BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ KỲ
ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI TẢO LỤC
(CHLOROPHYTA) VÀ CHẤT LƯỢNG NƯỚC
Ở HỒ NHÀ ĐƯỜNG XÃ THIÊN LỘC
- HUYỆN CAN LỘC – TỈNH HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC SINH HỌC
(CHUYÊN NGÀNH : THỰC VẬT HỌC)
NGHỆ AN, 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ KỲ
ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI TẢO LỤC
(CHLOROPHYTA) VÀ CHẤT LƯỢNG NƯỚC
Ở HỒ NHÀ ĐƯỜNG XÃ THIÊN LỘC
- HUYỆN CAN LỘC – TỈNH HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC SINH HỌC
(CHUYÊN NGÀNH : THỰC VẬT HỌC)
Mã số: 60.42.01.11
Người hướng dẫn khoa học:
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu..............................................................................................16
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu...............................................................................................................16
2.2.2 Thời gian nghiên cứu..............................................................................................................17
2.3 Phương pháp thu mẫu...............................................................................................................17
2.3.1 Thu mẫu nước........................................................................................................................17
2.3.2 Thu mẫu tảo...........................................................................................................................17
2.4 Phương pháp phân tích mẫu.....................................................................................................17
2.4.1 Phương pháp phân tích mẫu nước.........................................................................................17
2.4.2 Phân tích mẫu tảo Lục............................................................................................................18
2.4.2.1 Phương pháp xác định thành phần loài...............................................................................18
2.4.2.2 Phương pháp xác định số lượng..........................................................................................18
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN...........................................................................19
3.1 Một vài đặc điểm tự nhiên của địa bàn nghiên cứu..................................................................19
3.2 Kết quả phân tích một số chỉ tiêu thuỷ lí, thủy hóa ở hồ Nhà Đường – xã Thiên Lộc – huyện Can
Lộc – tỉnh Hà Tĩnh............................................................................................................................19
3.2.1 Kết quả phân tích một số chỉ tiêu thủy lí................................................................................19
3.2.1.1 Nhiệt độ...............................................................................................................................20
Bảng 3.1: Nhiệt độ môi trường qua các đợt nghiên cứu (oC)..........................................................20
Hình 3.1: Biểu đồ nhiệt độ môi trường qua các đợt nghiên cứu (oC)..............................................21
3.2.1.2 Độ trong...............................................................................................................................21
Bảng 3.2 : Độ trong tại các địa điểm qua các đợt nghiên cứu..........................................................22
Hình 3.2: Biểu đồ biến động độ trong qua các đợt nghiên cứu.......................................................22
3.2.2 Kết quả phân tích một số chỉ tiêu thủy hóa............................................................................23
iii
3.2.2.1 Độ pH...................................................................................................................................23
Bảng 3.3: Độ pH qua các đợt nghiên cứu........................................................................................23
Hình 3.3. Biểu đồ pH qua các đợt nghiên cứu.................................................................................23
3.2.2.2 Hàm lượng oxi hoà tan........................................................................................................24
môi trường nước. Các chất thải bằng cách này hay cách khác đều chuyển đến
các thuỷ vực. Chúng làm cho nhiều sông ngòi, ao, hồ bị suy thoái, ô nhiễm
nghiêm trọng. Vì vậy, việc phục hồi chất lượng nước để trả lại sự sống bình
thường cho các thuỷ vực đang là mối quan tâm của mọi người, nhất là với các
nhà thuỷ sinh học. Trong lĩnh vực này, thực vật thuỷ sinh nói chung và vi tảo
nói riêng được xem như là một giải pháp sinh học để phục hồi lại chất lượng
nước. Vi tảo là mắt xích đầu tiên trong chuỗi thức ăn của hệ sinh thái nước,
tạo nguồn oxy sinh học đồng thời hấp thu một lượng không nhỏ các chất ô
nhiễm hữu cơ và vô cơ bao gồm ion kim loại nặng, nitrat, phophat… Bằng
cách đó, vi tảo đã thúc đẩy quá trình tự làm sạch và cải thiện chất lượng nước.
