BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
TỪ HOÀNG NHÂN ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI, PHÂN BỐ VÀ ĐỀ XUẤT
GIẢI PHÁP BẢO VỆ NGUỒN LỢI ẤU TRÙNG TÔM,
TÔM CON Ở VÙNG BIỂN VEN BỜ ĐÔNG TÂY NAM BỘ
Chuyên ngành: Nuôi trồng thủy sản
Mã số: 60 62 70 LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGÔ ANH TUẤN
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ sự kính trọng, lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Ngô Anh Tuấn – Phó
trưởng Khoa Nuôi trồng thủy sản, Trường Đại học Nha Trang - người đã tận tình
hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận
văn tốt nghiệp.
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô giáo và các cán bộ trong
Khoa Nuôi trồng thủy sản - Trường Đại học Nha Trang đã có những chỉ dẫn quý báu
cũng như cung cấp những tài liệu cần thiết giúp tôi hoàn thành nghiên cứu này.
Trong thời gian học tập, thực hiện đề tài nghiên cứu luận văn tôi đã nhận được
sự tạo điều kiện, sự giúp đỡ nhiệt tình của các lãnh đạo, các đồng nghiệp trong Phòng
nghiên cứu Nguồn lợi Hải sản, Trung tâm quan trắc và cảnh báo môi trường biển và
Tổ Hải dương học - Viện Nghiên cứu Hải sản. Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ
quý báu đó.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè, các đồng
nghiệp khác trong và ngoài Viện Nghiên cứu Hải sản đã luôn ủng hộ, động viên và
giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua.
Một lần nữa, xin chân thành cảm ơn!
1.2.1.3 Dòng chảy 6
1.2.1.4 Chất nền đáy 7
1.2.1.5 Sinh vật phù du 7
1.2.2 Tình hình nghiên cứu giáp xác ở biển Việt Nam 8
1.2.2.1 Thời kỳ trước 1954 8
1.2.2.2 Thời kỳ 1954 – 1975 8
a. Ở miền Bắc Việt Nam 8
b. Ở miền Nam Việt Nam 9
1.2.2.3 Thời kỳ 1975 – 1995 9
1.2.3 Đặc điểm khu hệ giáp xác vùng biển Việt Nam 11
1.2.4 Nghiên cứu về thành phần loài, phân bố và mùa vụ sinh sản 13
Chương 2- VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 15
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 15
2.2 Phương pháp nghiên cứu 16
2.2.1 Thiết bị thu mẫu ATT-TC 16
2.2.2 Thiết kế trạm điều tra 17
2.2.3 Thu mẫu ấu trùng tôm - tôm con 17
2.2.4 Phân tích mẫu ATT-TC 18
2.2.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 18
Chương 3 - KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 20
3.1 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 20
3.1.1 Thành phần loài 20
3.1.1.1 Thành phần loài theo vùng biển 21
3.1.1.2 Thành phần loài theo độ sâu 24
3.1.1.3 Thành phần loài theo thời gian 25
3.1.1.4 Thành phần loài theo tầng nước 29
3.1.2 Phân bố 30
ĐVPD: Động vật phù du
ĐNB: Đông Nam Bộ
TNB: Tây Nam Bộ
ĐB: Mùa gió Đông bắc
TN: Mùa gió Tây nam
m
3
: Đơn vị tính mật độ
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1. Phạm vi nghiên cứu của Đề tài năm 2007-2008 (A) và 2009-2010 (B) 16
Hình 2. Dụng cụ thu mẫu tầng thẳng đứng, tầng mặt và đo lượng nước qua lưới 17
Hình 3. Tỉ lệ % một số họ tôm chiếm ưu thế theo mùa ở Đông Tây Nam Bộ 24
Hình 4. Tỉ lệ % của một số họ tôm chiếm ưu thế theo các dải độ sâu 25
Hình 5. Tỉ lệ phần trăm (%) của một số họ tôm chiếm ưu thế theo thời gian 28
trọng trong nghề khai thác và nuôi trồng thủy sản. Biển Việt Nam nằm trong khu vực
nhiệt đới gió mùa, có mức đa dạng cao về thành phần sinh vật. Bên cạnh nguồn lợi to
lớn về cá thì nguồn lợi giáp xác đã và đang đóng góp một phần không nhỏ vào tổng
sản lượng khai thác hàng năm ở vùng biển Việt Nam.
