đánh giá hiện trạng sử dụng và đề xuất giải pháp thay thế túi nilon có nguồn gốc plastic bằng túi nilon phân hủy sinh học tại các hộ kinh doanh trên địa bàn quận tân bình, thành phố hồ chí minh - Pdf 53

Luận văn tốt nghiệp
Đánh giá hiện trạng sử dụng và đề xuất giải pháp thay thế túi nilon có nguồn gốc plastic bằng túi nilon phân
hủy sinh học tại các hộ kinh doanh trên địa bàn Quận Tân Bình, Thành Phố Hồ Chí Minh

MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ................................................................................. iv
DANH MỤC HÌNH ................................................................................................... v
DANH MỤC BẢNG ................................................................................................. vi
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÚI NILON CÓ NGUỒN GỐC PLASTIC VÀ
TÚI NILON PHÂN HỦY SINH HỌC ...................................................................... 3
1.1

TỔNG QUAN VỀ TÚI NILON CÓ NGUỒN GỐC PLASTIC ................... 3

1.1.1

Thành phần ............................................................................................. 3

1.1.2

Phân loại, đặc tính .................................................................................. 4

1.1.3

Vai trò, ứng dụng của túi nilon .............................................................. 6

1.1.4

Tác hại của túi nilon tới môi trường....................................................... 6



CÁC NGHIÊN CỨU TƯƠNG TỰ............................................................. 28

CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG TÚI NILON CÓ NGUỒN GỐC
PLASTIC VÀ TÚI NILON PHÂN HỦY SINH HỌC TẠI CÁC HỘ KINH
DOANH TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN TÂN BÌNH ...................................................... 31
2.1.

TỔNG QUAN VỀ QUẬN TÂN BÌNH ...................................................... 31

2.1.1

Giới thiệu chung về quận Tân Bình ..................................................... 31

2.1.2

Điều kiện kinh tế - xã hội ..................................................................... 33

2.2.

PHƯƠNG PHÁP LẤY MẪU ..................................................................... 34

2.2.1

Giới thiệu phương pháp lấy mẫu phân lớp........................................... 34

2.2.2

Áp dụng phương pháp lấy mẫu ............................................................ 35


Lượng túi nilon phân hủy sinh học hộ KD sử dụng trong một ngày .... 40

2.3.5

Thời gian đã sử dụng túi nilon phân hủy sinh học trong kinh doanh .. 41

2.3.6

Yêu cầu của các hộ kinh doanh đối với túi nilon phân hủy sinh học... 42

2.3.7

Đánh giá về giá thành của túi nilon phân hủy sinh học ....................... 43

2.3.8

Một số đánh giá khác về túi nilon phân hủy sinh học .......................... 44

2.3.9

Biện pháp trợ giá và tỉ lệ hộ kinh doanh sẵn sàng tham gia phong

trào vận động sử dụng túi nilon phân hủy sinh học thay thế cho túi nilon
thông thường ...................................................................................................... 46
2.4

TÌNH HÌNH SỬ DỤNG TÚI NILON PHÂN HỦY SINH HỌC TẠI

CÁC SIÊU THỊ, CỬA HÀNG TIỆN LỢI TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN TÂN BÌNH48
2.5


GIẢI PHÁP THAY THẾ TÚI NILON CÓ NGUỒN GỐC PLASTIC

BẰNG TÚI NILON PHÂN HỦY SINH HỌC TẠI CÁC HỘ KINH
DOANH TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN TÂN BÌNH .................................................. 59
3.2.1

Giải pháp về kinh tế ............................................................................ 59

3.2.2

Giải pháp về mặt nhận thức, truyền thông ........................................... 60

SVTH: Nguyễn Hồng Yên
GVHD: ThS. Ngô Thị Ánh Tuyết

ii


Luận văn tốt nghiệp
Đánh giá hiện trạng sử dụng và đề xuất giải pháp thay thế túi nilon có nguồn gốc plastic bằng túi nilon phân
hủy sinh học tại các hộ kinh doanh trên địa bàn Quận Tân Bình, Thành Phố Hồ Chí Minh

3.2.3

Đề xuất triển khai áp dụng thí điểm trên địa bàn quận Tân Bình ........ 61

3.2.4

Giải pháp về công nghệ ........................................................................ 61

UBND

SVTH: Nguyễn Hồng Yên
GVHD: ThS. Ngô Thị Ánh Tuyết

:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:

