Đề tài: “Điều tra thành phần loài sâu bao (Lepidoptera: Psychidae) và khảo sát một số biện pháp phòng trị sâu bao Pteroma plagiophleps Hampson gây hại trên cây dừa nước (Nypa fruticans Wurmb) ở đồng bằng sông Cửu Long” - Pdf 15


TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

\
PHAN TUẤN KHANH

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƢ
NGÀNH BẢO VỆ THỰC VẬT

ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI SÂU BAO (LEPIDOPTERA:
PSYCHIDAE) VÀ KHẢO SÁT MỘT SỐ BIỆN PHÁP
PHÕNG TRỊ SÂU BAO PTEROMA PLAGIOPHLEPS

Ths. Huỳnh Phƣớc Mẫn
Luận văn tốt nghiệp
Ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT
Sinh viên thực hiện:
Phan Tuấn Khanh
MSSV: 3083860
Lớp: Bảo vệ thực vật– K34
ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI SÂU BAO (LEPIDOPTERA:
PSYCHIDAE) VÀ KHẢO SÁT MỘT SỐ BIỆN PHÁP
PHÕNG TRỊ SÂU BAO PTEROMA PLAGIOPHLEPS
HAMPSON GÂY HẠI TRÊN CÂY DỪA NƢỚC
(NYPA FRUTICANS WURMB) Ở ĐỒNG
BẰNG SÔNG CỬU LONG
Cần Thơ, 12/2011

3
Luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Bảo vệ Thực vật với đề tài:
“ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI SÂU BAO (LEPIDOPTERA: PSYCHIDAE) VÀ
KHẢO SÁT MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÕNG TRỊ SÂU BAO PTEROMA
PLAGIOPHLEPS HAMPSON GÂY HẠI TRÊN CÂY DỪA NƢỚC (NYPA
FRUTICANS WURMB) Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG”

Do sinh viên Phan Tuấn Khanh thực hiện và đề nạp

Kính trình lên Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp

Cần thơ, ngày …… tháng … năm 2011
Cán bộ hướng dẫn
……………………………………… …………………………………… 5
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu và
kết quả trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ luận văn đại học nào trước đây. Tác giả luận văn Phan Tuấn Khanh

LỜI CẢM TẠ

Kính dâng!
Cha mẹ đã suốt đời tận tụy, lo lắng cho con ăn học nên người!
Thành kính biết ơn đến!
Thầy Lê Văn Vàng đã truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm quý báu của mình;
hướng dẫn khắc phục những khó khăn trong suốt thời gian thực hiện đề tài.
Đặc biệt cảm ơn!
Anh Huỳnh Phƣớc Mẫn đã trực tiếp giúp đỡ, động viên, truyền đạt kinh
nghiệm trong suốt thời gian thực hiện đề tài. Cũng như hỗ trợ giúp đỡ trong suốt
quá trình thực hiện bố trí thí nghiệm ngoài đồng.
Chân thành cảm ơn!
Các bạn An, Liễu, Cúc, Thiện, Linh, Dương, Hạnh, Nghĩa đã giúp đỡ trong
suốt quá trình thực hiện thí nghiệm và lấy chỉ tiêu ngoài đồng.
Các anh chị nhà lưới bộ môn Bảo Vệ Thực Vật đã luôn động viên giúp đỡ
trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Thân ái gửi về!
Tập thể lớp Bảo vệ Thực vật khóa 34, lời chúc tất cả sức khỏe, thành đạt.

