ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN MINH ĐỨC Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN GIẤY HOÀNG VĂN
THỤ, PHƯỜNG QUAN TRIỂU, THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học Môi trường
Khoa : Môi trường
Lớp :K42 - Môi trường N04
Khóa học : 2009 - 2014
Giảng viên hướng dẫn : Th.S Hà Đình Nghiêm
em, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp./.
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2014
Sinh viên Nguyễn Minh Đức
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa của cụm từ
BOD
5
Nhu cầu oxy sinh hóa
BTNMT Bộ tài nguyên môi trường
BYT Bộ y tế
CTNH Chất thải nguy hại
COD Nhu cầu oxy hóa học
NĐ-CP Nghị định – Chính phủ
QCVN Quy chuẩn Việt Nam
QĐ Quyết định
VPPA Hiệp hội giấy và bột giấy Việt Nam
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TT Thông tư
TSS Chất rắn lơ lửng
ΣN Nitơ tổng số
ΣP Photpho tổng số
DANH MỤC BẢNG
Hình 4.4 : Sơ đồ công nghệ dây chuyền sản xuất giấy bao gói ximăng 37
Hình 4.5: Sơ đồ công nghệ dây chuyền sản xuất dăm mảnh 40
Hình 4.6. Biểu đồ kết quả đo cường độ ồn tại Công ty CP giấy Hoàng Văn
Thụ 44
Hình 4.7 Biểu đồ tiếng ồn tại các vị trí khác nhau do máy móc của công ty
gây ra 45
Hình 4.8. Biểu đồ kết quả phân tích khí thải ống khói lò hơi 48
Hình 4.9: Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ % người dân đánh giá mức độ ô
nhiễm môi trường không khí 57
Hình 4.10: Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ % người dân đánh giá mức độ ô nhiễm
môi trường nước thải 58
Hình 4.11: Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ % người dân đánh giá mức độ ô nhiễm
môi trường của chất thải rắn 59
MỤC LỤC
PHẦN 1. MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu 3
1.2.1 Mục đích 3
1.2.2. Yêu cầu 3
1.3. Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn 4
PHẦN 2. TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU 5
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài 5
2.1.1. Cơ sở pháp lý 5
2.1.2. Khái niệm về môi trường 6
2.1.3. Khái niệm về ô nhiễm môi trường 8
2.2. Cơ sở thực tiễn 8
4.3. Ảnh hưởng của việc sản xuất giấy tới môi trường 40
4.3.1. Nguồn chất thải rắn thông thường 40
4.3.2. Chất thải nguy hại 43
4.3.3. Tiếng Ồn 44
4.3.4 Môi trường không khí 46
4.3.5 Môi trường nước 49
4.3.6 So sánh kết qủa hiện trạng môi trường với bản Đề án bảo vệ môi
trường chi tiết của nhà máy Giấy Hoàng Văn Thụ 54
4.3.7 Đánh giá khả năng ảnh hưởng của hoạt động sản xuất giấy tới cộng
đồng dân cư xung quanh 56
4.4. Đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục, phòng ngừa, xử lý ô nhiễm
môi trường tại Nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ 60
4.4.1. Một số giải pháp nhằm khắc phục, phòng ngừa, xử lý ô nhiễm môi
trường không khí 60
4.4.2 Một số giải pháp nhằm khắc phục, phòng ngừa, xử lý ô nhiễm môi
trường nước 61
4.4.3. Một số giải pháp nhằm khắc phục, phòng ngừa, xử lý ô nhiễm
trong quản lý rác thải rắn 61
4.4.4. Một số giải pháp góp phần đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trường,
phòng ngừa ô nhiễm, phòng tránh sự cố môi trường 62
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 64
5.1. Kết luận 64
5.2. Đề nghị 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Môi trường là nơi con người khai thác nguồn vật liệu và năng lượng
Là đơn vị đầu tiên trong cả nước sản xuất giấy in tiền trong thời kỳ
kháng chiến chống Pháp, cũng là đơn vị đầu tiên của ngành giấy đăng ký sản
xuất giấy xi măng, tuy nhiên, nhiều năm qua, Công ty “nổi tiếng” vì xả nước
thải gây ô nhiễm nghiêm trọng, thuộc diện phải xử lý triệt để theo Quyết định
64 của Thủ tướng Chính phủ.