Công ty Cổ Phần Văn Hóa Tân Bình
Bãi chôn lấp
Bảo vệ môi trường
Copolyme etylen- vi nyl axetat
Khoa học – Công nghệ
Đánh giá vòng đời sản phẩm
Nghị định Chính phủ
Phân hủy sinh học
Polyethylene
Poly axit lactic

nay. ........................................................................................................................... 42
Hình 2.6 Tỉ lệ đánh giá về giá thành của túi nilon phân hủy sinh học. .................... 43
Hình 2.7 Tỉ lệ đánh giá của các hộ kinh doanh về túi nilon phân hủy sinh học trên
thị trường. ................................................................................................................. 44
Hình 2.8 Tỉ lệ các hộ kinh doanh đánh gia về thời gian phân hủy của túi nilon
phân hủy sinh học .................................................................................................... 45
Hình 2.9 Tỉ lệ hưởng ứng phong trào thay thế sử dụng túi nilon có nguồn gốc
plastic bằng túi nilon phân hủy sinh học với các mức hỗ trợ đề xuất. ..................... 46
Hình 2.10 Tư cách tham gia phong trào thay thế sử dụng túi nilon thông thường
bằng túi nilon phân hủy sinh học tại các hộ kinh doanh trên địa bàn quận Tân
Bình. ......................................................................................................................... 48
Hình 3.1 Túi giấy. .................................................................................................... 54
Hình 3.2 Túi vải. ...................................................................................................... 55
Hình 3.3 Túi vải không dệt. ..................................................................................... 55
Hình 3.4 Chương trình “Ngày hội tái chế chất thải lần 9–Năm 2016” tại TP.HCM
.................................................................................................................................. 58
Hình 3.5 Chương trình truyền thông về vấn đề không sử dụng túi nilon................. 59

SVTH: Nguyễn Hồng Yên
GVHD: ThS. Ngô Thị Ánh Tuyết

v


Luận văn tốt nghiệp
Đánh giá hiện trạng sử dụng và đề xuất giải pháp thay thế túi nilon có nguồn gốc plastic bằng túi nilon phân
hủy sinh học tại các hộ kinh doanh trên địa bàn Quận Tân Bình, Thành Phố Hồ Chí Minh

DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Đặc tính của LDPE và HDPE .................................................................... 4

GVHD: ThS. Ngô Thị Ánh Tuyết

vi


Luận văn tốt nghiệp
Đánh giá hiện trạng sử dụng và đề xuất giải pháp thay thế túi nilon có nguồn gốc plastic bằng túi nilon phân
hủy sinh học tại các hộ kinh doanh trên địa bàn Quận Tân Bình

MỞ ĐẦU
Hiện nay hầu hết các siêu thị, các cửa hàng tiện lợi trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí
Minh nói chung và quận Tân Bình nói riêng đã áp dụng thay thế túi nilon có nguồn
gốc plastic bằng túi nilon phân hủy sinh học và nhận được sự quan tâm tích cực từ
người tiêu dùng. Điều này góp phần giảm thiểu đáng kể lượng túi nilon có nguồn gốc
plastic phát sinh trong hoạt động kinh doanh, tiêu dùng. Tuy nhiên tại các hộ hoạt
động kinh doanh – nguồn tiêu thụ túi nilon cao nhất vẫn chưa thực sự chú trọng đến
việc sử dụng các loại túi thân thiện môi trường, túi có khả năng tự hủy sinh học trong
kinh doanh. Mặc dù đã có rất nhiều phong trào, chương trình vận động thay thế sử
dụng túi nilon phân hủy sinh học nhưng chưa đạt hiệu quả cao do ý thức của người dân
về vấn đề bảo vệ môi trường chưa cao và thói quen khó thay đổi khi sử dụng túi nilon
trong kinh doanh và tiêu dùng.
Vì vậy, em tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá hiện trạng sử dụng và đề xuất
giải pháp thay thế túi nilon có nguồn gốc plastic bằng túi nilon phân hủy sinh học
tại các hộ kinh doanh trên địa bàn Quận Tân Bình, Thành Phố Hồ Chí Minh”
nhằm đánh giá hiện trạng sử dụng túi nilon có nguồn gốc plastic và túi nilon phân hủy
sinh học trên địa bàn quận Tân Bình, nhu cầu sử dụng túi nilon phân hủy sinh học
trong hoạt động kinh doanh. Từ đó đề xuất các giải pháp góp phần giảm thiểu sử dụng
túi nilon có nguồn gốc plastic, nâng cao nhận thức của hộ kinh doanh cũng như người
tiêu dùng, dần tạo thói quen kinh doanh và tiêu dùng đi đôi với bảo vệ môi trường,
thực hiện đề xuất thay thế túi nilon có nguồn plastic bằng túi nilon phân hủy sinh học