Tảo Lục (Chlorophyta) là một ngành lớn trong nhóm tảo. Trong các thuỷ
vực nước ngọt tảo Lục chiếm ưu thế cả về thành phần loài cũng như về số
lượng cá thể. Chúng là nguồn thức ăn quan trọng của động vật phù du, cá,
tôm và các loài nhuyễn thể... Vì vậy, năng suất sinh học của các thuỷ vực phụ
thuộc trực tiếp vào sự phát triển của chúng. Bên cạnh đó, tảo lục còn được
xem là “lá phổi xanh” của các thuỷ vực. Thông qua quá trình quang hợp, tảo
lục làm giảm đáng kể lượng CO2 trong nước, phục hồi lượng oxi hoà tan
(DO), đồng thời giúp điều tiết lượng oxi hoá hoá học (COD). Nhiều loài
trong chúng có khả năng hấp thụ các nguyên tố kim loại nặng và một số các
chất khoáng trong nước vì thế đã được ứng dụng để xử lí ô nhiễm môi trường.
Hồ Nhà Đường thuộc xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh là hồ
chứa nước có vai trò quan trọng với đời sống sinh hoạt và sản xuất của người
dân ở nơi đây. Ngoài mục đích được sử dụng làm nguồn nước sạch và tưới
tiêu cho xã Thiên Lộc thì hồ Nhà Đường còn có vai trò quan trọng về du lịch
sinh thái trong tuyến đường lên chùa Hương Tích. Tuy nhiên cho đến nay vẫn
2
chưa có công trình nào nghiên cứu về thành phần vi tảo, đặc biệt là tảo Lục ở
đây. Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi tiến hành đề tài: “Điều tra thành
sau ông tách thêm một số họ mới và đưa số họ của bộ lên 10 họ [40].
Năm 1915 A. Pascher đề xuất gọi tên bộ Protococcales là Chlorococcales.
Thực ra thuật ngữ Chlorococcales lần đầu tiên được Marchand (1895)
khởi xướng và nó thực sự được sử dụng chính thức từ năm 1927 (West and
Fritsch) [40].
Theo hệ thống phân loại của M.T. Philipose (1967), bộ Protococcales
(Chlorococcales) có 14 họ. Hiện nay số họ của bộ này lên tới con số18 ( theo
A. E. Ergashev, 1977)[25].
Kết quả nghiên cứu của Korschikov (1953) đã phát hiện được 446 loài và
dưới loài, chúng thuộc 133 chi [25]. Theo M. T. Philipose thì trên thế giới đã
thống kê được 1079 loài, chúng tập trung trong 173 chi. Trong số đó ở Ấn Độ
có 56 chi với 208 loài (có 34 loài đặc hữu) [40].
Ở các loại hình thuỷ vực vùng Trung Á, Ergashev A. E.(1977) đã phát
hiện được 510 loài [26].
4
Theo Obukh P. A. thì bộ Protococcales có trên 1100 loài [39], riêng chi
Scenedesmus có tới 150 loài và dưới loài [35].
Đáng lưu ý là nhiều loài trong bộ Protococcales có ý nghĩa thực tiễn lớn,
đặc biệt thuộc chi Chlorella Beijer. (1890) [32] vì chúng giàu protein (chiếm
tới 47% trọng lượng khô) và Đức là nước đầu tiên nuôi trồng loài tảo này
(ngay từ năm 1953 tại vùng Rubin - nơi có nhiều nhà máy sản xuất) để tận
dụng nguồn khí CO2 thải ra cho việc nuôi trồng tảo. Mặc dù vậy, nước đầu
tiên sản xuất Chlorella và bán sinh khối tảo này để làm thức ăn bổ sung
( protein) cho người, gia súc và gia cầm lại thuộc về Nhật Bản. Cũng từ
Chlorella họ đã chiết được hoạt chất gọi là "nhân tố sinh trưởng Chlorella"
cùng với 15 loại vitamin khác nhau được ứng dụng rộng rãi trong y học [6].
Trên các chuyến bay của các nhà du hành vũ trụ thì cây trồng lí tưởng
nhất thuộc về Chlorella. Người ta còn gọi chúng là "mùa màng không rơm
Việt Nam.