Kể từ 25/6/2007, công ty đã tiến hành cổ phần hóa và hoạt động theo
mô hình 100% vốn cổ đông đóng góp. Thời gian qua, công ty đã thiết lập hệ
thống chặt chẽ giữa nhà cung cấp - nhà sản xuất và người tiêu dùng. Nguyên
liệu đầu vào nhập ngoại 100%, đảm bảo chất lượng cao để sản xuất ra giấy
giấy và giấy bao gói cao cấp, góp phần cung cấp ổn định nguồn nguyên liệu
cho sản xuất công nghiệp của tỉnh Thái Nguyên
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế là sự gia tăng khối lượng các
chất gây ô nhiễm thải vào môi trường sống, theo đánh giá của các nhà kinh tế
- môi trường : tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 1% thì chất lượng môi trường
suy giảm 2%. Bên cạnh các mặt tích cực đạt được, chúng ta cũng đang phải
đối mặt với nhiều vấn đề về môi trường do quá trình sản xuất công ngiệp, chế
biến nguyên liệu đã ảnh hưởng tới điều kiện sinh thái tự nhiên, gây ô nhiễm
đất, nước, không khí, Vấn đề môi trường trong quá trình sản xuất ,và chế
biến nguyên liệu phục vụ cho nhà máy đang chở nên cấp bách vì vậy việc
đánh giá hiện trạng hoạt động và tác động của nó tới môi trường là hết sức
cần thiết để từ đó làm cơ sở cho việc hình thành công nghệ ít hoặc không phế
thải nhằm bảo vệ tài nguyên, môi trường và con người, hướng tới sự phát
triển bền vững kinh tế xã hội của tỉnh Thái Nguyên nói riêng và Việt Nam nói
chung. xuất phát từ thực tế nói trên và nguyện vọng của bản thân cùng với sự
đồng ý của Ban Giám Hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Môi Trường,
dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Giảng Viên : Ths. Hà Đình Nghiêm, em tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng môi trường và đề xuất giải
pháp bảo vệ môi trường của công ty cổ phần giấy Hoàng Văn Thụ, Phường
Quan Triều, Thành phố Thái Nguyên”.
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
gian của công ty
- Đưa ra các tác động của hoạt động sản xuất tới môi trường để từ đó
giúp cho đơn vị tổ chức có các biện pháp quản lý, ngăn ngừa các tác động xấu
tới môi trường nước cảnh quan và con người.
- Làm cơ sở cho công tác quy hoạch, lập kế hoạch xây dựng chính sách
bảo vệ môi trường và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
- Nâng cao nhận thức, tuyên truyền giáo dục về bảo vệ môi trường cho
mọi công nhân viên của công ty và người dân xung quanh khu vực nhà máy
- Biết được thực trạng các vấn đề về môi trường của nhà máy để từ đó
đề xuất ra các biện pháp ngăn ngừa, giảm thiểu ô nhiễm, phục vụ cho công tác
bảo vệ môi trường của nhà máy.
- Đưa ra cái nhìn tổng quan để góp phần nâng cao trách nhiệm của ban
lãnh đạo công ty cũng như các phòng ban trước hoạt động sản xuất gây tác
động ô nhiễm, từ đó có những hoạt động tích cực trong công tác bảo vệ môi trường
5
PHẦN 2
TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Cơ sở pháp lý
- Luật bảo vệ Môi trường Việt Nam năm 2005 được Quốc hội nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày
29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006;
- Luật Đa dạng sinh học số 20/2008/QH12 ngày 13/11/2008
- Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 ngày 21/6/2012
- Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày 27/7/2004 của Chính phủ quy
định việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải
vào nguồn nước
- Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của Chính phủ về việc quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường
+ QCVN 07:2009/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng
chất thải nguy hại;
+ QCVN 19:2009/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải
công nghiệp đối với bụi và các chất vô cơ;
+ QCVN 20:2009/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải
công nghiệp đối với một số chất hữu cơ;
+ QCVN 40:2011/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải
công nghiệp;
+ QCVN 26:2010/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn;
+ QCVN 27:2010/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về độ rung;
+ Quyết định Số: 3733/2002/QĐ-BYT về việc ban hành 21 tiêu chuẩn
vệ sinh lao động, 05 nguyên tắc và 07 thông số vệ sinh lao động.