• Sử dụng phiếu khảo sát để khảo sát hiện trạng sử dụng túi nilon tự phân hủy
sinh học tại các hộ kinh doanh trên địa bàn quận Tân Bình.
• Sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp, đánh giá: phân tích kết quả thu được
sau khi khảo sát.
4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Phạm vi: Trên địa bàn quận Tân Bình.
Đối tượng: Các hộ kinh doanh các mặt hàng
 Thực phẩm tươi sống.
 Đồ gia dụng, tạp hóa.
 Thuốc, hóa chất, mỹ phẩm.
 Quần áo, thời trang.
Giới hạn nghiên cứu: đánh giá hiện trạng sử dụng túi nilon có nguồn gốc plastic và
túi nilon phân hủy sinh học, đề xuất giải pháp thay thế túi nilon có nguồn gốc
plastic bằng túi nilon phân hủy sinh học.

SVTH: Nguyễn Hồng Yên
GVHD: ThS. Ngô Thị Ánh Tuyết

2


Luận văn tốt nghiệp
Đánh giá hiện trạng sử dụng và đề xuất giải pháp thay thế túi nilon có nguồn gốc plastic bằng túi nilon phân
hủy sinh học tại các hộ kinh doanh trên địa bàn Quận Tân Bình

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ TÚI NILON CÓ NGUỒN GỐC PLASTIC VÀ
TÚI NILON PHÂN HỦY SINH HỌC
1.1 TỔNG QUAN VỀ TÚI NILON CÓ NGUỒN GỐC PLASTIC
1.1.1 Thành phần

Đánh giá hiện trạng sử dụng và đề xuất giải pháp thay thế túi nilon có nguồn gốc plastic bằng túi nilon phân
hủy sinh học tại các hộ kinh doanh trên địa bàn Quận Tân Bình









HDPE (High density PE): PE tỉ trọng cao.
HDXLPE (High density cross linked PE): PE khâu mạch tỉ trọng cao.
PEXLPE (Cross linked PE): PE khâu mạch.
MDPE (Medium density PE): PE tỉ trọng trung bình.
LDPE: PE tỉ trọng thấp.
LLDPE (Linear low density PE): PE tỉ trọng thấp mạch thẳng.
VLDPE (Very low density PE): PE tỉ trọng cực thấp.

Hai loại PE thường dùng để sản xuất túi nilon là HDPE và LDPE:
1.1.2 Phân loại, đặc tính
Các loại túi nilon hiện nay dùng trong mua sắm hàng hoá là túi HDPE và LDPE.
• HDPE: túi polyethylene tỷ trọng cao hay còn gọi túi xốp mỏng, không dán
nhãn, thường dùng trong các siêu thị, cửa hàng thức ăn nhanh và đại lý sản
xuất.
• LDPE: là những túi dày hơn, có dán nhãn dùng trong cửa hàng bán những sản
phẩm chất lượng cao.

Túi LDPE


60%) mạch chính bao gồm
nguyên tử Cacbon gồm ít
nhiều mạch bền 2 - 4
hơn một mạch bên tạo thành
Cacbon, dẫn đến sự sắp
một mạch thẳng dài, dẫn đến
xếp không đều và tính kết
sắp xếp đều đặn và độ kết
dính thấp(không kết tinh)
tinh cao.

Tính dẻo

Dẻo hơn HDPE vì có độ
kết tinh nhỏ hơn.

Ít dẻo hơn LDPE vì có độ
kết tinh cao hơn.

Độ bền

Không bền bằng HDPE do
sự sắp xếp không đều
trong mạch polymer

Bền do sự sắp xếp đều đặn

Tính chịu nhiệt

Duy trì được tính dẻo

Trơ về phương diện hoá học

Khi tiếp xúc với ánh sáng
và chất oxi hoá sẽ bị mất
đi tính bền.
Túi nilon, tấm phủ nhựa,
chai nhựa

SVTH: Nguyễn Hồng Yên
GVHD: ThS. Ngô Thị Ánh Tuyết

Túi lạnh, túi xốp, ống nước,
dây cáp.

