khảo sát ảnh hưởng của thuốc bvtv đến sự đdsh các loài sâu hại và thiên địch trên cây dưa leo - Pdf 14

KSAH của thuốc BVTV đến sự ĐDSH GVHD: TS.Nguyễn Thị Hai
các loài sâu hại & thiên địch trên dưa leo
Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Rau là một thực phẩm không thể thiếu trong đời sống hằng ngày của mỗi
chúng ta. Cùng với thức ăn động vật, rau cung cấp những dinh dưỡng cần thiết cho
sự tồn tại và phát triển của con người. Tục ngữ có câu: “Cơm không rau như đau
không thuốc”. Rau cung cấp cho cơ thể những chất dinh dưỡng, đặc biệt là các
vitamin, các axít hữu cơ, chất khoáng…
Việc tăng cường rau quả vào khẩu phần ăn sẽ giúp cải thiện tình trạng sức
khỏe như giảm huyết áp, tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể và phòng bệnh
tật. Các loại rau, củ, quả quen thuộc cũng chính là các vị thuốc thần diệu.
Ngoài ra trong rau quả còn có các men ảnh hưởng tốt tới quá trình tiêu hóa.
Xenluloza của rau quả có vai trò sinh lý lớn vì cấu trúc của nó mịn màng. Trong
rau, xenluloza ở dưới dạng liên kết với các chất pectin tạo thành phức hợp pectin -
xenluloza. Phức chất này kích thích mạnh chức năng nhu động ruột và tiết dịch
ruột. Xenluloza của rau còn có khả năng bài xuất cholesterol và chất độc ra khỏi cơ
thể. Rau quả còn chống stress và tăng sự minh mẫn.
Rau cũng đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế của người
dân. Hàng năm, ngoài việc cung cấp cho thị trường trong nước thì rau của chúng ta
cũng đã xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới thu về một lượng ngoại tệ rất lớn.
Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay người trồng rau đã lạm dụng quá nhiều hóa chất
bảo vệ thực vật (HCBVTV) để phun tưới cho rau quả với mục đích lợi nhuận. Dư
lượng HCBVTV tồn dư trong rau quả có thể gây ngộ độc cấp tính hoặc trường diễn
cho người tiêu dùng. Ngộ độc thực phẩm do tồn dư HCBVTV đang là một vấn đề
bức xúc. Đã có nhiều vụ ngộ độc xảy ra do ăn rau quả bị nhiễm HCBVTV như rau
cải, bắp cải, dưa lê, dưa chuột, cà chua và gần đây là rau muống.
Hơn thế nữa việc sử dụng quá mức thuốc trừ sâu để phòng trừ sâu hại đã đem
lại những mặt trái của nó, làm suy giảm nghiêm trọng đa dạng sinh học trong nông
nghiệp dẫn đến sự suy giảm nghiêm trọng nguồn thiên địch tự nhiên, xuất hiện một