+ QCVN 12:2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải
công nghiệp giấy và bột giấy
2.1.2. Khái niệm về môi trường
“Môi trường” là một khái niệm rất rộng, được định nghĩa theo nhiều
cách khác nhau, đã được thảo luận rất nhiều và từ lâu. Nhìn chung có
những quan niệm về môi trường như sau:
- Môi trường bao gồm các vật chất hữu cơ và vô cơ quanh sinh vật.
Theo định nghĩa này thì không thể nào xác định được môi trường một
7
cách cụ thể, vì mỗi cá thể, mỗi loài, mỗi chi vẫn có một môi trường và một
quần thể, một quần xã lại có một môi trường rộng lớn hơn.
- Môi trường là những gì cần thiết cho điều kiện sinh tồn của sinh vật.
Theo định nghĩa này thì rất hẹp, bởi vì trong thực tế có yếu tố này là cần thiết
cho loài này nhưng không cần thiết cho loài kia dù cùng sống chung
một nơi, hơn nữa cũng có những yếu tố có hại hoặc không có lợi vẫn tồn tại
và tác động lên cơ thể và ta không thể loại trừ nó ra khỏi môi trường tự nhiên.
- Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo
có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời
Bảng 4.5: Tiếng ồn tại các vị trí khác nhau do máy móc của Công ty gây ra 45
Bảng 4.6 : Lượng khí thải phát sinh do sử dụng nhiên liệu 46
Bảng 4.7: Kết quả đo, phân tích môi trường không khí Công ty CP giấy
Hoàng Văn Thụ 47
Bảng 4.8 Kết quả phân tích khí thải ống khói lò hơi 48
Bảng 4.9: Tải lượng và nồng độ các chất ô nhiễm chính trong nước thải sinh
hoạt Công ty CP giấy Hoàng Văn Thụ 49
Bảng 4.10. Kết quả phân tích nước thải sản xuất khi chưa xử lý công ty cổ
phần giấy Hoàng Văn Thụ 50
Bảng 4.11: Kết quả phân tích nước thải sản xuất sau khi xử lý của công ty cổ
phần giấy Hoàng Văn Thụ 51
Bảng 4.12: Chất lượng môi trường nước sông Cầu đoạn chảy qua khu vực
Công ty CP giấy Hoàng Văn 52
Bảng 4.13: Kết quả điều tra người dân xung quanh nhà máy giấy Hoàng Văn
Thụ về chất lượng môi trường 56 9
Sản lượng giấy carton: 233,2 tr tấn/ năm.
Trong đó : giấy in báo là 42 tr tấn. Giấy in viết là 73 tr tấn caston là
67,6 tr tấn.
Quốc gia sản xuất giấy nhiều nhất là 49,5 tr tấn/ năm; ; Trung Quốc
19,5tr tấn/ năm.
Trong những năm trở lại đây, mức tăng trưởng trung bình của toàn
ngành đạt 4%/ năm( riêng khu vực Châu Á Thái Bình Dương đạt 7%/ năm).