5


Luận văn tốt nghiệp
Đánh giá hiện trạng sử dụng và đề xuất giải pháp thay thế túi nilon có nguồn gốc plastic bằng túi nilon phân
hủy sinh học tại các hộ kinh doanh trên địa bàn Quận Tân Bình

1.1.3 Vai trò, ứng dụng của túi nilon
Với ứng dụng phổ biến trong cuộc sống cho thấy túi nilon có nhiều ưu điểm đối với
chúng ta, cụ thể như:
• Túi nilon nhẹ, giá rẻ lại chắc chắn. Chính vì giá thành quá rẻ, túi nilon được
phát một cách miễn phí và khách hàng muốn lấy bao nhiêu tuỳ thích.
• Túi nilon có thể đựng thực phẩm ẩm ướt như thịt, cá hay nước, mà túi giấy hay
túi vải không đựng được.
• Túi nilon bọc bên ngoài bảo quản an toàn thực phẩm.
• Túi nilon bọc bên ngoài hàng hoá chống bụi, gỉ, ướt và dễ dàng vận chuyển



Luận văn tốt nghiệp
Đánh giá hiện trạng sử dụng và đề xuất giải pháp thay thế túi nilon có nguồn gốc plastic bằng túi nilon phân
hủy sinh học tại các hộ kinh doanh trên địa bàn Quận Tân Bình

• Đối với môi trường nước
Trong quá trình sản xuất túi nilon tạo ra chất thải lây lan vào môi trường nước, gây
ô nhiễm. Điển hình sản xuất ra 2 túi nilon tạo ra 0,1 g chất thải lây lan theo môi trường
nước, có khả năng phá vỡ hệ sinh thái ở môi trường đó (Phan Thị Anh Thư, 2009).
Sau khi sử dụng, một phần túi nilon bị con người xả bừa bãi trên đường phố và
xuống các con kênh, rạch. Rác nylon dơ, khó phân huỷ sẽ nổi lềnh bềnh trên mặt nước,
vừa mất cảnh quan vừa gây ô nhiễm nước. Những chiếc túi nilon rơi xuống nước làm
tắt nghẽn cống ngăn cản sự thoát nước ra khỏi thành phố theo hệ thống cống ngầm,
vừa gây ngập lụt vừa gây các tù đọng, tạo thành nơi trú ngụ và phát tán của côn trùng
(như ruồi, muỗi,…) lây truyền dịch bệnh, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, gây ô
nhiễm nặng nề đến môi trường.
Trong môi trường biển, túi ni lông phủ đáy biển như những màn ngăn, đồng thời
với đặc tính khó phân huỷ nhiều vùng biển trở thành vùng đất chết, phải mất thời gian
rất lâu mới khôi phục được. Ngoài ra, túi nylon nhẹ, nổi lềnh bềnh trên mặt nước nên
có thể di chuyển những khoảng cách đáng kể trong khu vực và có khi là toàn cầu.
• Đối với môi trường không khí
Trong suốt quá trình sản xuất túi nilon sẽ phát thải các hoá chất độc và nhiều khí
𝐶𝑂2 , gây ô nhiễm môi trường không khí. Ở Ai-Len, với xấp xỉ 1,23 triệu người đi mua
sắm, nếu chuyển 50% túi nilon sang túi vải thì lượng 𝐶𝑂2 thải hàng năm sẽ giảm
15.100 tấn. Theo Viện đánh giá môi trường vòng đời sản phẩm (1990), việc sản xuất
ra 2 túi nilon sã tạo ra 1,1 g chất làm ô nhiễm khí quyển, góp phần tạo ra mưa acid và
sương khói.
• Đối với tiêu thụ tài nguyên
Túi nilon là sản phảm thứ cấp của ngành công nghiệp dầu, không phải là tài nguyên