Xin nhận lời cảm ơn sâu sắc Phan Tuấn Khanh 8
PHAN TUẤN KHANH. 2011. Điều tra thành phần loài sâu bao (Lepidoptera:
Psychidae) và khảo sát một số biện pháp phòng trị sâu bao Pteroma plagiophleps
Hampson gây hại trên cây dừa nước (Nypa fruticans Wurmb) ở đồng bằng sông
Cửu Long, Trường Đại học Cần Thơ, 38 trang. Cán bộ hướng dẫn khoa học: Ts. Lê

đặc biệt hơn cây dừa nước còn góp phần đóng góp cho ngành du lịch bởi sự thu hút
đối với du khách khi đến vùng sông nước. Ở ĐBSCL, lá cây dừa nước được dùng
để trầm lá, phần bặp dừa thì được sử dụng làm dây, đặc biệt hơn trái dừa nước là
một thực phẩm cũng khá ngon và bổ dưỡng. Bên cạnh đó, ở một số nước ở Đông
Nam Á đã khai thác giá trị kinh tế từ cây dừa nước đó là trích lấy đường từ bông
cây dừa nước để sản xuất ethanol, năng suất ethanol có thể đạt đến 6500-20000
lít/ha/năm so với 5000-8000 lít/ha/năm nếu dùng mía đường, hay 2000 lít/ha/năm
nếu dùng bắp (Biopact 2007). Qua đó cho thấy, dừa nước có thể là cây trồng có
triển vọng để cải thiện thu nhập người dân. Tuy vậy, hiện nay cây dừa nước đang bị
nhiều loài sâu bao gây hại nghiêm trọng, đặc biệt là loài Pteroma plagiophleps
Hampson.
Trên thế giới, họ sâu bao (Lepidoptera: Psychidae) có khoảng 1000 loài đã được
báo cáo (Rhainds et al., 2009). Hầu hết những loài này đều phải hoàn tất sự phát
triển của mình trong một cái bao quanh cơ thể của nó (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2010).
Ở ĐBSCL loài Pteroma plagiophleps Hampson gây hại khá nghiêm trọng, tuy vậy
kết quả nghiên cứu các biện pháp để nhằm khống chế loài gây hại quan trọng này
hầu như chưa được ghi nhận .
Từ đó đề tài “Điều tra thành phần loài sâu bao (Lepidoptera: Psychidae) và khảo sát
một số biện pháp phòng trị sâu bao Pteroma plagiophleps Hampson gây hại trên
cây dừa nước (Nypa fruticans Wurmb) ở đồng bằng sông Cửu Long” được thực
hiện nhằm cung cấp thêm thông tin về họ Psychidae và một số biện pháp để có thể
hạn chế sự gây hại của loài sâu bao Pteroma plagiophleps Hampson đối với cây dừa
nước. Để có thể cung cấp thêm thông tin để bổ sung vào các giáo trình giảng dạy
côn trùng. 10

CHƢƠNG 1: LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 Đặc điểm sinh thái học của sâu bao bộ Lepidoptera- họ Psychidae

Bảng 1. Tóm tắt một số đặc điểm về hình thái và hành vi của thành trùng cái và nhộng đực
của 10 họ phụ của họ Psychidae (Rhainds et al., 2009)
Họ phụ
(Subfamily)
Thành trùng cái
Nhộng đực
Cánh
Chân
Ocelli
Kiểu
vũ hoá
Nơi bắt cặp
Số lƣợng hàng
gai ở bụng
Naryciinae

+ or -
+
+ or -
Kiểu 1
Xa or trên bao
Trước: nhiều
Sau: 0
T
aleporiinae

+ or -
+
+ or -
Kiểu 1

T
yphoniinae

+ or -
+
-
Kiểu 2
Trên bao
Trước: 1
Sau: 1
Psychinae

-
+
-
Kiểu 3
Trong bao
Trước: 1
Sau: 1
Epichnopteriginae

-
+ or -
-
Kiểu 4
Trong bao
Trước: 1
Sau: 1
Metisinae


cây, phía ngoài của cành…) trước khi thả tơ (Stephens, 1962; Entwistle, 1963;
Cruttwell, 1974).
Bảng 2. Tóm tắt một số đặc điểm về vòng đời của 18 loài sâu bao (Rhainds et al., 2009)
Loài
Chiều dài
thành trùng
cái (mm)
A