theo dự toán của các nhà nghiên cứu từ nay đến năm 2019, mức tăng trưởng
của thế giới sẽ đạt 3,7 %/ năm về mức tiêu thụ và mức tiêu thụ trung bình sẽ
đạt 45 kg/ người/ năm với sự phân bố:
Bắc Mỹ: 294 kg/người / năm
Tây Âu : 166 kg / người / năm
2.2.1.2.Tình hình sản xuất và tiêu thụ giấy ở Việt Nam
Ngành giấy là một trong những ngành được hình thành từ rất sớm tại
Việt Nam, khoảng năm 284. Từ giai đoạn này đến đầu thế kỷ 20, giấy được
làm bằng phương pháp thủ công để phục vụ cho việc ghi chép, làm tranh dân
gian, vàng mã…
Năm 1912, nhà máy sản xuất bột giấy đầu tiên bằng phương pháp công
nghiệp đi vào hoạt động với công suất 4.000 tấn giấy/năm tại Việt Trì. Trong
thập niên 1960, nhiều nhà máy giấy được đầu tư xây dựng nhưng hầu hết đều
có công suất nhỏ (dưới 20.000tấn/năm) như Nhà máy giấy Việt Trì; Nhà máy
bột giấy Vạn Điểm; Nhà máy giấy Đồng Nai; Nhà máy giấy Tân Mai v.v.
Năm 1975, tổng công suất thiết kế của ngành giấy Việt Nam là 72.000
tấn/năm nhưng do ảnh hưởng của chiến tranh và mất cân đối giữa sản lượng
bột giấy và giấy nên sản lượng thực tế chỉ đạt 28.000 tấn/năm. (Công ty
Chứng Khoán Habubank, 2013) [11]
Năm 1982, Nhà máy giấy Bãi Bằng do Chính phủ Thụy Điển tài trợ đã
đi vào sản xuất với công suất thiết kế là 53.000 tấn bột giấy/năm và 55.000
tấn giấy/năm, dây chuyền sản xuất khép kín, sử dụng công nghệ cơ-lý và tự
động hóa. Nhà máy cũng xây dựng được vùng nguyên liệu, cơ sở hạ tầng, cơ
sở phụ trợ như điện, hóa chất và trường đào tạo nghề phục vụ cho hoạt động
sản xuất. Ngành giấy có những bước phát triển vượt bậc, sản lượng giấy tăng
trung bình 11%/năm trong giai đoạn 2000 – 2006; tuy nhiên, nguồn cung như
vậy vẫn chỉ đáp ứng được gần 64% nhu cầu tiêu dùng (năm 2012) phần còn
lại vẫn phải nhập khẩu. Mặc dù đã có sự tăng trưởng đáng kể tuy nhiên, tới
11
nay đóng góp của ngành trong tổng giá trị sản xuất quốc gia vẫn rất
nhỏ.(Công ty Chứng Khoán Habubank, 2013) [11]
Cuối năm 2012, toàn ngành có trên 239 nhà máy với tổng công suất đạt 1,38
triệu tấn/năm; 66 nhà máy sản xuất bột giấy, tổng công suất 600.000 tấn/năm.
Hiện nay Việt Nam có khoảng gần 500 doanh nghiệp giấy tuy nhiên đa
phần là các doanh nghiệp nhỏ, hộ sản xuất cá thể. Toàn ngành chỉ có hơn 90
Năm 2011 tổng tiêu thụ 2,599 triệu tấn giấy, bao gồm: 57,8 nghìn tấn
giấy in báo; 515 nghìn tấn giấy viết và in; 1.730 nghìn tấn giấy bao bì; 76,1
nghìn tấn giấy tissue và 220 nghìn tấn giấy vàng mã.
Năm 2012, tổng lượng tiêu dùng giấy đã lên 2,9 triệu tấn, bao gồm 70
nghìn tấn giấy in báo; 595 nghìn tấn giấy viết và in; 1.975 nghìn tấn giấy bao
bì; 83,1 nghìn tấn giấy tissue, riêng tiêu dùng giấy vàng mã sụt giảm chỉ còn
190 nghìn tấn – thấp hơn cả năm 2009.