những chất cực kì nguy hiểm. Chất phụ gia hóa dẻo TOCP (triorthocresylphosphat) có
thể làm tổn thương và làm thoái hóa thần kinh ngoại biên và tủy sống; chất BBP (một
chất phthalate) có thể gây một số dị tật bẩm sinh nếu thường xuyên tiếp xúc với nó.
Những loại túi nilon tái chế có thể chứa DOP (dioctin phatalat) cực độc, ảnh hưởng
đến cơ quan sinh dục nam. Trẻ em nhiễm chất này lâu dài có thể thay đổi giới tính: các
bé trai có thể bị nữ tính hóa, vô sinh nam; còn bé gái có nguy cơ dậy thì rất sớm. Các
loại nilon màu nếu sử dụng để đựng thực phẩm tươi sống, đồ ăn chín có thể khiến thực
phẩm nhiễm chì, clohydric gây tác hại cho não và là nguyên nhân gây ung thư phổi.
Đặc biệt nếu sử dụng để đựng thực phẩm chua có tính axit như dưa muối, cà muối
hoặc thực phẩm nóng, các chất hóa dẻo trong túi nilon sẽ tách khỏi thành phần nhựa
lớn gây độc cho thực phẩm. Khi ngấm vào dưa chua, axit axetic hoặc axit lactic ở
trong dưa cà..sẽ hòa tan một số kim loại thành muối thủy ngân có thể gây ngộ độc và
ung thư. Túi nilon có khả năng đưa các thành phần hoá chất và chất độc vào đất và
nguồn nước, đến con người, gây nhiều nguy hiểm đến sức khoẻ như các vấn đề thần
kinh , các bệnh ung thư (Butte Environmental counsil, 2001; Lane, 2003; The Asian
News, 2005; Irin, 2005a).
Quá trình sản xuất túi nilon liên quan đến việc sử dụng dầu mỏ, than đá, khí tự
nhiên, dẫn đến phát sinh ra nhiều khí độc, gây ảnh hưởng không tốt cho những công
nhân dầu mỏ.
Khi cống rãnh nghẹt, túi nilon cũng gây tù đọng nước, sinh ra nhiều muỗi và ký
sinh trùng có khả năng lan truyền nhiều loại bệnh như viêm não, sốt xuất huyết, đáng
lưu ý nhất là bệnh sốt rét (Edu Green, 2005; Environmental Literacy Counsil, 2005;
Irin, 2005a; Irin, 2005b; U.S; Environmental Protection Agency, 2005).
1.2

TỔNG QUAN VỀ TÚI NILON PHÂN HỦY SINH HỌC

SVTH: Nguyễn Hồng Yên
GVHD: ThS. Ngô Thị Ánh Tuyết


SVTH: Nguyễn Hồng Yên
GVHD: ThS. Ngô Thị Ánh Tuyết

9


Luận văn tốt nghiệp
Đánh giá hiện trạng sử dụng và đề xuất giải pháp thay thế túi nilon có nguồn gốc plastic bằng túi nilon phân
hủy sinh học tại các hộ kinh doanh trên địa bàn Quận Tân Bình









phân tán. Chất bôi trơn là một dung môi có điểm sôi tương đối cao, có thể lựa
chọn một trong các chất: dầu trắng, acid stearic , sáp polyethylene, hoặc
polyethylene oxide. Chất phân tán trong sáng chế này sử dụng là 1,3-distearic
glyceric ester (DSGE).
Nhựa tổng hợp tự hủy sinh học là một loại polyme tổng hợp tự hủy sinh học, có
thể lựa chọn trong các nhóm sau: nhóm ester, nhóm hydroxyl, nhóm carboxyl,
hoặc nhóm xeton, chẳng hạn như: polycapro lactone (PCL), polylactic acid
(PLA), polybutylsuccinate (PBS).
Nhựa tổng hợp là chất đồng trùng hợp alkene thuộc nhóm hydroxyl, carboxyl
hoặc este, chẳng hạn như: đồng trùng hợp ethylene và vinyl acetate (EVA),
đồng trùng hợp ethylene và vinyl alcohol (EVOH), đồng trùng hợp ethylene và
acrylic acetate (EAA), có thể trộn các chất đồng trùng hợp trên với nhau.

Luận văn tốt nghiệp
Đánh giá hiện trạng sử dụng và đề xuất giải pháp thay thế túi nilon có nguồn gốc plastic bằng túi nilon phân
hủy sinh học tại các hộ kinh doanh trên địa bàn Quận Tân Bình

