phương pháp dạy học
vật lí, lý luận dạy học, tâm lý học...
- Nghiên cứu sách giáo khoa vật lí 11 THPT, các tài liệu tham khảo.
-12-
- Nghiên cứu các tài liệu về ứng dụng máy vi tính và các thiết bị đa
phương tiện vào thiết kế bài dạy học theo hướng đổi mới. Nghiên cứu các tài
liệu thiết kế Website dạy học.
Nghiên cứu thực nghiệm:
- Sử dụng các phần mềm ứng dụng để xây dựng Website và thiết kế các
bài học trong chương “Dòng điện trong các môi trường”.
- Thực nghiệm sư phạm ở một số lớp, so sánh với các lớp đối chứng, kết
hợp thăm dò thái độ của học sinh và ý kiến của giáo viên để đánh giá hiệu quả
sử dụng máy vi tính với Website trong dạy học.
- Sử dụng các phương pháp thống kê để xử lý số liệu.
7. Đóng góp của luận văn
Về lý luận:
Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận của việc xây dựng và sử dụng
Website dạy học vật lý THPT theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức
của HS.
Về thực tiễn:
- Xây dựng được Website hỗ trợ DH chương “Dòng điện trong các môi
trường” vật lý 11 THPT góp phần nâng cao chất lượng DH.
- Soạn thảo một số tiến trình DH các bài thuộc chương “Dòng điện trong
các môi trường” có sử dụng Website đã xây dựng theo hướng tích cực hóa
hoạt động nhận thức của HS
trong những nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục, khái niệm này đã được rất nhiều
tác giả đề cập:
V.L.Lênin: "Tính tích cực được xác định như là tổng các dấu hiệu đặc
trưng cho sức mạnh bên trong với thành tích đã thành hiện thực".
I.F. Kharlamôp: “Tính tích cực là trạng thái hoạt động của chủ thể, nghĩa
là người hành động…”
V.Ôkôn quan niệm: "Tính tích cực là lòng mong muốn không chủ định
và tạo nên những biểu hiện bên ngoài hoặc bên trong của hoạt động".
Theo từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê - chủ biên), “Tích cực là: có ý
nghĩa, có tác dụng khẳng định, tác dụng thúc đẩy sự phát triển; tỏ ra chủ
động, có những hoạt động nhằm tạo ra sự biến đổi theo hướng phát triển;
hăng hái, tỏ ra nhiệt tình đối với nhiệm vụ, với công việc”.
Từ những quan niệm trên, chúng ta có thể hiểu rằng, tính tích cực là sự
biểu hiện nỗ lực cá nhân (bằng thái độ, tình cảm, ý chí…) trong quá trình tác
động đến đối tượng nhằm thu được kết quả cao trong hoạt động nhận thức và
cải tạo thực tiễn.
-15-
Trong quá trình DH, tính tích cực biểu hiện ở tính tích cực của nhận thức,
tức là nói đến tính tích cực học tập. Tính tích cực học tập là hình thức bên
ngoài của tính tích cực nhận thức.
Một số quan niệm về tính tích cực của nhận thức:
- Theo I.F.Kharlamôp: Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động
của HS, đặc trưng bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực trong quá
trình nắm vững kiến thức.
- I.I.Samôva: Tính tích cực nhận thức là mục đích, phương tiện và kết
quả của hoạt động học tập, là phẩm chất của HS. Nó xuất hiện trong mối quan
hệ của HS với nội dung, với quá trình học tập, với sự nỗ lực để nắm được tri
xã hội). Thực hiện yêu cầu của thầy giáo theo yêu cầu tối thiểu hay tối đa?
Tích cực nhất thời hay thường xuyên liên tục? Tích cực tăng lên hay giảm
dần? Có kiên trì vượt khó hay không?
1.1.2. Tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS.
Tích cực hoá là một hoạt động nhằm làm chuyển biến vị trí của người
học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể
tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập.
Tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS là một trong những nhiệm vụ
của GV trong nhà trường và cũng là một trong những biện pháp nâng cao
chất lượng DH. Tuy không phải là vấn đề mới, nhưng trong xu hướng đổi mới
DH hiện nay thì việc tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS là một vấn đề
được đặc biệt quan tâm. Nhiều nhà vật lý học trên thế giới đang hướng tới
việc tìm kiếm con đường tối ưu nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của
HS, nhiều công trình luận án tiến sĩ cũng đã và đang đề cập đến lĩnh vực này.
Tất cả đều hướng tới việc thay đổi vai trò người dạy và người học nhằm nâng
cao hiệu quả của quá trình DH nhằm đáp ứng được yêu cầu dạy học trong giai
-17-
đoạn phát triển mới. Trong đó HS chuyển từ vai trò là người thu nhận thông
tin sang vai trò chủ động, tích cực tham gia tìm kiếm kiến thức. Còn GV
chuyển từ người truyền thông tin sang vai trò người tổ chức, hướng dẫn, giúp
đỡ để HS tự mình khám phá kiến thức mới.