Ấu trùng tôm - tôm con (ATT-TC) và trứng cá - cá con (TC-CC), là lĩnh vực
nghiên cứu khoa học cơ bản và có vai trò thực tiễn rất quan trọng, đã được các nước
trên thế giới đánh giá cao và đưa vào chương trình nghiên cứu thường niên. Ở Việt
Nam hiện nay, chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào chuyên sâu về TCCC và
ATT-TC ở vùng nước ven bờ, nên việc xây dựng các định hướng bảo vệ nguồn lợi ven
bờ chủ yếu dựa vào nguồn số liệu cũ, hoặc lấy từ nhiều nguồn số liệu khác nhau.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến nguồn lợi hải sản ở vùng ven bờ bị giảm sút,
nhưng nguyên chính là cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, lượng chất thải,
chất bảo vệ thực vật thải trực tiếp ra biển, làm ô nhiễm vùng nước ven bờ; hiện đại hoá
các phương tiện đánh bắt với cường độ đánh bắt cao; đánh bắt hải sản bằng những
phương thức huỷ diệt; đánh bắt vào các bãi đẻ, mùa sinh sản, đánh bắt đàn cá bố mẹ và
tôm, cá con chưa trưởng thành… dẫn đến làm giảm sút nguồn bổ sung từ ATT-TC.
Hơn nữa, việc vắng mặt hầu như hoàn toàn của một số loài tôm vốn ở vùng nước ven
bờ đã và đang là thực trạng cần xem xét và đánh giá. Vì vậy, việc nghiên cứu hiện
trạng về thành phần loài, phân bố và sự biến động của ATT-TC ở vùng biển ven bờ
cần được đặt ra, nhằm góp phần rất quan trọng cho việc quy hoạch, định hướng phát
triển các ngành nghề khai thác cho phù hợp và để bảo vệ bền vững nguồn lợi bổ sung
đầy tiềm năng này.
Từ những cơ sở khoa học trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Điều tra
thành phần loài, phân bố và đề xuất giải pháp bảo vệ ấu trùng tôm, tôm con ở vùng
biển ven bờ Đông Tây Nam Bộ”.
2
3
Chương 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Nghiên cứu giai đoạn phát triển sớm của cá và tôm có vị trí quan trọng trong
ngư loại học, từ những tài liệu về thành phần và số lượng của chúng có thể tìm hiểu
được thành phần khu hệ, xác định bãi đẻ, mùa vụ sinh sản và biến động số lượng đàn
bổ sung. Mặt khác nó còn là nhân tố quan trọng cho việc phát hiện nguồn giống, quy
hoạch và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản.
Khá nhiều lĩnh vực liên quan đến ATT-TC đang được quan tâm nghiên cứu như
đa dạng loài, đánh giá nguồn lợi, phân loại học, đa dạng nguồn gen, chuỗi thức ăn,
vòng đời, các đặc điểm sinh sản, dinh dưỡng, sự di cư, sự phát triển của cá thể; môi
trường sống và sự ảnh hưởng của các yếu tối môi trường tới sự phát triển của chúng;
nghiên cứu chuyên sâu về những loài đặc sản và sinh sản nhân tạo nhằm hỗ trợ cho
việc khôi phục số lượng các loài tôm có giá trị về khoa học và kinh tế
Ở vùng Ấn Độ Dương có nghiên cứu của S. Jones (1951-1952); P. Bensam
(1971) [28]; N.N. Gorbunova (1977) [37]. Ở Indonexia có nghiên cứu của H. C.
Delman (1922-1931) [33, 34]. Ở Nhật Bản có nghiên cứu của T. Kamiya (1916-1922);
K. Uchida (1958); S. Mito (1960)[48]. ở Philippin có nghiên cứu của C. B. Wade
(1949-1951) [50]; M. N. Duray (1990). Ở Trung Quốc có nghiên cứu của Viên Vĩnh
Cơ (1963); Trương Hiếu Uy (1965)… Tuy nhiên hầu hết các công trình mới chỉ
nghiên cứu về các đặc điểm hình thái và đặc trưng phân bố của một số loài tôm, cá ở
vùng ven biển, quanh đảo, vùng cửa sông và vùng biển sâu.