Năm 2013 tổng lượng tiêu thụ 3.1 triệu tấn bao gồm 92 nghìn tấn giấy
in báo ; 650 nghìn tấn giấy viết và in ; 2140 nghìn tấn giấy bao bì ; 90,5 nghìn
tân giấy tissue và 200 nghìn tấn giấy vàng mã
Tổng thư ký VPPA cho biết, xuất khẩu giấy và các sản phẩm từ giấy
của Việt Nam đã có mặt ở thị trường 18 nước trên thế giới (thị phần nhiều
nhất là vào các thị trường Mỹ, Đài Loan, Nhật Bản…), với kim ngạch năm
2012 đạt 425 triệu USD. Tuy vậy, kim ngạch xuất khẩu giấy hiện chỉ bằng 1/3
so với kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này. Năm 2012, cả nước đã nhập khẩu
1,216 triệu tấn giấy các loại với trị giá 1,164 triệu USD, nguồn nhập nhiều từ
Trung Hoa và Indonesia) (Công ty cổ phần giấy Sài Gòn, 2012) [12]
Năng lực sản xuất bột giấy của Việt Nam cũng tăng rất nhanh. Sản
lượng bột giấy sản xuất trong nước năm 2010 đạt 345,9 nghìn tấn; năm 2011
đạt 373,4 nghìn tấn. Năm 2012, sản lượng bột giấy nước ta thiết lập mức tăng
trưởng khủng, cao hơn 30% so với năm 2011, đạt tới 484,3 nghìn tấn.
Tuy nhiên, với khối lượng này còn xa mới đáp ứng được nhu cầu cho
ngành sản xuất giấy, bởi vậy hàng năm nước ta vẫn còn phải nhập khẩu lượng bột
giấy và các sản phẩm giấy với lượng gần tương đương sản lượng trong nước.
Với tài nguyên rừng trù phú có thể phát triển các vùng nguyên liệu
phục vụ công nghiệp giấy, nhưng lợi thế này đến nay vẫn chưa được phát
triển hiệu quả. Dăm gỗ bạch đàn và gỗ keo lai, một dạng nguyên liệu thô
trong ngành giấy, thế nhưng loại nguyên này gần như được xuất khẩu hết ra
nước ngoài, với lượng xuất khẩu tăng gần 10 lần trong 10 năm qua. Năm
DANH MỤC HÌNH
về tài chính, những DN sản xuất giấy từ phế liệu đang gặp nhiều bất cập như
không có hóa đơn, chứng từ để chứng minh đầu vào, nhưng khi xuất hóa đơn
đầu ra vẫn phải chịu thuế 10%, trong khi ở nhiều nước khác, tái chế các sản
phẩm từ giấy không phải chịu thuế.Nhiều DN giấy đang có nguy cơ đứng trên
bờ vực phá sản, nhất là năm 2015 ngày càng tới gần, Cộng đồng Kinh tế
ASEAN sẽ được thành lập, mặt hàng giấy từ các nước trong khu vực sẽ tràn
vào Việt Nam với mức thuế 0%. Nếu không nhanh chóng tìm giải pháp thì
giấy Việt Nam khó đứng vững ngay trên sân nhà chứ đừng nói chuyện lấn
sang “sân khách”. Để cạnh tranh, các doanh nghiệp trong nước buộc phải
nhanh chân hơn, tăng cường đầu tư vào dây chuyền sản xuất, tiết giảm chi phí
và nâng cao chất lượng sản phẩm (Trần Mạnh Hùng, 2013) [14]
Các chuyên gia nhận định, mặc dù năng lực sản xuất giấy tăng lên,
nhưng năm 2014 sẽ gặp khó khăn ở đầu ra. Theo VPPA, suy thoái kinh tế vẫn
đang ảnh hưởng lớn tới tỷ lệ tồn kho của ngành giấy. Số liệu thống kê mới
nhất từ Bộ Công thương, sau 2 tháng đầu năm nay, lượng giấy tồn kho đã
tăng 33,7% so với cùng kỳ năm 2013. VPPA nhận định rằng : “Do lượng tiêu
thụ giảm, nên năm 2014, một số đơn vị sản xuất giấy trong nước buộc phải
cắt giảm sản lượng, thậm chí là ngừng sản xuất, nhằm giảm thấp nhất số
lượng giấy thành phẩm tồn kho, đồng thời thị trường đang có sự cạnh tranh
lớn về chính sách bán hàng giữa các đơn vị sản xuất, thương mại. (Trần Mạnh
Hùng, 2013) [14]
15
Bộ Công thương dự báo, sản lượng giấy trong nước năm 2014 dự kiến
sẽ đạt 2,19 triệu tấn giấy các loại, tăng 17,8% so với năm 2013. Do sản xuất
trong nước chưa đáp ứng đủ nhu cầu, nên trong năm 2014, ngành giấy tiếp tục
phải nhập khẩu khoảng 1,3 triệu tấn giấy, trị giá 1.350 triệu USD, bao gồm
bột giấy, giấy in báo, giấy bao bì công nghiệp. (Công ty cổ phần giấy Sài
Gòn, 2012) [12]
Việt) [3]
Mọi người cần sản phẩm giấy và chúng ta cần, sản xuất an toàn với môi
trường bền vững.