dạng sinh học hệ chân khớp và nhện trên vườn dưa leo.
1.4. Giới hạn đề tài
− Thời gian: đề tài thực hiện từ tháng 11 năm 2010 đến tháng 02 năm 2011.
SVTH: Nguyễn Hồng Mai 2
KSAH của thuốc BVTV đến sự ĐDSH GVHD: TS.Nguyễn Thị Hai
các loài sâu hại & thiên địch trên dưa leo
− Phạm vi nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu côn trùng thiên địch và
sâu hại trên vườn dưa leo ở xã An Nhơn Tây, huyện Củ Chi, Tp.HCM.
Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
SVTH: Nguyễn Hồng Mai 3
KSAH của thuốc BVTV đến sự ĐDSH GVHD: TS.Nguyễn Thị Hai
các loài sâu hại & thiên địch trên dưa leo
2.1. Khái niệm đa dạng sinh học
Theo Công ước Đa dạng sinh học, khái niệm "Đa dạng sinh học" (biodiversity,
biological diversity) có nghĩa là sự khác nhau giữa các sinh vật sống ở tất cả mọi
nơi, bao gồm: các hệ sinh thái trên cạn, trong đại dương và các hệ sinh thái thuỷ vực
khác, cũng như các phức hệ sinh thái mà các sinh vật là một thành phần, ; thuật
ngữ này bao hàm sự khác nhau trong một loài, giữa các loài và giữa các hệ sinh
thái.
2.1.1. Đa dạng loài
Đa dạng loài là tất cả sự khác biệt trong một hay nhiều quần thể của một loài
cũng như đối với quần thể của các loài khác nhau.
Mức độ loài thường được coi là một mức cố nhiên được dùng khi xem xét sự
đa dạng của tất cả các sinh vật. Loài cũng là yếu tố cơ bản của cơ chế tiến hoá, sự
hình thành cũng như sự tuyệt chủng của loài là tác nhân chính chi phối đa dạng sinh
học.
Khái niệm loài rất khác nhau giữa các nhóm sinh vật. Hơn nữa, số lượng các
loài chỉ đơn thuần cho biết một phần về đa dạng sinh học.
Một loài càng có nhiều khác biệt với các loài khác (ví dụ, có một vị trí cô lập

nhau cũng như các kiểu dạng của loài. Trong trường hợp thứ nhất, các loài khác
nhau càng phong phú, thì nói chung vùng hoặc nơi cư trú càng đa dạng. Trong
trường hợp thứ hai, người ta quan tâm tới số lượng loài trong các lớp kích thước
khác nhau, tại các dải dinh dưỡng khác nhau, hoặc trong các nhóm phân loại khác
nhau. Do đó một hệ sinh thái giả thiết chỉ có một vài loài thực vật sẽ kém đa dạng
hơn vùng có cùng số lượng loài nhưng bao gồm cả động vật ăn cỏ và động vật ăn
thịt.
2.2. Thực trạng ngành rau của Việt Nam
 Diện tích, năng suất, sản lượng
Tính đến năm 2005, tổng diện tích trồng rau các loại trên cả nước đạt 635,8
nghìn ha, sản lượng 9640,3 ngàn tấn; so với năm 1999 diện tích tăng 175,5 ngàn ha
(tốc độ tăng bình quân 3,61%/năm), sản lượng tăng 3071,5 ngàn tấn (tốc độ tăng
bình quân 7,55%/năm).
Sản xuất rau theo hướng nông nghiệp công nghệ cao đã bước đầu được hình
thành như: sản xuất trong nhà màn, nhà lưới chống côn trùng, sản xuất trong nhà
plastic không cố định để hạn chế tác hại của các yếu tố môi trường bất lợi, trồng rau
bằng kỹ thuật thuỷ canh, màng dinh dưỡng, nhân giống và sản xuất các loại cây quí
SVTH: Nguyễn Hồng Mai 5
KSAH của thuốc BVTV đến sự ĐDSH GVHD: TS.Nguyễn Thị Hai
các loài sâu hại & thiên địch trên dưa leo
hiếm, năng suất cao bằng công nghệ nhà kính của Israel có điều khiển kiểm soát các
yếu tố môi trường.
Bảng 2.1: Diện tích, năng suất, sản lượng rau phân theo vùng
TT Vùng
Diện tích (1000
ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (1000
tấn)
1999 2005 1999 2005 1999 2005