Nhìn chung, các nghiên cứu về ATT-TC chủ yếu tập trung vào thành phần khu
hệ, đặc điểm hình thái và các đặc trưng sinh thái của mỗi nhóm loài. Điển hình là các
nghiên cứu về đặc điểm phân loại và đặc trưng sinh thái của các loài tôm trên các rạn
san hô ở vùng biển Ấn Độ - Thái Bình Dương của J.M.Leis và D.S.Rennis (1983).
Năm 1989, J.M.Leis và Trnski đã nghiên cứu sự biến động, phân bố thành phần loài và
các vị trí có cỏ biển cao gấp từ 2 đến 3 lần tại các vị trí không có cỏ biển. Kết quả thí
nghiệm về số lượng ATT-TC cư trú tại các thảm cỏ nhân tạo và không có thảm cỏ của
tác giả, cũng cho thấy sự chênh lệch mật độ từ 5 -10 lần. Theo Vance (1999), số lượng
tôm trong RNM, ven RNM và đáy bùn thu được vào ban đêm cao gấp từ 2 đến 10 lần
so với thu mẫu vào ban ngày, ngược lại số cá thu được ở các khu vực trên vào ban
ngày lại cao hơn so với thu mẫu vào ban đêm [49].
Đánh giá hiện trạng TCCC và ATT-TC là lĩnh vực nghiên cứu mang tính thực
tiễn và phục vụ trực tiếp nhất cho các nhà quản lý, làm cơ sở cho việc quy hoạch và
phát triển bền vững nguồn lợi thuỷ sản. Để đánh giá đúng mức hiện trạng TCCC và
ATT-TC, các nước Australia, Thái Lan, Trung Quốc đã tổ chức điều tra nghiên cứu
định kỳ về TCCC và ATT-TC, giúp cho việc điều tiết nghề nuôi, tổ chức khai thác hợp 5
lý và bảo vệ tốt nguồn tài nguyên sinh vật biển nói chung và nguồn giống thuỷ sản nói
riêng.
1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.2.1 Một số yếu tố môi trường trong vùng nghiên cứu
1.2.1.1 Nhiệt độ
Phân bố nhiệt độ theo mặt rộng ở vùng ven biển Đông Nam Bộ phụ thuộc vào
chế độ gió mùa, sự xáo trộn giữa khối nước ven bờ với khối nước vùng biển khơi.
Dưới tác dụng của dòng chảy mùa, nhiệt độ nước biển trong vùng có xu thế tăng dần
theo hướng Đông Bắc - Tây Nam với giá trị xấp xỉ 10
0
C trên mỗi vĩ độ, theo phương từ
bờ ra nhiệt độ có xu hướng giảm. Nhiệt độ nước trung bình khoảng 28,6
0
C ở tầng mặt
và 21,2
tháng 12 năm đến tháng 1 năm sau, đây là thời kỳ gió mùa đông bắc hoạt động mạnh
và ổn định.
1.2.1.2 Độ mặn
Vùng biển Đông Nam Bộ tương tự như nhiệt độ, phân bố độ mặn nước biển
cũng có biến trình mùa. Biên độ dao động độ muối trung bình tầng mặt nhiều năm lên
tới 1,48‰. Vùng sát ven bờ độ muối tầng mặt và tầng đáy dao động trong khoảng 20,0 6
- 28,0‰. Nhìn chung độ mặn trong toàn vùng có xu hướng tăng dần từ Bắc đến Nam
và từ bờ ra khơi, xu thế tăng từ bờ ra khơi thể hiện rất rõ trong vùng nước nông ven bờ
với tốc độ tăng có thể tới 1‰ trên mỗi vĩ độ, vùng ngoài khơi Đông Nam Bộ, độ mặn
ổn định và đạt trị số cao.
