BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐH QUY NHƠN
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI SÂU HẠI
VÀ THIÊN ĐỊCH CỦA CHÚNG TRÊN RUỘNG
LÚA TỈNH BÌNH ĐỊNH
MÃ SỐ: T06.205.04
Chủ nhiệm đề tài: Th.s Nguyễn Kim Huân
Quy Nhơn, tháng 5/2007
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những thập niên qua, cùng với việc tăng năng suất cây trồng
thì chi phí phòng trừ các đối tượng dịch hại cũng ngày càng tăng. Theo
thống kê của tổ chức y tế thế giới (WHO) thì năm 1972 toàn thế giới sử
dụng lượng thuốc bảo vệ thực vật trị giá 7,7 tỉ USD, năm 1985 là 16 tỉ
USD, năm 1990 là 25 tỉ USD. Ở Việt Nam, từ năm 1976 đến 1980 bình
quân mỗi năm sử dụng 5.100 tấn thuốc bảo vệ thực vật, năm 1985 là
22.000 tấn, năm 1998 là 40.000 tấn [11].
Bên cạnh những ưu điểm như dập tắt dịch hại một cách nhanh chóng,
triệt để, kịp thời bảo vệ mùa màng thì biện pháp hoá học bảo vệ thực vật
cũng bọc lộ những nhược điểm: làm giảm sự đa dạng sinh học, làm mất cân
bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khoẻ con
người [7],[8].
Trước tình hình đó, biện pháp sinh học rất được quan tâm và trở
thành biện pháp cốt lõi trong hệ thống phòng trừ tổng hợp IPM. Hơn nữa
hiện nay ở Bình Định, thành phần loài sâu hại và đặc biệt là thành phần loài
thiên địch trên cây lúa chưa được nghiên cứu đầy đủ. Xuất phát từ đó
chúng tôi mạnh dạn chọn và thực hiện đề tài: “Điều tra thành phần loài
sâu hại và thiên địch của chúng trên ruộng lúa tỉnh Bình Định” nhằm:
+ Khẳng định sự đa dạng và phong phú của khu hệ thiên địch và sâu
hại lúa, đồng thời thấy được mối quan hệ giữa sâu hại và thiên địch.
mật hoa nhờ đó thụ phấn cho hoa, ấu trùng ăn lá cây, đục thân, cành, quả,
hạt,…nên gây hại nghiêm trọng trong sản xuất nông nghiệp.
1.3. Bộ cánh thẳng (Orthoptera)
Cánh trước hẹp, dài, chất da tương đối dày; cánh sau chất màng, khi
không bay cánh sau xếp như quạt phía dưới cánh trước. Đốt đùi chân sau
nở nang, thích nghi cho việc nhảy hoặc chân trước thích nghi cho việc đào
bới. Biến thái không hoàn toàn. Đa số là loài ăn thực vật, một số loài có
tính ăn rộng, riêng họ Sát sành (Tettigoniidae) có một số loài có thể bắt ăn
các côn trùng hoặc động vật bé nhỏ khác.
1.4. Bộ cánh giống (Homoptera)
4
Các loài côn trùng trong bộ này phần nhiều có kích thước bé nhỏ,
miệng kiểu chích hút. Có hai đôi cánh bằng chất màng, cánh sau nhỏ hơn
cánh trước, có khi xuất hiện dạng không cánh. Biến thái không hoàn toàn.
Phương thức sinh sản tương đối phức tạp: lưỡng tính, đơn tính, hữu tính
hoặc đẻ con. Sức sinh sản rất mạnh. phần lớn chích hút nhựa cây, có nhiều
loài là môi giới truyền bệnh virus cho cây trồng, đồng thời bài tiết các chất
dịch tạo thành môi trường cho các nấm của bệnh muội đen phát triển.
1.5. Bộ cánh nửa (Hemiptera)
Kích thước cơ thể nhỏ hoặc trung bình. Miệng kiểu chích hút. Có 2
đôi cánh, cánh trước có nửa gốc dày, cứng; nửa ngọn mỏng. Biến thái
không hoàn toàn. Tính ăn của côn trùng bộ cánh nửa rất đa dạng, có loài
chích hút thực vật, có loài kí sinh động vật bậc cao, có loài ăn thịt các côn
trùng khác.
1.6. Bộ cánh màng (Hymenoptera)
Có 2 đôi cánh bằng chất màng, cánh trước thường lớn hơn cánh sau.