Thời gian
sống (ngày)
B

Cây ký
chủ (số
lƣợng)
Khả năng
sinh sản
(fecundity)
A

Psychidae
Psyche viciella
13
730
7
225
Psyche casta
7
365-730

18
365-730
10
375
Sterrbopterix fusca
13
365-730
9
180
T. ephemeraeformis
24
365
50
792
Eumeta varigata
20
365
32
3000
Eumeta crameri
14
84-365
31
628
E. moddermanni
20
110-365
16
1200
Chaliopsis junodi

Mỗi vỏ bao đều có 2 đầu: đầu lớn và đầu nhỏ. Đầu và chân ngực nhô ra ở đầu lớn
của bao, cho phép ấu trùng ăn và di chuyển trên cây trồng; đầu nhỏ mở ra để thải
phân và da (Rhainds et al., 2009). Khi vừa chui đầu ra khỏi bao của bướm mẹ, ấu
trùng không có bao. Để làm bao, ấu trùng dùng miệng cắt biểu bì lá và nhả tơ kết
dính các mảnh vụng lại bao quanh cơ thể (Huỳnh Nguyễn Quốc Việt, 2011). Ấu

13
trùng duy trì không gian bên trong bao sạch sẽ và khô ráo trong suốt giai đoạn phát
triển. Điều kiện ẩm ướt kéo dài bên trong bao có thể là điều kiện để các loài nấm ký
sinh phát triển (Kozhanchikov, 1956). Ấu trùng duy trì không gian bên trong bao
sạch sẽ và khô ráo trong suốt giai đoạn phát triển (Huỳnh Nguyễn Quốc Việt, 2011).
Ấu trùng có khả năng sửa chữa bao bị hư, nhưng khả năng xây dựng một bao mới
thì rất hạn chế (Rhainds et al., 2009; Huỳnh Nguyễn Quốc Việt, 2011). Các loài
được ghi nhận ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, thời gian phát triển của ấu trùng
biến động từ 40 ngày (Pteroma plagiophleps Hampson) đến hơn 200 ngày
(Oiketicus kirbyi Guilding) (Krishnan, 1977) (Bảng 2).
- Giai đoạn nhộng
Trước khi hoá nhộng, ấu trùng đính chặt các phần dưới của nó lên chất nền (lá cây,
cành khô…) và đảo ngược vị trí của nó ở bên trong bao với đầu hướng xuống phía
dưới (Davis, 1964; Huỳnh Nguyễn Quốc Việt, 2011); nếu ấu trùng không đảo
ngược vị trí của nó, thành trùng cái thường không thể thực hiện được chức năng
sinh dục (Rhainds et al., 2009). Ấu trùng thường tìm kiếm nơi có mật số loài cao
để làm nhộng thành từng nhóm (Kozhanchikov, 1956).
Nhộng cái lớn hơn và khác biệt về hình thái học so với nhộng đực. Giai đoạn nhộng
của nhộng cái ngắn hơn so với nhộng đực (Entwistle, 1963; Basri and Kevan,
1995a; Huỳnh Nguyễn Quốc Việt, 2011).
- Giai đoạn thành trùng
Ngay trước khi vũ hóa, nhộng đực đẩy một phần nhộng ra ngoài vỏ bao (ở đầu nhỏ);
thỉnh thoảng được hỗ trợ bởi một hàng gai ở bụng (đốt bụng 2 – 8), làm ngăn ngừa
các trường hợp nhộng đực bị rơi xuống mặt đất (Neal, 1982). Thành trùng đực có

1.1.4 Hoạt động đẻ trứng
Thành trùng cái, không cánh có chân, lưu lại trên bao sau khi giao phối và chèn
bụng (bộ phận này có thể co duỗi được) vào phần dưới của vỏ bao để đẻ trứng trong
vỏ nhộng (Davis, 1964). Quá trình đẻ trứng bắt đầu ngay sau khi giao phối và hoàn
thành trong vòng hai ngày (Syed, 1978). Sau khi bắt cặp, thành trùng cái sẽ đẻ trứng
vào bên trong vỏ nhộng và rất ít thò đầu ra ngoài bao (Huỳnh Nguyễn Quốc Việt,
2011). Thành trùng cái thường ở trong bao và di chuyển xuống mặt đất để chết sau
khi hoàn tất đẻ trứng (Entwistle, 1963;). Xác của con cái ở trong bao có thể là
nguồn thức ăn cho ấu trùng mới nở (Ameen and Sultana, 1977), hoặc là vật liệu để