Ở miền Bắc, năm 1982, trong Luận án Tiến sĩ khoa học Sinh học về khu
hệ tảo các thuỷ vực nội địa ở Việt Nam, Dương Đức Tiến đã công bố 1402
loài tảo trong đó có 530 loài tảo Lục. Đây là một công trình phản ánh khá đầy
đủ về khu hệ thực vật nổi ở các thuỷ vực nội địa Việt Nam, trong đó tác giả
đã chú ý nhiều đến mối quan hệ giữa các loại hình thuỷ vực với thành phần
loài và lối sống của tảo [27]. Năm 1988, ông lại cho ra đời cuốn: " Đời sống
các loài tảo", cuốn sách đã khắc họa lên vai trò ý nghĩa của tảo trong thiên
nhiên và trong đời sống con người cũng như triển vọng sử dụng chúng trong
nền kinh tế quốc dân. Gần đây (1997), Ông cùng cộng sự đã biên soạn cuốn:
"Tảo nước ngọt Việt Nam. Phân loại bộ tảo lục Chlorococcales". Đây là tài
liệu chuyên khảo thuộc bộ Chlorococcales (Protococcales) ở Việt Nam [17].
Năm 1997, Lê Hoàng Anh, Dương Đức Tiến thuộc Đại học Khoa học Tự
nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội , khi nghiên cứu vi tảo ở sông Nhuệ đã phát
hiện được 105 loài trong đó có 36 loài thuộc bộ Protococcales, các chi
Pediastrum và Scenedesmus đóng vai trò chủ đạo [1].
7
Trong lĩnh vực ứng dụng, năm 1995, Lê Hiền Thảo (Trung tâm sinh học
thực nghiệm, Viện nghiên cứu ứng dụng công nghệ) đã sử dụng Chlorella
pyrenoidosa để xử lí ô nhiễm nước của một số hồ ở Hà Nội, thấy rằng chúng
có khả năng làm giảm sự ô nhiễm của hồ, cụ thể: sau 10 ngày nuôi cấy, hiệu
quả xử lí BOD5 đạt 92,8%; COD đạt 92,3%; hiệu quả làm sạch sau 5 ngày đạt
giá trị lớn nhất [16].
Năm 1985, Trần Văn Tựa, Nguyễn Tiến Cư (Viện công nghệ sinh học)
khi tiến hành nuôi trồng tảo Chlorella pyrenoidosa bằng nước thải ươm tơ
tằm cho thấy rằng tảo này có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt nhất trong
môi trường được chuẩn bị từ nước thải ươm tơ tằm so với 4 loài tảo thí
nghiệm. Sau 5 ngày nuôi cấy tảo ngoài thiên nhiên có thể thu được dịch tảo có
nghiên cứu ở hồ Bộc Nguyên tác giả tiếp tục công bố 69 loài tảo Lục [12].
Nguyễn Đình San trong Luận án Tiến sĩ sinh học “Vi tảo một số thủy
vực bị ô nhiễm ở các tỉnh Thanh Hóa - Nghệ An – Hà Tĩnh và vai trò của
chúng trong làm sạch nưới thải” đã công bố 196 loài và dưới loài. Trong đó
ngành Chlorophyta chiếm 41.33% tổng số loài phát hiện được và chi
Scenedesmus có số loài gặp nhiều nhất.
Năm 1997, Phạm Hồng Phong khi điều tra thành phần loài vi tảo thuộc
bộ Protococcales ở một số thuỷ vực khu vực đèo Hải Vân, đã phát hiện được
47 loài và dưới loài ở các thuỷ vực dạng sông ngòi, chúng thuộc 8 họ và 17
chi [14].
Tác giả Trần Mộng Lai (2002), nghiên cứu bộ Protococcales ở hồ chứa
sông Rác - huyện Kỳ Anh – Hà Tĩnh đã phát hiện được 60 loài và dưới loài
thuộc 9 họ, 20 chi, trong đó đã bổ sung 26 loài vào danh lục bộ
Chlorococcales ở khu vực miền trung [8].
Năm 2006, Nguyễn Thị Mai đã xác định được 107 loài và dưới loài tảo
Lục ở hồ chứa Bến En – Thanh Hóa, trong đó bộ Chlorococcales có 85 loài và
dưới loài thuộc 11 họ, 22 chi, các chi chiếm ưu thế là Tetraedron,
Scenedesmus, pediastrum.
9
Lê Hương (Đại học Tây Nguyên) với công trình: “Thực vật nổi ở hồ
EANHAI – Tỉnh Đắc Lắc” xác định được 237 loài thuộc 7 ngành phổ biến
của thực vật nổi nước ngọt trong đó có 91 loài tảo Lục.
Ở miền Nam, năm 1960, Vũ Văn Cương khi nghiên cứu về thực vật
thuỷ sinh ở Sài Gòn đã công bố 4 taxon tảo lục và nhiều loài khác. Trong
công trình này tác giả quan tâm nhiều đến các yếu tố sinh thái và các quần xã
sinh vật [14].