Cơ quan miệng kiểu nghiền hoặc nghiền liếm. Biến thái hoàn toàn. Đặc
điểm sinh vật học của bộ này rất phức tạp, hầu hết là côn trùng có ích, có
loài là môi giới truyền thụ phấn cho cây trồng, có những loài bắt mồi và kí
sinh các loài sâu hại, có loài cung cấp mật và sáp cho y học và công nghiệp.
như tác phẩm “Hệ thống tự nhiên” trong đó côn trùng học được dành vị trí
đáng kể với việc xây dựng hệ thống 7 bộ côn trùng. Cuối thế kỉ XVIII, nhà
6
tự nhiên học nổi tiếng người Nga là Viện sĩ Pallas (1741-1811) đã nghiên
cứu nhiều về thành phần côn trùng.
Đến thế kỉ XIX, do nhiều ngành khoa học phát triển và cây trồng
cũng phát triển đã tạo điều kiện để côn trùng học thực sự trở thành một
môn khoa học. Ở Nga, Brandt (1879-1891) nghiên cứu về cấu tạo hệ thần
kinh, Keppen (1833-1908) đã công bố 3 tập về côn trùng có hại. Ở Pháp,
J.A.Fabre (1823-1915) chú ý nghiên cứu sinh vật học và hoạt động của côn
trùng. Ở thế kỉ XX, ngành côn trùng học thực nghiệm được ra đời, mà hàng
đầu là côn trùng nông nghiệp và lâm nghiệp. Thời gian này có các nhà côn
trùng học A.K.Moocvinkô (1867-1938) và N.Iakuzơnnhetxôp (1873-1948)
với các công trình nghiên cứu về phân loại học và sinh vật học, rệp muội và
bướm nổi tiếng trên thế giới. Về hình thái học côn trùng có H.Weber
(1899-1956) và R.E.Snodgrass (1875-1962) là tác giả của nhiều tác phẩm
về hình thái học côn trùng. Về lĩnh vực sinh lí côn trùng, giáo sư người
Anh V.B.Wigglesworth và giáo sư người Pháp R.Chauvin rất rổi tiếng với
những tác phẩm lớn về sinh lí học côn trùng [4].
Ngày nay, côn trùng học hiện đại là một lĩnh vực hoạt động khoa học
và thực tiễn quan trọng của nhiều cơ quan nghiên cứu, trường học và cơ sở
sản xuất. Các thành tựu to lớn về côn trùng học đã và đang được tổng kết
và thông báo tại các Hội nghị Quốc tế về Bảo vệ thực vật. Trong những
năm gần đây, các công trình nghiên cứu nổi bậc có nhiều triển vọng tốt đẹp
cho việc phòng trừ sâu hại, đó là sử dụng biện pháp sinh học. Ví vụ,
phương pháp trừ sâu bằng phêrômôn, bằng chất nội tiết sâu non – hormon
Juvenil, bằng các loại cây thảo mộc có tính độc,… Đặc biệt là việc sử dụng
các chế phẩm vi sinh vật, bảo vệ và nhân thả trên đồng ruộng các sinh vật
có ích.
7
sinh học, sinh thái học những loài gây hại nghiêm trọng để tìm ra những
biện pháp phòng trừ có hiệu quả được phát triển mạnh mẽ hơn, đặc biệt chú
ý tới các biện pháp phòng trừ sinh học và phòng trừ tổng hợp.
Năm 1988 đã xuất bản cuốn sách “Phòng trừ côn trùng gây hại bằng
yếu tố sinh học” của Phạm Bình Quyền và Bùi Công Hiển. Gần đây, chúng
ta tiếp nhận được cuốn sách “ Sinh thái học côn trùng” của Phạm Bình
Quyền (2005); “Côn trùng học ứng dụng” của Bùi Công Hiển (2003);
“Danh mục các loài sâu hại lúa và thiên dịch của chúng ở Việt Nam” của
Phạm Văn Lầm (2000); “Côn trùng và nhện hại cây ăn trái vùng đồng bằng
sông cửu long và biện pháp phòng trị” của Nguyễn Thị Thu Cúc (2000),…
Ở Bình Định trong những năm gần đây, Chi cục Bảo vệ thực vật
Tỉnh cũng đã điều tra, dự tính, dự báo tình hình sâu, bệnh trên các loại cây
trồng và tập trung vào một số loại sâu, bệnh hại chính. Đồng thời cũng đã
nghiên cứu một số biện pháp sinh học trong phòng trừ bọ dừa như: sử dụng
nấm Metarhizium anisopliae, sử dụng ong kí sinh Cotesia sp. Tuy nhiên
chưa nghiên cứu một cách đầy đủ thành phần loài sâu hại và thiên địch của
chúng ở ruộng lúa trên địa bàn Tỉnh.