Hiện nay, ngoài túi nilon truyền thống (khó phân hủy), trên thị trường xuất hiện
hai dòng sản phẩm túi nilon thân thiện môi trường: Túi nilon có chứa chất phụ gia
phân hủy oxi hóa và túi nilon có độn thành phần sinh học.
a. Túi nilon có độn thành phần sinh học
Ở nước ta, việc nghiên cứu và sản xuất túi ni lông tự phân huỷ mới chỉ bắt đầu
trong những năm gần đây. Công ty sản xuất kinh doanh của những người tàn tật Hà
Nội đã mạnh dạn nhập một dây chuyền sản xuất túi nilon tự phân huỷ hiện đại của Đài
Loan. Sản phẩm của Công ty chủ yếu mới dừng lại ở những đơn đặt hàng của các bệnh
viện lớn để đựng rác thải y tế, vì loại túi nilon này khi đốt cùng với rác thải sẽ không
sinh ra khí 𝐶𝑂2 , 𝐶𝐻4 và chất Dioxin độc hại. Túi nilon tự phân huỷ có những hạn chế
nhất định như giá thành cao, túi không để lâu được, nếu không tiêu thụ được phải bỏ đi
hoàn toàn nên rủi ro trong kinh doanh là rất lớn. Công ty sản xuất kinh doanh này đã
cùng với Trung tâm Nghiên cứu vật liệu Polime Đại học Bách khoa Hà Nội đã tiến
hành nghiên cứu để đưa vào sản xuất túi nilon tự hủy. Hai chất PE và PP vẫn là hai
chất nền chính, các chất lấy từ gai, ngô, khoai, chất tương hợp sẽ được pha thêm để khi
ở một điều kiện độ ẩm nhất định, nó sẽ tự phân huỷ. Và gần đây nhất là nghiên cứu
của nhóm nghiên cứu khoa học trẻ của Khoa Khoa học Vật liệu, Đại học Khoa học tự
nhiên, Tp. Hồ Chí Minh đã sử dụng hỗn hợp tinh bột nhiệt dẻo và nhựa PVA có sự
hiện diện của khoáng sét Montmorillonite phân tán ở khích thước nanomét, cùng một
số phụ gia biến tính để làm ra sản phẩm bao bì có khả năng phân hủy sinh học hoàn
toàn và nhanh chóng, không gây ô nhiễm môi trường. PVA cũng là một trong số ít
Polyme có khả năng tự phân hủy sinh học thực sự trong môi trường đất tạo thành nước
và 𝐶𝑂2 . Từ hỗn hợp PVA và tinh bột nhiệt dẻo đã cho ra đời sản phẩm mang tính ứng
dụng cao để sản xuất bao bì. Đây cũng là tín hiệu tốt cho việc nghiên cứu, sản xuất túi
nilon tự phân hủy ở nước ta.
b. Túi nilon có chứa chất phụ gia phân hủy

nhựa sinh học, nhựa nhiệt dẻo bắt nguồn từ tinh bột như Plastarch Material, hiện
tại đang là những loại nhựa sinh học quan trọng nhất và được sử dụng một cách
rộng rãi. Bản chất của bột thuần túy là có khả năng hấp thu hơi ẩm và do đó
được ứng dụng một phần trong dược phẩm là sản xuất các viên nang chứa dược
chất. Các chất làm mềm dẻo hay hóa dẻo và đàn hồi Sorbitol và Glycerine được
thêm vào nhựa để thành phần bột có thể được gia công giống như nhựa nhiệt dẻo.
Bằng cách thay đổi hàm lượng phụ gia thêm vào thì tính chất của vật liệu có thể
thay đổi tuỳ mục đích sử dụng ( vì thế được gọi là “Nhựa nhiệt dẻo có nguồn gốc từ
ti nh bột”) .
Trong tự nhiên tinh bột có nhiều ở ngũ cốc, một số loại củ và một số loại
đậu. Hạt tinh bột có thể được kết hợp với plastic truyền thống, đặc biệt kết hợp với
polyolefins. Khi hàm lượng tinh bột trong polymer tăng, tính tự hoại của nó
cũng tăng theo và các phần khó phân hủy sẽ giảm đi. Sự giảm cấp sinh học của
polymer gốc tinh bột là kết quả của men thủy phân tấn công vào liên kết gl ycoside
giữa các nhóm đường dẫn đến giảm chiều dài mạch polymer và giải phóng các đơn
vị đường đơn ra ngoài môi trường. Khi đó plastic sẽ được phân hủy bởi vi sinh
vật, vi sinh vật sẽ sử dụng tinh bột, làm tăng độ xốp tạo khoảng trống làm mất tính
nguyên vẹ n của mạng plastic.
SVTH: Nguyễn Hồng Yên
GVHD: ThS. Ngô Thị Ánh Tuyết

12


Luận văn tốt nghiệp
Đánh giá hiện trạng sử dụng và đề xuất giải pháp thay thế túi nilon có nguồn gốc plastic bằng túi nilon phân
hủy sinh học tại các hộ kinh doanh trên địa bàn Quận Tân Bình

Có 3 loại polyme phối trộn: poly(hydroxylal kanoates) (PHA) , polylactic acid
(PLA), thermoplastic tinh bột ( TPS). Ba loại này đang được quan tâm trong

hủy sinh học tại các hộ kinh doanh trên địa bàn Quận Tân Bình

Hình 1.6 Vật liệu làm từ cellulose
• Vật liệu từ Chitin và Chitosan
Chitin được tổng hợp chủ yếu bởi côn trùng, tôm cua và nấm sợi, là
một loại composit bền vững tạo bộ khung ngoài bảo vệ cho chúng. Chitin khi
khử nhóm acetyl sẽ tạo thành Chitosan, nhưng không giống Chitin, Chitosan lại tan
được trong dung dịch axit. Chitin và Chitosan là hai loại polymer có đặc tính cơ phù
hợp để tạo dạng màng và dạng sợi.
Bảng 1.2 Chitin và Chitosan
Chitin