Lê Văn Sơn (2010), trong công trình “Thành phần loài tảo Lục (bộ
Chlorococcales) ở một số cửa sông thuộc sông Tiền và sông Hậu” đã xác định
1.2 Vai trò của một số yếu tố sinh thái đối với sự sinh trưởng và phát
triển của vi tảo trong thuỷ vực
Nước có nhiều đặc điểm thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của
thuỷ sinh vật như: nước có khối lượng riêng cao, độ nhớt thấp nên đảm bảo
cho thuỷ sinh vật được nâng đỡ và di chuyển được dễ dàng, nhiệt dung riêng
của nước cao và nước dẫn nhiệt kém đã đảm bảo cho nước có nhiệt độ ổn
định hơn so với môi trường không khí...
Để thích ứng với điều kiện sống trôi nổi thì tảo tảo trong bộ Protococcales
cũng có sự biến đổi hình thái thích nghi như: cơ thể có gai, u lồi, hoặc bao
nhầy, một số tảo có khả năng đào thải các kim loại nặng và tích trữ các kim
loại nhẹ.
Phần lớn các đại diện của bộ Protococcales đều sống trôi nổi trong các
môi trường nước như ao, hồ, sông, suối…,gồm cả dạng đơn bào và dạng đa
bào. Các chi Oocystis và Nephrocytium có màng bao ngoài, còn Radiococcus,
Kirchneriella, Gloeoactinium, Dictyosphaerium và Trallatos có bao nhầy,
thích ứng với đời sống trôi nổi; Pediastrum, Scenedesmus và Crucigenia có
dạng cộng tộc, tập đoàn hình đĩa dẹt; một số các đại diện khác như
Golenkinia, Micratinium, Polyedriopsis, Treubaria, Chodatella và một số loài
của Tetraedron, Scenedesmus thường có các gai và lông dài, cứng. Các loài của
bộ Protococcales chủ yếu sống trong môi trường nước ngọt hiếm khi chúng sống
trong môi trường nước mặn hoặc nước lợ. Tuy nhiên một số loài như
Ankistrodesmusofalcatus,oCoelastrumomicrosporum, Crucigenia emarginata,
11
Dictyosphaeriumerhenbergianum,Kirchneriellaolunaris,oOocystisOgigas,oO.
osubmarina, Pediastrum boryanum, P. duplex, P. integrum có thể phát triển
trong các môi trường có nồng độ muối khác nhau [40].
Trong môi trường nước thì ánh sáng là nguồn năng lượng quan trọng
nhất cho các sinh vật quang hợp, đặc biệt là tảo. Khi chiếu vào môi trường
điều kiện thuận lợi, một số loài tảo phát triển vượt bậc gây hiện tượng "nở hoa
nước", các loài trong bộ Protococcales thường tham gia trong hiện tượng đó
gồm: Gloenkiniaoradiata,oMicratiniumopusillum, Tetraedron minimum,
Selenastrum gracile, Pediastrum duplex var. clathratum, Pediastrum duplex
var. reticulatum, Pediastrum duplex var. gracillimum, Botryococcus sp.,
Coelastrum microsporum,
Scenedesmus bijugatus, S. quadricauda var.
quadricauda, S. quadricauda var. longispina. Sang mùa hạ độ chiếu sáng cực
đại, nhiệt độ nước tăng lên, hàm lượng muối dinh dưỡng giảm, làm cho tảo
sinh trưởng phát triển yếu đi. Khi nhiệt độ nước ở mức cao nhất giảm xuống,
hàm lượng muối dinh dưỡng tăng lên là đặc điểm của thuỷ vực chuyển sang
mùa thu. Đặc điểm này phù hợp với những loài rộng nhiệt. Sang mùa đông
nhiệt độ và cường độ chiếu sáng đều thấp, hàm lượng muối cao, đưa tảo vào
trạng thái phát triển yếu. Ngoài ra các chỉ tiêu khác như pH: giá trị này dao
động từ 6,2 đến 7,1 là phù hợp với sự phát triển của bộ Protococcales [40], độ
trong cũng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của tảo này.
1.3 Các thông số đánh giá chất lượng nước trong các thủy vực
Để đánh giá chất lượng cũng như mức độ ô nhiễm nước cần phải dựa vào
một số thông số cơ bản so sánh với các chỉ tiêu cho phép về thành phần hóa
học và sinh học đối với từng loại nước sử dụng cho mục đích khác nhau.