rau, hoa, cây cảnh, cây ăn trái… ứng dụng chất điều hoà sinh trưởng thực vật, công
nghệ gen, sản xuất nấm và các chế phẩm vi sinh.
 Thực trạng tiêu thụ sản phẩm rau
Hiện nước ta có khoảng 60 cơ sở chế biến rau quả với tổng năng suất 290.000
tấn sản phẩm/năm, trong đó doanh nghiệp nhà nước chiếm khoảng 50%, doanh
nghiệp quốc doanh 16% và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 34%, ngoài ra
còn hàng chục ngàn hộ gia đình làm chế biến rau quả ở qui mô nhỏ.
Hiện nay tiêu thụ rau chủ yếu cho tiêu dùng trong nước, sản phẩm rau cho chế
biến chiếm tỷ lệ không đáng kể, năm 2005 rau quả xuất khẩu chỉ đạt 235 triệu USD,
trong đó phần lớn là từ quả chế biến. Sản phẩm rau cho xuất khẩu chủng loại rất hạn
chế, hiện chỉ một số loại như cà chua, dưa chuột, ngô ngọt, ngô rau, ớt, dưa hấu ở
dạng sấy khô, đóng lọ, đóng hộp, muối mặn, cô đặc, đông lạnh và một số xuất ở
dạng tươi.
Tiêu thụ trong nước không nhiều và giá cả thất thường phụ thuộc vào lượng
hàng nông sản cung cấp trong khi mức tiêu thụ hạn chế dẫn đến tình trạng một mặt
hàng nông sản có năm rất đắt, có năm lại rất rẻ ảnh hưởng đến tính bền vững trong
sản xuất.
Sản phẩm rau trở thành hàng hoá ngay sau khi thu hoạch và nó rất dễ bị hư
hỏng trong khi hầu hết các vùng sản xuất hàng hoá lớn chưa có nơi sơ chế và kho
bảo quản tạm thời.
 Một số hạn chế trong sản xuất rau hiện nay
Công tác qui hoạch vùng sản xuất rau hàng hoá chưa rõ trong phạm vi toàn
quốc và từng vùng sinh thái, các địa phương lúng túng trong hoạch định lâu dài
chiến lược phát triển các loại cây trồng nói chung và cây rau hoa nói riêng, trong đó
có chiến lược về diện tích sản xuất.
Thị trường tiêu thụ không ổn định kể cả thị trường trong nước và nước ngoài
do sản xuất của chúng ta không chủ động về số lượng và chất lượng sản phẩm.
Vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm là vấn đề rất nan giải trong sản xuất rau hiện
nay, qui trình sản xuất rau an toàn đã và đang được ban hành song việc tổ chức sản
xuất và kiểm tra giám sát thực hiện qui trình còn kém, kết hợp với trình độ dân trí

 Giải khát, thanh nhiệt
Nhờ chứa một hàm lượng nước rất cao và vị hơi đắng, dưa leo có tác dụng giải
khát mà không ai có thể phủ nhận được. Chính vì thế, loại quả này thường xuyên
xuất hiện trong các bữa ăn với hình thức cắt lát, chẻ miếng. Tuy nhiên, nếu ăn sống
nhiều, dưa leo có thể gây khó tiêu.
SVTH: Nguyễn Hồng Mai 8
KSAH của thuốc BVTV đến sự ĐDSH GVHD: TS.Nguyễn Thị Hai
các loài sâu hại & thiên địch trên dưa leo
Ngoài tác dụng giải khát, dưa leo còn có tác dụng lọc máu, hòa tan axit uric và
urat, lợi tiểu và gây ngủ nhẹ. Do hàm lượng canxi cao nên dưa leo có tác dụng tốt
đối với trẻ em chậm lớn và người già. Người bị bệnh tim mạch, cao huyết áp, dùng
loại quả này cũng rất tốt nhờ lượng kali dồi dào.
 Thải độc, lợi tiểu
Là cơ quan quan trọng bậc nhất trong quá trình bài trừ độc tố, thận có chức
năng lọc những chất độc trong máu và những cặn bã sinh ra sau quá trình phân giải
các protein và bài tiết chúng ra ngoài qua nước tiểu. Với tác dụng lợi tiểu, dưa leo
có thể làm sạch niệu đạo, giúp thận thải ra ngoài những chất độc trong ống tiểu.
Ngoài ra, dưa leo còn có tác dụng hỗ trợ giải độc cho phổi, gan và dạ dày. Do
đặc điểm giàu kali và ít natri, dưa leo kích thích sự lưu thông nước trong cơ thể.
Ngoài ra, nó còn có tác dụng bù đắp lượng khoáng cho cơ thể với tỷ lệ cực kỳ thích
hợp.
 Thực phẩm giảm cân
Nhờ tác dụng ức chế sự hình thành mỡ trong cơ thể, dưa leo rất có lợi cho
người mập muốn giảm cân. Nó có khả năng khống chế đường chuyển hóa thành
mỡ, đồng thời giúp tăng cường hoạt động của dạ dày, ruột, không làm tăng năng
lượng cho cơ thể nhờ chứa nhiều chất xơ. Ngoài ra, dưa leo còn giúp giảm lượng
cholesterol và chống khối u.
 Hỗ trợ điều trị AIDS
Qua thực nghiệm hơn 10 năm, các nhà khoa học đã phát hiện ra một số loại
thực phẩm thiên nhiên có tác dụng kháng HIV. Ở đầu xanh thẫm của quả dưa có