3. VÀI NÉT VỀ ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ VÀ KHÍ HẬU TỈNH
BÌNH ĐỊNH
3.1. Vị trí địa lí
Bình Định là tỉnh thuộc duyên hải Nam Trung Bộ, có diện tích tự
nhiên 6.025,6 km
2
với nhiều đảo, vùng, vịnh và bãi tắm chia thành ba vùng
9
rõ rệt: vùng núi, vùng đồng bằng và vùng biển. Nằm ở toạ độ 13
0
30’ đến
14
0
Tốc
độ
gió
TB
(m/s)
Quy
Nhơn
1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 2
Hoài
Nhơn
2 2 2 2 2 1 2 1 2 2 1 3
Khí hậu miền núi tỉnh Bình Định vừa chịu ảnh hưởng của khí hậu
Tây Nguyên, vừa chịu ảnh hưởng của khí hậu vùng duyên hải nên có đặc
điểm là nắng lắm, mưa nhiều, nhiệt độ thay đổi theo địa hình. Ở vùng thấp
500 - 600 m trở xuống, nhiệt độ trung bình dao động trong khoảng 24 -
26
0
C. Ở những vùng núi cao trên 1.000 m, nhiệt độ trung bình dưới 20
0
C.
Bảng 2: Nhiệt độ trung bình qua các tháng trong năm 2006
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
11
Nhiệt
độ TB
(
o
C)
Quy
Nhơn
Miền núi tỉnh Bình Định phân thành hai mùa rõ rệt. Mùa nắng bắt
đầu từ tháng giêng đến tháng 9. Số giờ nắng ở miền núi Bình Định khá cao,
đạt mức bình quân 4 - 6 giờ nắng/ngày. Các tháng 4, 5, 6, 7, 8 là những
tháng nóng nhất trong năm, nhiệt độ trung bình ở những vùng thấp 26 -
28
0
C, ở vùng cao dao động trong khoảng 22 - 25
0
C. Những ngày nắng nhất,
nhiệt độ có thể lên tới 40
0
C.
Bảng 3: Số giờ nắng trung bình qua các tháng trong năm 2006
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Số
giờ
nắn
Quy
Nhơn
90,9 160,7
232,
4
265,1 267,8 269,6
178,
4
201,
3
193,
2
193,
3
14,
4
13,
2
10,5 9,8 7,5 7,1 145,3
Hoài
Nhơn
8,
3
11,6 15,1
16,
4
14,
9
12,8
14,
3
13,
2
11,5 9,9 7,7 6,5 142,4
Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 với lượng mưa trung bình 1.700 -
1.800 mm, nhưng phân bổ không đều (chiếm 70 - 80% lượng mưa cả năm).
Mùa mưa trùng với mùa bão nên thường xuyên gây ra bão - lụt.
Bảng 5: Lượng mưa trung bình qua các tháng trong năm 2006
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Lượn
g mưa
TB
Quy
Quy
Nhơn
84 82 83 80 76 75 64 67 77 79 79 79
Hoài
Nhơn
87 86 83 81 78 75 71 78 87 90 85 85
Bảng 7: Lượng bốc hơi trung bình qua các tháng trong năm 2006
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Lượn
g bốc
hơi
Quy
Nhơn
69,9
93,
4
80,7 80,0 102,7
132,
8
198,
3
173,
7
115,6 122,8 121,6 132,3
Hoài
Nhơn
63,
8
75,6
93,
+ Những mẫu có kích thước lớn, cơ thể cứng như côn trùng trưởng
thành được định hình bằng cách tiêm Formon 34,7%, sấy khô rồi ghim vào
hộp tiêu bản.
- Nhận dạng các mẫu sâu hại và nhận dạng các mẫu thiên địch theo
các tài liệu chuyên ngành [1], [2], [3] [5], [6], [7], [10],[12],[13], [14].
- Xác định mức độ phổ biến của sâu hại và thiên địch theo công thức
[9]:
C% = p x 100% / P
Trong đó: p là số lần lấy mẫu có loài được xét
P là tổng số địa điểm lấy mẫu
Quy ước: + (C% < 25%): ít phổ biến
++ (25% ≤ C% > 50%): phổ biến
+++ (C% ≥ 50% ): rất phổ biến.
15
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
1. THÀNH PHẦN LOÀI CÔN TRÙNG GÂY HẠI
Kết quả điểu tra thành phần loài sâu hại trên ruộng lúa tỉnh Bình
Định được trình bày ở bảng 1.
Bảng 1. Thành phần loài sâu hại trên ruộng lúa
tỉnh Bình Định năm 2006-2007
T
Tên Việt Nam Tên khoa học Họ Bộ
1.
Rầy nâu
Nilaparvata
lugens
Delphacidae
Homoptera
2. Rầy lưng trắng
Sogatella