Các thông số cơ bản đánh giá chất lượng nước là: độ pH, màu sắc, độ
đục, hàm lượng chất rắn, các chất lơ lửng, kim loại nặng, oxi hòa tan và đặc
biệt là hai chỉ số COD và BOD. Ngoài các chỉ số về hóa học trên, cần phải
chú ý đến các chỉ tiêu sinh học: Vi tảo, E.coli …
- Độ pH là một trong những chỉ tiêu xác định đối với nước cấp và nước
thải. Chỉ số này cho thấy cần phải trung hòa hay không và tính lượng hóa chất
14
hỏi nhiều thời gian, vì phải phụ thuộc vào bản chất của hợp chất hữu cơ, loại
vi sinh vật, nhiệt độ…
Xác định BOD được dùng rộng rãi trong kỷ thuật môi trường để:
+ Tính gần đúng lượng oxy cần thiết oxy hóa các chất hữu cơ dễ phân
hủy có trong nước thải.
+ Làm cơ sở tính toán kích thước các công trình xử lý.
+ Xác định hiệu suất xử lý của một số quá trình.
+ Đánh giá chất lượng nước sau khi xử lý được phép thải vào các nguồn
nước. Trong thực tế, người ta không thể xác định lượng oxy cần thiết để phân
hủy hoàn toàn chất hữu cơ bằng phương pháp sinh học, mà chỉ xác định trong
5 ngày đầu tiên ở nhiệt độ 20 0C trong bóng tối (để tránh hiện tượng quang
hợp trong nước). Chỉ số này gọi là BOD5.
- Chỉ số COD (Nhu cầu oxy hóa học - Chemical oxygen Demand):
Chỉ số này được dùng rộng rãi để đặc trưng cho hàm lượng chất hữu cơ
của nước thải và sự ô nhiễm của nước tự nhiên.
COD là lượng oxi cần thiết cho quá trình oxi hóa toàn bộ các chất hữu cơ
có trong mẫu nước thành CO2 và nước.
- Hàm lượng nitơ (N): Hợp chất nitơ có trong nước thải là các hợp chất
prôtêin và các sản phẩm phân hủy: amôn, nitrat, nitrit…
- Hàm lượng phospho (P):
Phospho tồn tại trong thủy vực với các dạng H 2PO4- , HPO4-2, PO4-3, các
polyphosphat, phosphat hữu cơ. Đây là một nguồn dinh dưỡng cho thực vật
dưới nước, gây ô nhiễm và góp phần thúc đẩy hiện tượng phú dưỡng ở các
thủy vực.
Hàm lượng phospho có thể thừa trong nước thủy vực làm cho các loài
tảo, các loài thực vật lớn phát triển mạnh gây tắc thủy vực. Hiện tượng tảo
sinh trưởng mạnh (hiện tượng nước nở hoa) do dư thừa dinh dưỡng, thực chất
là hàm lượng P quá cao. Sau đó tảo và các loại vi sinh vật bị phân hủy, thối
Mặt cắt I
-Vùng giữa của hồ:
Mặt cắt II
-Vùng gần đập chính: Mặt cắt III
Tại mỗi vùng trên chúng tôi thu mẫu theo mặt cắt ngang của hồ chứa.
Mỗi mặt cắt thu ở 3 vị trí: hai điểm ở ven bờ và một điểm ở giữa lòng hồ
chứa. Tổng cộng đã thu mẫu tại 9 điểm thuộc 3 mặt cắt trên.
17
2.2.2 Thời gian nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành thu mẫu theo 2 đợt:
-Đợt 1: vào ngày 26 tháng 10 năm 2013
-Đợt 2: vào ngày 20 tháng 3 năm 2014
Công việc ngoài hiện trường được thực hiện trong khoảng thời gian từ
9h đến 16h trong ngày ở cả 2 đợt thu mẫu.
2.3 Phương pháp thu mẫu
2.3.1 Thu mẫu nước
- Mẫu nước để xác định oxi hoà tan (DO) được cố định ngay tại hiện
trường theo phương pháp Winkler.
- Mẫu nước hỗn hợp phân tích chỉ tiêu thuỷ hoá thu vào chai nhựa PE 2
lít, được bảo quản ở 4oC và phân tích trong vòng 24h.