riêng biệt; hoa đực mọc thành cụm từ 5 - 7 hoa; dưa leo cũng có hoa lưỡng tính. có
giống trên cây có cả 3 loại hoa và có giống chỉ có 1 loại hoa trên cây. Hoa có màu
vàng, thụ phấn nhờ côn trùng, bầu noãn của hoa cái phát triển rất nhanh ngay trước
khi hoa nở. Các giống dưa leo trồng ở vùng ĐBSCL thường ra hoa sớm, bắt đầu ở
nách lá thứ 4 - 5 trên thân chính, sau đó hoa nở liên tục trên thân chính và nhánh.
Sự biến dị về tính trạng giới tính ở dưa leo rất rộng, đó là đặc tính thích nghi
mạnh của cây trong điều kiện môi trường. Nói chung, điều kiện ngày dài, nhiệt độ
cao và các điều kiện bất lợi khác làm cho cây cho nhiều hoa đực. Ngoài ra, tỉa
nhánh, sử dụng kích thích sinh trưởng và chế độ phân bón có thể ảnh hưởng đến sự
SVTH: Nguyễn Hồng Mai 10
KSAH của thuốc BVTV đến sự ĐDSH GVHD: TS.Nguyễn Thị Hai
các loài sâu hại & thiên địch trên dưa leo
biến đổi giới tính của cây. Các dạng cây có giới tính khác nhau ở dưa leo được
nghiên cứu và tạo lập để sữ dụng trong chọn tạo giống lai.
Trái, hạt: Lúc còn non có gai xù xì, khi trái lớn gai từ từ mất đi. Trái từ khi
hình thành đến khi thu hoạch có màu xanh đậm, xanh nhạt, có hay không có hoa
văn (sọc, vệt, chấm), khi chín trái chuyển sang màu vàng sậm, nâu hay trắng xanh.
Trái tăng trưởng rất nhanh tùy theo giống, có thể thu trái từ 8 - 10 ngày sau khi hoa
nở. Phẩm chất trái không chỉ tùy thuộc vào thành phần các chất dinh dưỡng trong
trái mà còn tùy thuộc vào độ chặc của thịt trái, độ lớn của ruột trái và hương vị trái.
Trái chứa hạt màu trắng ngà, trung bình có từ 200 - 500 hạt/trái.
Cây ra hoa
Hình 2.1: Hình ảnh về cây dưa leo
SVTH: Nguyễn Hồng Mai 11
Cây ra hoa rộ
Cây ra trái rộ
KSAH của thuốc BVTV đến sự ĐDSH GVHD: TS.Nguyễn Thị Hai
các loài sâu hại & thiên địch trên dưa leo
2.3.4. Điều kiện sinh trưởng
Dưa leo thuộc nhóm ưa nhiệt, nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng và phát triển