15
xây dựng bao, ở một vài trường hợp nó cũng có thể là vật ngăn cản sự chui ra của
ấu trùng (Rhainds et al., 2009).
1.1.5 Sự sinh sản
Thành trùng cái sâu bao hoàn tất tất cả hoạt động sinh sản trong bao của nó, và
hành vi này được xem như một phương pháp để đánh giá sự thích nghi trong tự
nhiên (Rhainds et al., 1999). Khả năng sinh sản của con cái không bắt cặp là không.
Khả năng sinh sản của thành trùng cái có bắt cặp có thể được đánh giá bằng cách
đếm số lượng trứng trong vỏ nhộng.
Giống như loài sinh sản vô tính, loài sinh sản hữu tính không mất năng lượng trực
tiếp liên quan đến sinh sản hữu tính (chỉ chờ đợi để bắt cặp), mặc dù một tỉ lệ cao
thành trùng cái không bắt cặp có thể gián tiếp làm giảm tổng sản lượng sinh sản của
con cái (Rhainds et al., 2009).
1.1.6 Một số đặc điểm của Pteroma plagiophleps Hampson
- Ký chủ và phân bố
Theo Rhainds et al. (2009) ghi nhận được P. plagiophleps đã được báo cáo có 22
cây ký chủ thuộc các họ Arecaceae, Cannaceae, Euphorbiaceae, Fabaceae
(Caesalpinioideae và Faboideae), Lamiaceae, Lauraceae, Myrtaceae, Punicaceae,
Salicaceae, Theaceae, Ulmaceae (Nair, 2007) và họ Ochnaceae (Võ Thị Thu, 2010),
họ Combretaceae (Huỳnh Nguyễn Quốc Việt, 2011). Trong trường hợp nguồn thức

tuổi trên cây dừa nước Nypa fructican. Thời gian phát triển của ấu trùng kéo dài
khoảng 30-37 ngày. Thời gian của từng tuổi 1 đến tuổi 5 lần lượt là 5-6 ngày, 3-4
ngày, 3-4 ngày, 5-6 ngày, 4-6 ngày. Thời gian giai đoạn nhộng cái ngắn hơn so với
nhộng đực lần lượt là 2-3 ngày so với 10-11 ngày. Trong khi đó, thời gian sống của
thành trùng cái dài hơn so với thành trùng đực lần lượt là 12-15 ngày so với 2-3
ngày. Thời gian từ trứng đến thành trùng đực kéo dài 40 – 48 ngày. Trong khi đó,
thời gian từ trứng đến thành trùng cái từ 32-40 ngày (Huỳnh Nguyễn Quốc Việt,
2011).
Thành trùng đực là một loài bướm đêm hoạt động có kích thước nhỏ, chiều rộng sải
cánh khoảng 11,6-14 mm, chiều dài thân là 4-5 mm. Mắt kép màu đen to, râu hình

C Hình 1. Thành trùng đực loài P. plagiophleps. A: râu đầu, C:
vân cánh trước, D: vân cánh sau. (Huỳnh Nguyễn Quốc
Việt, 2011); B: thành trùng đực (Nair, 2007)

A
B
D

17 Hình 2. Thành trùng cái loài P. plagiophleps. A: mặt bụng của thành trùng;
B: thành trùng trong vỏ bao; C, D: thành trùng trong vỏ nhộng.
(Huỳnh Nguyễn Quốc Việt, 2011)
ong ký sinh thuộc bộ Hymenoptera đã được tìm thấy thuộc các họ như Braconidae,
Chalcididae, Eulophidae, Eurytomidae và Ichneumonidae. Võ Thị Thu (2010), đã