Biên độ dao động độ mặn cả năm ở vùng biển Tây Nam Bộ khá lớn, từ 27,0 -
34,1‰ (tầng mặt) và 28,0 - 34,1‰ (tầng đáy), do việc xả lũ ra biển miền tây nên độ
muối thấp nhất vào giai đoạn tháng 10 - 11, thời gian này hầu hết vùng gần bờ đều có
độ mặn thấp, khu vực gần bờ Kiên Giang - Cà Mau, độ mặn dao động từ 5,5 - 16,0‰.
Phía Nam mũi Cà Mau, độ muối thường ở mức 33,0 - 34,0‰. Trung bình toàn vùng
27,8‰ (tầng mặt), 29,2‰ (tầng đáy). Nhìn chung phân bố độ muối vùng biển Tây
Nam Bộ theo hướng tăng dần từ bờ ra khơi và từ Bắc xuống Nam, xu thế này khá ổn
định từ tầng mặt đến tầng đáy [Bộ Thuỷ Sản, 1996].
1.2.1.3 Dòng chảy
Vùng biển Đông Nam Bộ có dòng chảy tiếp nối từ khu vực Nam Trung Bộ đi
xuống theo hướng Bắc - Nam, với vận tốc trung bình khoảng 20-30cm/s. Dòng nước
này tiếp tục chảy đến khu vực vĩ độ 8
0
N rồi tách làm hai nhánh, một phần nhỏ tiếp tục
đi xuống phía Nam, phần còn lại đổi hướng dần theo hướng Đông Bắc tạo nên một
khu vực xoáy thuận nhỏ quanh Côn Sơn. Vào thời kỳ này trừ phần phía Đông vận tốc
Nam Bộ đã xác định được có khoảng 482 loài thuộc 4 ngành tảo. Tổng số loài và
nhóm loài động vật phù du (ĐVPD) đã xác định được có 257 loài không kể Nguyên
sinh động vật (Protozoa), Sứa, Quản thuỷ mẫu và ấu trùng của nhiều loài Thân mềm,
Giáp xác, Da gai ở các giai đoạn phát triển khác nhau.
Ở vùng biển Đông Nam Bộ, sự chênh lệch sinh vật lượng SVPD theo mùa khá rõ
nét. Mùa khô, số lượng TVPD cao hơn mùa mưa, nhưng sinh vật lượng ĐVPD thì ngược
lại. Sự thay đổi này liên quan đến chế độ thuỷ học và tính chất sinh thái của SVPD.
Tính chất mùa ở vùng biển Tây Nam Bộ thể hiện rõ ở TVPD, còn ĐVPD thay
đổi không đáng kể. Vào mùa mưa, nhiều khu vực ở biển Tây Nam Bộ, TVPD phát
triển mạnh mẽ gây nên hiện tượng nở hoa. Mùa mưa lượng muối dinh dưỡng dồi dào,
độ muối giảm, tạo điều kiện thuận cho các loài nước nhạt ven bờ phát triển mạnh. Đây
là điều kiện thuận lợi cho ĐVPD và các sinh vật biển khác sử dụng TVPD làm thức
ăn. Do đó, sinh vật lượng SVPD ở vùng biển Tây Nam Bộ vào mùa mưa cao hơn
nhiều lần so với mùa khô. 8
1.2.2 Tình hình nghiên cứu giáp xác ở biển Việt Nam
Tình hình nghiên cứu về giáp xác vùng biển nước ta qua các tài liệu từ trước tới
nay có quá trình phát triển không đồng đều về nội dung, mục đích yêu cầu và qui mô
đầu tư. Trong quá trình nghiên cứu về giáp xác thì đối tượng được chú ý quan tâm
nghiên cứu nhiều nhất vẫn là tôm biển. Cua, ghẹ và các loài giáp xác nhỏ như còng,
cáy biển không được chú ý nhiều dẫn tới sự thiếu hụt về nguồn lợi cũng như đa dạng
sinh học của nhóm đối tượng này. Về lịch sử nghiên cứu giáp xác, có thể tạm chia
thành ba thời kỳ như sau:
1.2.2.1 Thời kỳ trước 1954
Công tác nghiên cứu nguồn lợi sinh vật biển trong thời kỳ này hầu như do
người Pháp tiến hành, đặc biệt là trong các năm sau khi thành lập Viện Hải dương học
Đông Dương ở Nha Trang năm 1922, với nội dung nghiên cứu rộng của tàu De
Năm 1964, Nguyễn Cháu và Trần Đệ đã đưa ra phúc trình về kết quả khảo sát
tôm biển qua tổng kết tình hình đánh bắt và kinh nghiệm của ngư dân các tỉnh miền
Trung từ Quảng Trị đến Bình Thuận.