(IFA, 1992).
SVTH: Nguyễn Hồng Mai 12
KSAH của thuốc BVTV đến sự ĐDSH GVHD: TS.Nguyễn Thị Hai
các loài sâu hại & thiên địch trên dưa leo
2.4. Kỹ thuật trồng dưa leo
2.4.1. Giống: Có hai nhóm giống dưa leo
2.4.1.1. Nhóm dưa trồng giàn: Canh tác phổ biến ở những nơi có điều kiện làm
giàn. Các giống dưa trong nhóm này có:
 Các giống lai F1
− Mummy 331: Nhập nội từ Thái Lan, sinh trưởng khá, ra nhánh mạnh, bắt
đầu cho thu hoạch 35 - 37 NSKG, trái suông đẹp, to trung bình (dài 16 - 20 cm,
nặng 160 - 200 g), vỏ màu xanh trung bình, gai trắng, thịt chắc, phẩm chất ngon,
dòn, không bị đắng, năng suất trung bình 30 - 50 tấn/ha.
− Giống 759: Nhập nội từ Thái lan, sinh trưởng mạnh, cho thu hoạch 35 - 37
NSKG, trái thẳng, to trung bình, gai trắng, màu trái hơi nhạt hơn nhưng năng suất
và tính chống chịu tương đương Mummy 331.
− Mỹ Trắng: Nhập nội từ Thái Lan, cây phát triển và phân nhánh tốt, cho thu
hoạch 35 - 37 NSKG, tỉ lệ đậu trái cao, trái to trung bình, màu trắng xanh, gai trắng,
ít bị trái đèo ngay cả ở giai đoạn cuối thu hoạch.
− Mỹ Xanh: Nhập nội từ Thái Lan, cây sinh trưởng tốt, chống chịu tốt hơn
giống Mỹ Trắng, trái to tương đương Mỹ Trắng nhưng cho nhiều trái và năng suất
cao hơn.
− Happy 2 và Happy 14: Nhập nội từ Hà Lan, cây phát triển rất mạnh nên
cần giàn cao, cây cho 100 % hoa cái, có 10 % cây đực cho phấn. Do đó trong kỹ
thuật trồng chú ý đảm bảo tỉ lệ cây đực trong quần thể. Trái to (dài > 20 cm, nặng >
200g), màu xanh trung bình, ruột nhỏ, gai trắng nên trái giữ được rất lâu sau thu
hoạch. Dưa Happy chống chịu tốt bệnh đốm phấn và cho năng suất cao tương
đương các giống F1 khác.
 Các giống dưa leo địa phương
− Dưa leo Xanh: Tăng trưởng khá, ít đâm nhánh nên phải trồng dày, cho trái