Năm 2008, tổng số nước thải nhà máy thải ra từ các nhà máy bột giấy tẩy
trắng Canada trung bình 137 mét khối mỗi tấn hoặc 104.000 m3/ngày đêm (từ
25.300 đến 311.100 m3/ngày) là tương đương với dòng chảy của sông St
Lawrence ở Cornwall, Ontario hoặc của sông Columbia ở British
Columbia.
Tổng khối lượng nước thải nhà máy phụ thuộc vào lớp và số lượng
bột giấy được sản xuất.
British Columbia, hơn nữa minh họa tải chất gây ô nhiễm có thẩm quyền
từ nguồn điểm, bao gồm cả khí thải vào không khí, nước thải lỏng, và thải
chất thải rắn.
(Số liệu từ Bộ Môi trường, Đất đai và cơ sở dữ liệu lệ phí quản
lý chất thải Park, Tháng Mười Một, 2000.) 20 ~ 23 nhà máy giấy và bột giấy
trên địa bàn tỉnh rõ ràng đóng góp đáng kể để tải ô nhiễm môi trường.
(Bách khoa toàn thư tự do của người Việt) [3]
Theo một tổ chức công dân Canada, "Mọi người cần sản phẩm giấy và
chúng ta cần, sản xuất an toàn với môi trường bền vững." Số lượng giấy và
sản phẩm giấy là rất lớn, do đó, các tác động môi trường cũng rất quan
trọng. Nó đã được ước tính đến năm 2020 nhà máy giấy sẽ sản xuất gần
500.000.000 tấn giấy và bìa mỗi năm, những nỗ lực tuyệt vời như vậy là cần
thiết để đảm bảo rằng môi trường được bảo vệ trong quá trình sản xuất, sử
dụng và tái chế / xử lý khối lượng khổng lồ này vật liệu .(Bách khoa toàn thư
tự do của người Việt) [3]
khắc phục. Khí thải từ ống khói lò hơi đốt than và đốt dầu, do không được
trang bị hệ thống lọc bụi tĩnh điện(trừ Công ty Giấy Bãi Bằng) nên nồng độ
bụi trong khí thải là rất cao. (Trần Hồng Phượng, 2007) [18]
Phong Khê : có gần 200 cơ sở sản xuất giấy, mỗi năm cung cấp cho thị
trường gần 200 nghìn tấn. Một ngày, lượng giấy sản xuất ra ở đây không dưới
500 tấn.
Theo các hộ sản xuất, để cho ra được một tấn giấy thành phẩm cần phải
sử dụng khoảng 5 đến 6 tạ than. Như vậy, lượng than và củi các cơ sở sản
xuất giấy ở đây dùng để “hun” làng mỗi ngày lên tới 400 đến 500 tấn.
MỤC LỤC
PHẦN 1. MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu 3
1.2.1 Mục đích 3
1.2.2. Yêu cầu 3
1.3. Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn 4
PHẦN 2. TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU 5
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài 5
2.1.1. Cơ sở pháp lý 5
2.1.2. Khái niệm về môi trường 6
2.1.3. Khái niệm về ô nhiễm môi trường 8
2.2. Cơ sở thực tiễn 8
2.2.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ giấy trên thế giới và Việt Nam 8
2.2.2 Tình hình ô nhiễm do sản xuất giấy trên thế giới và ở Việt Nam 15
2.3. Giải pháp giảm thiểu ô nhiễm cho nghành giấy nội địa 20
PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 22