Chitosan

Tên hóa học: Poly-N- Acetyl-DGlucosamineor: [(1-4)]-2Acetamido-2-deoxy-ß-D-glucan
Công thức phân tử: ( C 8 H 13 NO 5 )n

Tên hóa học: Poly-(1-4)-2-Amino-2deoxy-ß-D-Glucan
Công thức phân tử: ( C 6 H 11 O 4 N)n

Chitin là một polysaccharide, có
trong thành phần cấu trúc chính của
vỏ ( bộ xương ngoài) của các động
vật không xương sống trong đó có
loài giáp xác (tôm, cua) .

• Một số vật liệu khác
Một công ty ở Anh đã phát triển 1 loại dung dịch mới, có tính thực tiễn và an toàn
đối với môi trường, giải quyết vấn đề môi trường do hàng triệu tấn rác t hải
bằng plastic gây ra. Họ tuyên bố rằng việc cắt đứt liên kết cacbon trong nhựa

kỹ thuật ép đùn.
b. Tại Việt Nam
Đối với nước ta nhựa phân hủy sinh học có thế nói là một khái niệm tương đối
mới, do nó không được sản xuất và sử dụng rộng rãi trong đời sống cũng như nhiều
ngành công, nông nghiệp. Năm 1998 một số nhà sản xuất nước ngoài đã đến Việt Nam
để nghiên cứu về khả năng làm nhựa sinh học từ bột bắp và bột khoai tây nhưng ý
tưởng của họ không thực hiện được do giá thành sản xuất cao và không đủ nguồn
nguyên liệu nên tạm gác lại.
Theo Trung tâm thông tin KH-CN TP.HCM, trong 10 năm trở lại đây, các nhà
khoa học trong các viện nghiên cứu hoặc các trường đại học nước ta đã có những
nghiên cứu nhựa phân hủy sinh học và thu được những kết quả tốt: nhóm tác giả Lê
Thị Thu Hà, Mai Văn Tiến, Phạm Thế Trinh, thuộc Viện Hóa học Công nghiệp Việt
Nam, đã công bố sáng chế “Chế phẩm nhựa tự hủy trên cơ sở polylactit và nhựa hạt
được sản xuất từ chế phẩm này”. Chế phẩm này có độ bền cơ lý cao, có khả năng tự
phân hủy dễ dàng. Ngoài ra, giải pháp cũng đề cập đến nhựa hạt được sản xuất từ chế
phẩm nhựa này, nó có thể gia công thành màng mỏng, bao bì và túi đựng tự phân
hủy...
Thạc sĩ Nguyễn Thị Thu Thảo, Viện Khoa học ứng dụng, đại diện cho nhóm
Nghiên cứu tổng hợp polymer phân hủy sinh học phục vụ nông nghiệp, đã tổng hợp
thành công một số mẫu polymer phân hủy sinh học. Các mẫu đều có khả năng phân
hủy trong đất từ 45 đến 60 ngày (phụ thuộc vào thành phần và tỷ lệ các nguyên liệu).
Polymer phân hủy sinh học được ứng dụng làm bầu ươm cây (VINAPOLFAW), ứng
dụng bọc phân NPK (NPK-VINAPOL-PL/AW) và ứng dụng làm màng bọc trái cây
(VINAPOL-FfF)...
1.2.3

Ảnh hưởng của nhựa phân hủy sinh học đến môi trường

SVTH: Nguyễn Hồng Yên
GVHD: ThS. Ngô Thị Ánh Tuyết

1.3
HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG TÚI NILON CÓ NGUỒN GỐC PLASTIC VÀ
TÚI NILON PHÂN HỦY SINH HỌC HIỆN NAY.
1.3.1 Đối với túi nilon có nguồn gốc plastic
a. Trên thế giới
Vật liệu nhựa đã được phát triển từ những năm đầu thế kỷ 20, được ứng dụng
nhiều trong đời sống sản xuất và quốc phòng. Nhiều loại đã thay thế các vật liệu
truyền thống như gỗ, thuỷ tinh, giấy, sắt thép làm bao bì, các chi tiết máy móc trong
các ngành như xây dựng, điện, điện tử và ô tô..
Sản lượng nhựa trên thế giới trước đây tăng bình quân hàng năm khoảng 3,5%.
Năm 1997, tổng sản lượng nhựa nói chung của thế giới là 127 triệu tấn, riêng Tây Âu
là 27,978 triệu tấn, trong đó LDPE chiếm 20,5%, HDPE: 14%. Năm 2010, nhu cầu
tiêu thụ hạt nhựa trên thế giới đạt 280 triệu tấn, tăng 24% kể từ năm 2006. Trong đó,
phân khúc sản xuất bao bì : chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng sản phẩm nhựa được
SVTH: Nguyễn Hồng Yên
GVHD: ThS. Ngô Thị Ánh Tuyết