các loài sâu hại & thiên địch trên dưa leo
Hình 2.2: Giống dưa leo TN169
2.4.2. Kỹ thuật canh tác
2.4.2.1. Thời vụ
Có thể trồng quanh năm, tuy nhiên dưa leo tăng trưởng tốt trong mùa mưa hơn
mùa khô. Các vụ trồng khác nhau có thuận lợi và khó khăn khác nhau:
− Vụ Hè Thu: gieo tháng 5 – 6, thu hoạch tháng 7- 8 dl, đây là thời vụ chính
trồng dưa leo giàn. Mùa nầy dưa cho năng suất cao, ít sâu bệnh và đở công tưới
nước.
− Vụ Thu Đông: gieo tháng 7- 8, thu hoạch 9 – 10 dl, do mưa nhiều, cây có
cành lá xum xuê, cho ít hoa trái. Trong thời kỳ trổ bông nếu gặp mưa liên tục vào
buổi sáng thì cây đậu trái kém hoặc trái non dễ bị thối, vụ nầy dưa dễ bị bệnh đốm
phấn nên thời gian thu hoạch ngắn.
− Vụ Đông Xuân: Gieo tháng 10 – 11, thu hoạch tháng 12 – 1dl, dưa leo bò
và dưa giàn đều trồng được. Vụ này thời tiết lạnh, thường có dịch bọ trĩ và bệnh
đốm phấn phát triển mạnh nên phải đầu tư cao.
− Vụ Xuân Hè: Gieo tháng 1-2, thu hoạch 3 – 4 dl, mùa nầy nhiệt độ cao
thích hợp cho dưa leo trồng đất. Cuối mùa nắng, thời tiết khắc nghiệt nhất trong
năm, lượng nước bốc thoát qua mặt đất và lá dưa nhiều, nếu không tưới đủ nước
cây sinh trưởng kém thân ngắn, lá nhỏ, hoa trái ít và cho năng suất thấp.
2.4.2.2. Làm đất và gieo hạt
SVTH: Nguyễn Hồng Mai 15
KSAH của thuốc BVTV đến sự ĐDSH GVHD: TS.Nguyễn Thị Hai
các loài sâu hại & thiên địch trên dưa leo
Dưa leo có yêu cầu đất nghiêm khắc do bộ rễ yếu và sức hấp thụ của rễ kém,
nếu gặp hạn hay úng hoặc nồng độ phân cao bộ rễ dưa dễ bị vàng khô, vì thế nên
trồng dưa trên đất có thành phần cơ giới nhẹ như cát pha, đất thịt nhẹ thoát thủy tốt,
có nhiều chất hữu cơ, pH từ 6.5 – 7.5.
Nên làm đất kỹ. Đất mặt phải cày cuốc sâu, lên líp cao 20 – 25 cm để trồng
trong mùa mưa hoặc trồng có làm giàn, mùa nắng trồng dưa thả bò trên đất ruộng

kg Urê, 50 kg DAP và 100 kg KCl hoặc 200 – 300 kg Urê, 500 – 700 kg super lân,
150 – 200 kg KCl, 20-25 tấn phân chuồng và 1-2 tấn tro trấu.
Bảng 2.2: Một ví dụ về thời điểm, loại phân và liều lượng bón cho 1 ha dưa leo
Loại phân
Số lượng
cả vụ (kg)
Bón lót
Tưới thúc Bón thúc (ngày sau gieo)
5-10 15-20 30-35 40-45
Phân dơi 100 100 - - - -
N-P-K 16-16-8 40 10 - 10 10 10
Ure 15 - 5 - 5 5
DAP 5 - 5 - - -
KCl 10 - - - 5 5
Ở những vùng có tập quán bồi bùn, phân thúc được chia làm 2 lần bón 2 bên
líp vào 12 và 20 NSKG, sau đó bồi bùn lên mặt líp để lấp phân. Phân bón nuôi trái
cũng được chia làm nhiều lần sau các đợt thu trái. Ngoài ra có thể phun bổ sung
phân qua lá SUPERMES để tăng tỉ lệ trái loại 1.
 Tưới nước
Mùa nắng tưới 1 ngày 2 lần vào buổi sáng và buổi chiều. Tăng cường lượng
nước tưới và diện tích tưới xung quanh gốc khi cây lớn, nhất là thời kỳ ra hoa trái
rộ; cần thoát nước tốt trong mùa mưa. Trong trường hợp tưới rảnh, không nên để
nước quá cao trong mương tưới khi cây lớn vì có thể làm hạn chế hoặc hư rễ dưa
mọc dài ra mương, tốt nhất là rút cạn nước trong mương sau khi tưới.
 Phủ rơm, làm giàn
Sau các lần bón thúc, cây bỏ vòi ngã ngọn bò. Trồng dưa bò đất phải đậy rơm
xung quanh gốc để giữ ẩm hoặc rải rơm rạ khắp mặt ruộng cho dưa bò, đồng thời
bảo vệ trái khỏi hư thối do tiếp xúc trực tiếp với đất ẩm và rơm cũng hạn chế sự
phát triển của cỏ dại.
SVTH: Nguyễn Hồng Mai 17