Quá trình tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS sẽ góp phần làm cho
mối quan hệ giữa dạy và học, giữa thầy và trò ngày càng gắn bó và hiệu quả
hơn. Tích cực hoá vừa là biện pháp thực hiện nhiệm vụ dạy học, đồng thời nó
góp phần rèn luyện cho HS những phẩm chất của người lao động mới: tự chủ,
năng động, sáng tạo. Đó là một trong những mục tiêu mà nhà trường phải
hướng tới.
trình DH, vì khi đó tâm lý các em rất thoải mái.
- Khởi động tư duy gây hứng thú học tập cho HS.
Trước mỗi tiết học tư duy của HS ở trạng thái nghỉ ngơi. Vì vậy, trước
hết GV phải tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS ngay từ khâu đề xuất
vấn đề học tập nhằm vạch ra trước mắt HS lý do của việc học và giúp các em
xác định được nhiệm vụ học tập. Đây là bước khởi động tư duy nhằm đưa HS
vào trạng thái sẵn sàng học tập, lôi kéo HS vào không khí DH. Khởi động tư
duy chỉ là bước mở đầu, điều quan trọng hơn là phải tạo ra và duy trì không
khí DH trong suốt giờ học. HS càng hứng thú học tập bao nhiêu, thì việc thu
nhận kiến thức của các em càng chủ động tích cực bấy nhiêu. Muốn vậy cần
phải chú ý đến việc tạo các tình huống có vấn đề nhằm gây sự xung đột tâm lý
của HS. Điêu này rất cần thiết và cũng rất khó khăn, nó đòi hỏi sự cố gắng, nỗ
lực và năng lực sư phạm của GV. Ngoài ra cũng cần chú ý tới lôgic của bài
giảng. Một bài giảng gồm các mắt xích nối với nhau chặt chẽ, phần trước là
tiền đề cho việc nghiên cứu phần sau, phần sau bổ sung làm rõ phần trước. Có
-19-
như vậy thì nhịp độ hoạt động, hứng thú học tập và quá trình nhận thức của
HS mới tiến triển theo một mạch liên tục không bị ngắt quãng.
- Khai thác và phối hợp các PPDH một cách có hiệu quả, đặc biệt chú
trọng tới các PPDH tích cực. Việc tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS
phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức và điều khiển quá trình DH của GV. Bởi
vậy, trong tiến trình DH, GV cần phải lựa chọn và sử dụng các PPDH hiệu
quả, đặc biệt là các PPDH tích cực như: Phương pháp nêu vấn đề; Phương
pháp phát triển hệ thống câu hỏi; Phương pháp thực nghiệm...có như vậy mới
khuyến khích tính tích cực sáng tạo của HS trong học tập.
- Khai thác yếu tố tích cực trong các PPDH truyền thống.
Đối mới PPDH theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của HS không
trực quan sinh động trước mắt HS.
Thí nghiệm vật lý có tác dụng rất to lớn trong việc phát triển năng lực và
nhận thức khoa học cho HS, đồng thời giúp cho HS quen dần với phương
pháp nghiên cứu khoa học. Vì qua đó, HS sẽ học được cách quan sát các hiện
tượng, cách đo đạc các thí nghiệm nhằm rèn luyện tính cẩn thận, kiên trì trong
nghiên cứu khoa học. Do được tận mắt quan sát sự vận động của các hiện
tượng, tự tay tiến hành lắp ráp, đo đạc các thí nghiệm nên các em đã quen dần
với các dụng cụ trong đời sống [9].
- Đổi mới phương thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS cũng là
môt biện pháp đẩy mạnh việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS.
Đánh giá là một khâu quan trọng không thể thiếu được trong quá trình
giáo dục. Đánh giá thường nằm ở giai đoạn cuối cùng của một giai đoạn giáo
dục và sẽ trở thành khởi điểm của một giai đoạn giáo dục tiếp theo với yêu
cầu cao hơn, chất lượng mới hơn trong cả một quá trình giáo dục.
-21-
Trong dạy học, việc đánh giá HS không chỉ nhằm mục đích nhận định
thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện
nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy.
Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập và xử lý thông tin về trình
độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của HS về tác động và nguyên nhân
của tình hình đó nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của GV và
nhà trường cho bản thân HS để HS học tập ngày một tiến bộ hơn. Việc kiểm
tra, đánh giá phải chuyển biến theo hướng phát triển trí thông minh sáng tạo
của HS, khuyến khích vận dụng linh hoạt các kiến thức kĩ năng đã học vào
những tình huống thực tế, làm bộc lộ những cảm xúc, thái độ của HS trước
những vấn đề nóng hổi của đời sống cá nhân, gia đình và cộng đồng. Chừng
nào việc kiểm tra, đánh giá chưa thoát khỏi quỹ đạo học tập thụ động thì chưa
toàn cầu - đó là một không gian thông tin toàn cầu mà mọi người có thể truy
nhập qua các máy tính nối với mạng Internet. Internet và WWW không đồng
nghĩa. Web thực ra chỉ là một trong các dịch vụ chạy trên Internet, chẳng hạn
như dịch vụ thư điện tử... Internet là một tập hợp các mạng máy tính kết nối
với nhau bằng dây đồng, cáp quang...; còn WWW, hay Web, là một tập hợp
các tài liệu liên kết với nhau bằng các siêu liên kết (hyperlink). Bằng những
siêu liên kết này, các trang Web có thể liên kết với nhau thành một mạng
chằng chịt, trang này chỉ tới trang khác.
Web được phát minh và đưa vào sử dụng vào khoảng năm 1990, 1991
bởi viện sĩ Viện Hàn lâm Anh Tim Berners-Lee và Robert Cailliau (Bỉ).
Tùy thuộc vào giao diện và các chương trình được lập trình để Website
hoạt động ( back-and) mà Website chia làm hai loại: Website động và
Website tĩnh.
-23-
Website động: là website có cơ sở dữ liệu và được cung cấp công cụ
quản lý website ( Admin Tool ). Web động thường được phát triển bằng các
ngôn ngữ lập trình tiên tiến như PHP, Asp.net, Java, CGI, Perl, và sử dụng
các cơ sở dữ liệu quan hệ mạnh như Access, My SQL, MS SQL... Thông tin
luôn được cập nhật trong một cơ sở dữ liệu và người dùng Internet có thể xem
những chỉnh sửa đó ngay lập tức. Vì vậy website được hỗ trợ bởi cơ sở dữ
liệu là phương tiện trao đổi thông tin nhanh nhất với người dùng Internet.
Website động có tính tương tác với người sử dụng cao. Với web động, người
quản lý hoàn toàn có thể dễ dàng quản trị nội dung và điều hành website của
mình thông qua các phần mềm hỗ trợ mà không nhất thiết cần phải có kiến
thức nhất định về ngôn ngữ html, lập trình web.
Website tĩnh: thường được xây dựng bằng các ngôn ngữ HTML,
DHTML,…không có cơ sở dữ liệu và không có công cụ quản lý thông tin trên
Website DH sẽ hỗ trợ cho GV, HS, nhà quản lí trao đổi thông tin hai
chiều, nhằm giúp cho mọi người định hướng được cách tiếp cận kiến thức
một cách hiệu quả nhất. Đồng thời là diễn đàn trao đổi thông tin và chia sẽ với
mọi người những vấn đề quan tâm trong công tác giảng dạy và học tập.
Website DH góp phần tích cực trong việc đổi mới PPDH, sử dụng Website
DH đáp ứng được nhu cầu đa dạng hóa cách tiếp cận kiến thức cho HS, góp
phần vào thành công chung của giáo dục hiện nay.
1.2.1.4. Cấu trúc của Site.
Site có thể hiểu là một "website con" có trong một website. Website DH
được phát triển dựa trên những chủ đề cơ bản được xây dựng thành cấu trúc.
Những cấu trúc này sẽ quyết định giao diện của Site và tạo nên một dạng định
hướng để hướng dẫn người sử dụng tiếp cận những thông tin muốn truyền tải.
Các cấu trúc cơ bản là: tuần tự, tạo lưới, phân cấp và mạng.
-25-
- Cấu trúc tuần tự: là cách sắp xếp, tổ chức thông tin đơn giản nhất. Trật
tự này có thể tuân theo thứ tự thời gian, cũng có thể là một loạt chủ đề được
sắp xếp hợp lý từ tổng quát đến cụ thể, hoặc theo bảng chữ cái giống như mục
lục. Các liên kết duy nhất trong Site là những liên kết hỗ trợ đường dẫn tuyến
tính.
- Cấu trúc lưới: là cách hữu hiệu để tạo mối tương quan giữa các biến số.
Các khối đơn lẻ trong lưới phải có cấu trúc đồng bộ về các chủ đề chính và
phụ. Các chủ đề sắp xếp theo dạng lưới thường không được phân cấp cụ thể
theo mức độ quan trọng. Cơ sở dữ liệu dùng cho Website được thiết kế đều
rất nhất quán trong cấu trúc. Vì lý do này, cấu trúc lưới chỉ phù hợp với
những người sử dụng có kinh nghiệm, hiểu bản chất của toàn bộ cấu trúc và
cách tổ chức thông tin.
- Cấu trúc hệ thống phân cấp: là cách tổ chức thông tin phức tạp hơn