18
ghi nhận 3 loài thiên địch của P. plagiophleps bao gồm ong ký sinh đùi to
Brachymeria sp1. (họ Chalcididae), nhện Oxyopes sp. và một loài ong ký sinh họ
Ichneumonidae.
- Phòng trừ
Phun thuốc trực tiếp lên lá để diệt sâu. Kết quả nghiên cứu của Varma et al. (1989)
cho thấy hai loại thuốc cho hiệu quả cao bằng cách phun lên lá trong điều kiện
phòng thí nghiệm là 0,05% a.i quinaphos và methyl parathion.
1.1.7 Một số đặc điểm của Metisa plana Walker
- Ký chủ và phân bố
Ký chủ: M. plana là cũng loài đa ký chủ, gây hại trên nhiều họ cây trồng khác nhau
như họ Palmae, Papilionaceae, Rubiaceae, Theaceae và Combretaceae (Norman et
al., 1994).
Phân bố tại Ấn Độ, Sri Lanka, Malaysia (Norman et al., 1994).
- Thiệt hại về kinh tế
Theo Basri và Kevan (1995a), loài Metisa plana là loài gây hại nghiêm trọng nhất
trên cây cọ dầu bởi vì nguy cơ bộc phát dịch hại này rất dễ xảy ra: năm 1975-1980
trên 11.900 ha (Wood, 1982), năm 1981-1985 trên 37.102 ha (Basri et al., 1988).
Chúng ăn phần lá và vỏ cây làm cây trơ trọi gây thiệt hại lên đến 43% - 44%
(Wood, 1968)
- Một số đặc điểm sinh học
Vòng đời của Metisa plana khoảng 90 ± 1,2 ngày. Trong đó, thời gian từ bắt cặp
đến trứng nở là 19,7 ± 0,3 ngày; khả năng đẻ trứng (fecundity) của thành trùng cái
là 158,3 ± 10,3 trứng; thời gian sống của thành trùng: thành trùng cái là 21,4 ± 0,3
ngày, thành trùng đực là 10 ± 0,4 ngày. Ấu trùng có 6 – 7 tuổi (Basri and Kevan,
1995a).
- Thiên địch

(quài dừa). Hạt dừa nước khô già sẽ rơi rụng và phát tán theo thuỷ triều, có khi mọc
mầm ngay khi trôi nổi. Nypa có thể phát triển tốt ở điều kiện nước mặn và nước
ngọt, và có thể sống sót 1 thời gian ngắn trong điều kiện khô hạn (Joshi et al.,
2006).

20
Dừa nước thường được tìm thấy ở các bờ biển và hoàn toàn không ảnh hưởng trực
tiếp đến hầu hết các mục đích sử dụng đất khác. Chúng có thể làm giảm xói mòn,
sạt lở đất và ảnh hưởng của bão. Trong hệ sinh thái dừa nước, hệ sinh vật biển cũng
hiện diện rất đa dạng. (Elizabeth, 2010)
1.2.3 Lợi ích kinh tế và xã hội từ cây dừa nƣớc Dừa nước 4 năm tuổi có thể sử dụng để lấy nguyên liệu, sau đó nó tiếp tục cho năng
suất đến hơn 50 năm hoặc nhiều hơn (Dalibard, 1999). “Sáp” dừa nước chứa 15%
đường. Nhiều nghiên cứu cho thấy nó có khả năng sản xuất 20 tấn đường/ha /năm
(sản lượng đường của mía khoảng 5-15 tấn/ha) và năng suất có thể đạt đến 6500 -
20000 lít ethanol/ha/năm so với 5000-8000 lít nếu dùng mía đường, hay 2000 lít
nếu dùng bắp (Biopact, 2007). Ở Malaysia, đường dừa nước có mùi vị thơm ngon là
một mặt hàng xuất khẩu. Đường dừa nước có thể được trích quanh năm, sản xuất
không bị đứt quãng bởi thay đổi cơ cấu mùa vụ và cây trồng (Joshi et al., 2006).