trắng ở trên trái, trái cỡ 15 – 25 cm tuỳ giống, thu hoạch vào buổi sáng. Nếu để trái
SVTH: Nguyễn Hồng Mai 18
Làm giàn kiểu chữ nhân (X)
KSAH của thuốc BVTV đến sự ĐDSH GVHD: TS.Nguyễn Thị Hai
các loài sâu hại & thiên địch trên dưa leo
quá già sẽ ảnh hưởng đến sự ra hoa và đậu quả của những lứa sau Phương pháp thu
hoạch
 Phương pháp thu hoạch
− Trang bị đồ bảo hộ lao động, găng tay cao su.
− Sử dụng dao nhọn cắt trái có cuống không quá 1 cm, và giữ trong
giỏ/thùng sạch.
− Thùng/giỏ chứa không quá 10 kg trọng lượng trái.
 Tiêu chuẩn chất lượng trái
Trái non, tươi, màu xanh nhạt đến đậm, trái còn phấn trắng, cứng, dài
15 – 25 cm cho dùng tươi và trữ lạnh.
Không có bệnh, côn trùng và những chất không tốt trên bề mặt trái.
Phủ bạt và gieo hạt
Tiêu chuẩn trái khi thu hoạch
Hình 2.3 : Quy trình trồng dưa leo
2.4.3. Kỹ thuật phun thuốc
 Đúng thuốc
Sử dụng thuốc có hiệu quả cao với loài sinh vật hại cần phòng trừ, ít độc hại
với người, môi trường và thiên địch (dựa vào những thông tin trên nhãn thuốc: chỉ
số LD 50 cao > 2000, băng màu chỉ độ độc, nhóm thuốc nhanh phân huỷ, thời gian
cách ly ngắn, lượng sử dụng trên đơn vị diện tích thấp….)
SVTH: Nguyễn Hồng Mai 19
KSAH của thuốc BVTV đến sự ĐDSH GVHD: TS.Nguyễn Thị Hai
các loài sâu hại & thiên địch trên dưa leo
Không sử dụng thuốc không rõ nguồn gốc, không có tên trong danh mục thuốc
được phép sử dụng, không sử dụng thuốc cấm.

trước thu
SVTH: Nguyễn Hồng Mai 20
KSAH của thuốc BVTV đến sự ĐDSH GVHD: TS.Nguyễn Thị Hai
các loài sâu hại & thiên địch trên dưa leo
hoạch
Chết cây
con
Carbendazim
(50WP)
50 g/1 kg hạt
giống
Ngâm tạo lớp bao
phủ hạt trước khi gieo
Hexaconazole
Theo hướng
dẫn trên nhãn
Phun khi cây bắt đầu
nhiễm bệnh, phun
cách 7 ngày/lần
7 ngày
Validamycin 5 ngày
Sương
mai, thán
thư
Thiophanate –
methyl (70 WP)
16 gam
Phun khi cây bắt đầu
nhiễm bệnh, phun
cách 7 ngày/lần

Dừng sử dụng
trước khi thu
hoạch
Sâu xanh
sọc
trắng,
Sâu
khoang
Lambda-cyhalothrin
(2.5 EC)
8 ml
Phun khi trung bình
có 1 ổ trứng hoặc 1
con/cây.
8 ngày
Chlorfluazuron (5
EC)
8 ml 7 ngày
Cypermethrin (10
EC, 25 EC)
10 ml và 5 ml 5-7 ngày
Bacillus thuringiensis
Beauveria
Theo hướng
dẫn trên nhãn
Phun khi trung bình
có 1 – 2 con/cây.
5 ngày
Bọ trĩ,
Bọ dưa

nhện, 5 – 7 ngày/lần
(lưu ý không phun
thuốc khi trời nắng
nóng dễ hại cây)
7 ngày
Hexythiazox (5 EC) 5 ml 7 ngày
Dòi đục