Tổng số mẫu của 2 đợt thu là 36 mẫu.
2.3.2 Thu mẫu tảo
Mẫu tảo được thu trùng với các điểm thu mẫu nước. Dùng lưới vớt thực
vật nổi No75 vớt qua vớt lại trên tầng mặt 100 lần để thu mẫu định tính. Đong
Xác định hàm lượng NH4+: Sử dụng phương pháp so màu với thuốc
thử Nesler ở bước sóng λ = 420nm.
-
Xác định hàm lượng NO3-: Sử dụng phương pháp so màu với axít
phenoldisunfonic ở bước sóng λ = 440nm.
-
Xác định hàm lượng PO43-: Sử dụng phương pháp so màu với thuốc
thử SnCl2 ở bước sóng λ = 650nm.
-
Phương pháp so màu được thực hiện trên máy quang phổ tử ngoại
2.4.2 Phân tích mẫu tảo Lục
2.4.2.1 Phương pháp xác định thành phần loài
Để định danh các loài tảo lục, chúng tôi sử dụng các tài liệu sau:
- Bộ Protococcales của Korchikov A. A. 1953 (tiếng ucraina) [29].
- Bộ Chlorococcales của M. T. Philipose, 1967 (tiếng Anh) [36].
- Khoá định loại bộ Protococcales của A. E. Ergashev, 1977 (tiếng
Nga) [25].
- Tảo nước ngọt Việt Nam. Phân loại bộ tảo lục Chlorococcales. Dương
Đức Tiến, Võ Hành, 1997 [17].
- Freshwater Algae. of North America. Ecology and classitfication
John D.wehr and Robert G. Sheath Academic press [38].
Tất cả mẫu tảo đều được quan sát, mô tả, đo kích thước và chụp ảnh
vực này. Ngoài ra hồ còn có tiềm năng về du lịch sinh thái trên tuyến đường
lên chùa Hương Tích.
Qua khảo sát thực tế chúng tôi nhận thấy rằng, trong vùng lưu vực của
hồ chứa chủ yếu là rừng trồng, chỉ có một số ít hộ dân làm trang trại nhỏ. Vì
vậy nước của hồ ít bị ảnh hưởng bởi các nguồn nước thải từ bên ngoài.
3.2 Kết quả phân tích một số chỉ tiêu thuỷ lí, thủy hóa ở hồ Nhà
Đường – xã Thiên Lộc – huyện Can Lộc – tỉnh Hà Tĩnh
3.2.1 Kết quả phân tích một số chỉ tiêu thủy lí
Các chỉ tiêu thuỷ lí thuỷ hoá của thuỷ vực có vai trò rất quan trọng đối
với sự sinh trưởng và phát triển của thuỷ sinh vật nói chung và vi tảo nói
riêng. Sau đây là kết quả về chỉ tiêu thuỷ lí ở hồ Nhà Đường – xã Thiên Lộc –
huyện Can Lộc – tỉnh Hà Tĩnh tại thời điểm nghiên cứu.
20
3.2.1.1 Nhiệt độ
Thông thường trong các thuỷ vực thì nhiệt độ nước ở tầng mặt thường
xấp xỉ nhiệt độ không khí và chênh lệch khoảng vài độ C. Nhiệt độ của nước
ở các thủy vực thường thay đổi theo mùa và theo thời gian trong ngày. Đây là
yếu tố sinh thái ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình quang hợp của vi tảo nói
chung. Cùng với ánh sáng, vật chất hữu cơ, vô cơ là nhân tố làm thay đổi hàm
lượng khí hòa tan trong thủy vực dẫn đến sự phân bố và thành phần loài thực
vật luôn thay đổi theo các mùa trong năm.
Qua 2 đợt thu mẫu, tại vùng nghiên cứu, nhiệt độ nước dao động từ
18,30C đến 26,50C. Thu mẫu đợt một là thời điểm bước vào mùa đông nên
nhiệt độ trung bình không khí là 19,3 0C, trong đó nhiệt độ nước trung
bình là 18,5 0C. Trong đó nhiệt độ nước tại các điểm thu mẫu dao động từ
0,1 – 0,3 0C.
Tại thời điểm thu mẫu đợt 2 là cuối mùa xuân, thời tiết khá ấm áp nhiệt
độ không khí trung bình là 19,30C và nhiệt độ nước trung bình là 25,40C.
26,0
25,0
26,3
25,6
25,4
25,5