16


Luận văn tốt nghiệp
Đánh giá hiện trạng sử dụng và đề xuất giải pháp thay thế túi nilon có nguồn gốc plastic bằng túi nilon phân
hủy sinh học tại các hộ kinh doanh trên địa bàn Quận Tân Bình

sản xuất (40%). Khu vực châu Á chiếm 42% tổng sản lượng tiêu thụ, châu Âu với 23%
và Bắc Mỹ 21%. Nhu cầu cho hạt nhựa PE và PP là lớn nhất (29% và 19%). Nhựa
PET (8%) là nhóm đang tăng trưởng tốt nhất với 7%/năm. Nguồn cung hạt nhựa PET
đã tăng 25% từ năm 2006 nhưng vẫn không đủ cho nhu cầu của phân nhóm này [13].
Nhu cầu nhựa bình quân trung bình của thế giới năm 2010 ở mức 40 kg/năm,
cao nhất là khu vực Bắc Mỹ và Tây Âu với hơn 100 kg/năm. Dù khó khăn, nhu cầu

150
100
100
50
50
0

1976

1989

2002

2008

2009

2010

Hình 1.7 Sản lượng nhựa thế giới sản xuất/tiêu thụ.
SVTH: Nguyễn Hồng Yên
GVHD: ThS. Ngô Thị Ánh Tuyết

17


Luận văn tốt nghiệp
Đánh giá hiện trạng sử dụng và đề xuất giải pháp thay thế túi nilon có nguồn gốc plastic bằng túi nilon phân
hủy sinh học tại các hộ kinh doanh trên địa bàn Quận Tân Bình


để gia công các sản phẩm đòi hỏi chất lượng, tiêu chuẩn cao.
• Đối với các cơ sở sản xuất túi nylon từ sản phẩm nhựa tái chế thì công nghệ thu
gom phân loại chưa được đầu tư đúng mức, chủ yếu là vẫn lao động chân tay, tốn
nhiều công sức lao động, hiệu quả thấp.

SVTH: Nguyễn Hồng Yên
GVHD: ThS. Ngô Thị Ánh Tuyết

18


Luận văn tốt nghiệp
Đánh giá hiện trạng sử dụng và đề xuất giải pháp thay thế túi nilon có nguồn gốc plastic bằng túi nilon phân
hủy sinh học tại các hộ kinh doanh trên địa bàn Quận Tân Bình

• Kỹ thuật xử lý như xay rửa tuyển nổi bằng nước chỉ phân ra dược hai loại: nhẹ nổi
như (HDPE, LDPE, PP) và nặng chìm (PS, PET, PVC), hiệu suất phân loại chỉ đạt
khoảng 60 – 80%. Công đoạn giặt rửa cũng chỉ đơn thuần tiến hành bằng nước nên
không loại bỏ được hết các chất bẩn, nhất là các loại hóa chất độc hại, thuốc trừ
sâu… Công đoạn sấy khô còn thô sơ, chủ yếu là phơi khô bằng ánh nắng mặt trời
nên chịu ảnh hưởng của thời tiết, sản phẩm dễ bị nhiễm bẩn.
Hiện nay, chất lượng các sản phẩm túi nilon là thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu
khắt khe, đòi hỏi cao của các nhà sản xuất và tiêu dùng. Việc đầu tư cho cải tiến kỹ
thuật là rất khó khăn do đa số các cơ sở sản xuất có quy mô nhỏ, vốn đầu tư ít, công
nghệ lạc hậu nên để triển khai kỹ thuật mới cần phải thay đổi hầu như toàn bộ. Đây là
một trong những khó khăn nhất trong việc nâng cao trình độ công nghệ sản xuất thông
qua sản phẩm.
Tuy nhiên, không phải tất cả các cơ sở của thành phố đều là những cơ sở nhỏ lẻ,
vẫn có một số cơ sở sản xuất có quy mô lớn và sản xuất một số mặt hàng cao cấp, cho
nên những cơ sở này đã tự đầu tư thiết bị sản xuất mới trên cơ sở sử dụng nguyên liệu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status