Trong các năm 1969 – 1971, chính quyền Sài Gòn với sự tài trợ của FAO và
chính phủ Hà Lan đã tiến hành các chuyến nghiên cứu cá vùng biển xa bờ miền Nam
Việt Nam. Các kết quả nghiên cứu đã được thông báo trong các báo cáo phúc trình của
Văn Hữu Kim (1970 - 1972) và sau này dưới sự chỉ đạo trực tiếp của PTS sinh học Lê
Minh Viễn (1975). Các kết quả này đã được tổng hợp trong tài liệu “Nguồn lợi cá biển
Việt Nam” (1975 – 1976) gồm 6 tập, trong đó kết quả nghiên cứu tôm của tàu Hữu
Nghị đã được tổng hợp trong tập II của bộ sách này.
Nhìn chung, công tác nghiên cứu tôm biển trong thời kỳ này tuy đã được quan
tâm, song còn nhiều hạn chế và chưa đáp ứng yêu cầu của sản xuất. Chỉ bước sang
thời kỳ sau khi thống nhất đất nước (1975), công tác nghiên cứu nói chung và nghiên
cứu tôm biển nói riêng mới thực sự được coi trọng.
1.2.2.3 Thời kỳ 1975 – 1995
Đây là thời kỳ có nhiều điều kiện thuận lợi nhất, chiến tranh chấm dứt, đất nước
đã hoàn toàn giải phóng, mở đầu cho thời kỳ cả nước tập trung khôi phục và xây dựng
kinh tế. Trong thời kỳ này, công tác nghiên cứu nguồn lợi sinh vật biển ở nước ta nói
chung và nghiên cứu về giáp xác nói riêng được Nhà nước và ngành Thủy sản quan
tâm đầu tư mạnh mẽ. Sau khi Viện Nghiên cứu Hải sản thí nghiệm và ứng dụng thành
công kỹ thuật đánh tôm trên tàu 200 CV năm 1975, công tác nghiên cứu tôm biển
được tổ chức thành chuyên đề riêng với mục tiêu nghiên cứu bám sát và toàn diện hơn,
qui mô rộng hơn và thiết thực hơn với sản xuất. 10
Viện Nghiên cứu Hải sản đã triển khai đề tài nghiên cứu nguồn lợi tôm he
Penaeidae trên các tàu đánh tôm chuyên dụng 200 CV (NC.01, NC.02, NC.03 và
NC.04) ở vùng biển gần bờ phía tây vịnh Bắc Bộ từ Móng Cái (Quảng Ninh) tới Cửa
1.2.3 Đặc điểm khu hệ giáp xác vùng biển Việt Nam
Thành phần loài giáp xác vùng biển Việt Nam rất đa dạng. Các kết quả điều tra
khảo sát về sinh vật biển Việt Nam tuy còn chưa thật đầy đủ và chi tiết, nhưng cho tới
nay đã cho biết vùng biển Việt Nam có khoảng 225 loài tôm biển thuộc các họ:
Penaeidae, Solenoceridae, Aristeidae, Sicyoniidae, Nephropidae, Palinuridae,
Scyllaridae, Synaxidae, Pandalidae, Cragonidae, Opophoridae, Glyphocragonidae,
Rhynchocinetidae, Polychelidae, Sergestidae, Stenopodidae, Pasiphaeidae,
Palaemonidae, Alpheidae, Coenobitidae, Squillidae, Gonodactylidae, Indosquillidae,
Odontodactylidae, Lysiosquillidae, Pseudosquillidae, Takuidae, Heterosquillidae,
Protosquillidae, Nannosquillidae, Paguridae (Động vật chí Việt Nam, 2000). Đã xác
định được 68 loài cua, ghẹ biển thuộc các họ: Portunidae, Callapidae, Corystidae,
Dorippidae, Dromidae, Goleplacidae, Grapsidae, Homolidae, Latreillidae,
Leucosiidae, Majidae, Ocypodidae, Palicidae, Parthenopidae, Raninidae, Xanthidae
(Nguyễn Văn Khôi và Nguyễn Văn Chung, 2001). Số liệu thống kê về những loài giáp
xác đã biết ở vùng biển Việt Nam được trình bày ở bảng 1.