H
17
CIF
3
N
3
O
7
.
Tên hoá học: [(S)-methyl-7-choro-2,5-dihydro-2- [(methoxycarboxyl)
[4(trifluoromethoxy) phenyl]amino] carbonyl] indeno [1,2-e][1,3,4] oxadiazine-4a
(3H)-carboxylate]
Thành phần: chế phẩm Ammate 150 SC ở dạng huyền phù chứa 150g
Indoxacard/1 lít thành phẩm và 57% dầu.
Độc tính: Nhóm độc II. LD
50
qua miệng: 751 mg/kg. LD
50
qua da: >2000 mg/kg
Thuốc ít độc với cá, thiên địch và ong (trừ trường hợp phun trúng trực tiếp), tương
đối an toàn cho người và môi trường.
Đặc tính:
- Thuốc có tác động tiếp xúc và vị độc, có tính thấm sâu. Trong cơ thể của sâu, ion
Na
+
đóng vai trò truyền các xung động về hệ thần kinh trung ương, từ đó tạo ra các
phản xạ cần thiết để cơ thể hoạt động. Indoxacarb đóng đường dẫn ion Na
+
vào tế
bào thần kinh nên các xung động thần kinh không được truyền về thần kinh trung

Chemical Ind., Ltd., Osaka, Nhật Bản).
- Dụng cụ nuôi ấu trùng: hộp nhựa, đĩa petri, giấy thấm, gòn thấm nước. Cồn 70
0
,
96
0
dùng để khử trùng dụng cụ và tẩy mẫu cùng một số vật liệu cần thiết khác sử
dụng trong phòng thí nghiệm như nhiệt kế, ẩm độ kế…
- Nguồn thức ăn: lá cây dừa nước được thu tại Bình Thủy- thành phố Cần Thơ.
- Các loại thuốc trừ sâu hóa học và sinh học cần cho thí nghiệm.
2.2 Phƣơng pháp nghiên cứu
2.2.1 Thời gian và địa điểm
- Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 7/2010 đến tháng 9/2011.

Hình 4. Cấu tạo của bẫy pheromone;
A: mái che, B: tấm dính.
A
B

24
- Địa điểm: Phòng thí nghiệm bộ môn Bảo vệ Thực vật, nhà lưới khoa Nông Nghiệp
và Sinh học Ứng dụng, trường đại học Cần Thơ và các khu vực trồng dừa nước
thuộc 3 tỉnh ĐBSCL (huyện Tam Bình và Bình Minh - Vĩnh Long, quận Bình Thuỷ
và Cái Răng – Cần Thơ, huyện Long Mỹ và Vị Thanh – Hậu Giang).

- Phương pháp định danh: mẫu các loài sâu bao được gởi sang trường đại học Nông
Nghiệp và Công Nghệ Tokyo để định danh.
2.2.2.3 Khảo sát trong phòng thí nghiệm
Khảo sát hiệu quả của một số loại thuốc trừ sâu trên loài Pteroma plagiophleps
Hamps.
- Phương pháp nhân nuôi ấu trùng P. plagiophleps:
+ Sâu non được thu thập từ các vườn bị sâu bao gây hại tại Cần Thơ và Vĩnh
Long. Khi nuôi ấu trùng đến giai đoạn thành trùng, tiến hành cho thành trùng đực
và cái bắt cặp với nhau để thu ổ trứng để thu ấu trùng mới nở sử dụng cho các thí
nghiệm trong phòng và ngoài đồng. Sâu được nuôi trong các hộp nhựa có chứa sẵn
thức ăn. Thức ăn là lá dừa nước còn tươi và được thay thường xuyên từ 1 – 2
ngày/lần (Hình 5). Phương pháp thực hiện:
+ Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên với 5 nghiệm thức
(Bảng 3) với 3 lần lặp lại, mỗi lặp lại gồm 30 mẫu ấu trùng sâu bao tuổi 4 được nuôi
trong hộp nhựa có chứa sẵn thức ăn.
+ Các cá thể ấu trùng sâu bao được ổn định ở mặt trên của lá dừa nước trong hộp
nhựa; sau đó, sử dụng bình tia phun thuốc và nước nơi có ấu trùng (đối với các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status