18 Indosquillidae
19 Odontodactylidae
20 Pseudosquillidae
21 Heterosquillidae
22 Protosquillidae
23 Nannosquillidae
24 Pandalidae
72
25 Cragonidae
26 Oplophoridae
27 Glyphocragonidae
28 Rhynchocinetidae
29 Takuidae
30 Polychelidae
31 Sergestidae
Tổng số 45 255 44 68 13
1.2.4 Nghiên cứu về thành phần loài, phân bố và mùa vụ sinh sản
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về ATT-TC ở Việt Nam chưa được điều
tra trên diện rộng. Các công trình mới tiến hành nghiên cứu ở vùng cửa sông, cửa vịnh
và một số vùng trọng điểm, nên kết quả chưa toàn diện. Các nghiên cứu chủ yếu tập
trung vào hình thái phân loại học, điều tra thành phần loài, phân bố, mô tả các giai
đoạn phát triển ATT-TC của một số loài (hoặc nhóm loài).
Nguồn giống tôm cá vào đầm nước lợ Tràng Cát (Hải Phòng) đã được nghiên
cứu bởi Nguyễn Mạnh Long, Đào Tất Kim và Nguyễn Văn Bé (1976). Kết quả cho
thấy, trong những ngày đầu con nước, số lượng con giống vào đầm phong phú hơn
Những năm gần đây Viện Hải dương học (Nha Trang) và Viện Nghiên cứu Hải sản
(Hải Phòng) cũng đã tiến hành nhiều đợt khảo sát nguồn lợi hải sản ven bờ, song việc
nghiên cứu ATT-TC chỉ là một phần nhỏ và tập trung ở những vùng trọng điểm như
một số vùng cửa sông, chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về hiện trạng của ATT-
TC ở vùng ven bờ. Do đó tư liệu về thành phần loài, số lượng cá thể và biến động mùa
vụ của ATT-TC chưa đánh giá được thực trạng tiềm năng nguồn lợi ở vùng ven bờ.
16Hình 1. Phạm vi nghiên cứu của Đề tài năm 2007-2008 (A) và 2009-2010 (B)
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết bị thu mẫu ATT-TC
- Lưới kéo tầng mặt: Lưới được cấu tạo bằng sợi ni-lon, có miệng hình chữ
nhật, chiều dài 1m, chiều rộng 0,5m, kích thước mắt lưới 450µm. Lưới được thiết kế
hình chóp nón, chiều dài tính từ miệng lưới tới ống đáy là 3m, thu mẫu ớ tầng nước
0,5-0m.
- Lưới kéo thẳng đứng (xiên): Lưới có miệng hình tròn, đường kính 0,8m. Lưới
có cấu tạo giống như lưới kéo tầng mặt.
- Máy đo lượng nước qua lưới của Mỹ, độ chính xác +/- 3%, độ nhạy 0,2-
2,0m/giây.
(B)
17
Hình 2. Dụng cụ thu mẫu tầng thẳng đứng, tầng mặt và đo lượng nước qua lưới
2.2.2 Thiết kế trạm điều tra
Đề tài tiến hành điều tra ở khu vực có độ sâu < 30m nước, được chia thành 20
mặt cắt, mỗi mặt cắt cách nhau 15-20 hải lý và có từ 1 - 5 trạm, tuỳ theo từng mặt cắt.
2.2.3 Thu mẫu ấu trùng tôm - tôm con
- Lưới kéo tầng mặt: Lưới được thả cách mạn tàu khoảng 50m và cố định vào
mạn tàu. Cho tàu chạy theo hướng ngược sóng, với tốc độ khoảng 2 hải lý/ giờ. Thời