Cyromazine ( 75 WP,
100 SL)
15-20 g
10-15 ml
Phun khi côn trùng
phát sinh gây hại
( khi tỷ lệ lá bị hại
lớn hơn 30% )
7 ngày
(Nguồn : Báo điện tử-NN và PTNT 2002)
2.5. Thành phần sâu bệnh hại trên cây dưa leo
Sâu, bệnh hại là yếu tố chính ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển và năng
suất của cây dưa leo. Nghiên cứu phòng trừ sâu, bệnh hại cho sản xuất an toàn trên
cây dưa leo, Caldwell và cộng sự (2005) cho biết, dưa leo bị rất nhiều loài sâu, bệnh
hại tấn công. Trong đó, nhóm bệnh cây cần phải kể đến là các bệnh chết cây, lở cổ
rễ do nấm Rhizoctonia solani, bệnh thối quả và chết cây do nấm Fusarium spp,
bệnh chết cây do nấm Verticillium sp. Phytopthrora spp, bệnh ghẻ quả do nấm
Clasdosporium cucumerium, bệnh phấn trắng do nấm Sclerotinia sp, bệnh thán thư
do Colletotrichum orbiculare… Bên cạnh đó, các loài sâu hại chính cho cây dưa leo
là: Aphis gossypii, bọ trĩ Thrips palmi, nhện đỏ Tetranychus urticae, dòi đục quả
Delia platura, Bọ ăn lá Acalymma sp…( Hoffmann, M.P., Frodsham, A.C. (1993).
Thành phần sâu, bệnh hại trên cây dưa leo ở Việt Nam không được nghiên cứu

thời vụ, giai đoạn sinh trưởng của cây, thời tiết một con trưởng thành có thể đẻ
340 - 510 trứng.
 Thiên địch
Có nhiều loại thiên địch, theo tài liệu nước ngoài có các loài như:
SVTH: Nguyễn Hồng Mai 23
KSAH của thuốc BVTV đến sự ĐDSH GVHD: TS.Nguyễn Thị Hai
các loài sâu hại & thiên địch trên dưa leo
− Ong ký sinh sâu non: Apanteles machaeralis; Apanteles taragamae;
Argyroplylax proclinata.
− Ong ký sinh trứng: Trichogramma chinosis.
− Vi khuẩn gây bệnh cho ấu trùng: Bacillus thuringensis.
 Biện pháp phòng trừ
Nhiều loại thuốc hóa học có thể dùng để trừ sâu xanh có hiệu quả cao như
Cyperin, Sherzol, Vertimex, Tập kỳ , lưu ý khi dùng thuốc:
− Dùng thuốc khi sâu còn nhỏ.
− Khi dưa có trái nên dùng thuốc sinh học như nhóm thuốc gốc BT cũng có
hiệu quả cao và an toàn cho người sử dụng.
2.5.1.2. Sâu khoang
 Phân bố và ký chủ
Xuất hiện nhiều nước trên thế giới, vùng nhiệt đới, Đông nam Á, Đông Âu,
Úc.
Ở nước ta sâu khoang phá hại nhiều loại cây trồng (200 loại cây trồng).
 Biện pháp phòng trị
− Cày bừa phơi đất, diệt nhộng;
− Gom trứng và sâu tiêu huỷ;
− Dùng bẫy chua ngọt.
− Kiểm tra trứng và sâu trên 100 cây/1.000m
2
, định kỳ 5 – 7 ngày/lần, nếu có
trung bình một ổ trứng hoặc 1 – 2 con/cây phải phun thuốc phòng trị;

ký sinh, chuồn chuồn
− Khi phát hiện có nhiều sâu xanh mới nở có thể phun thuốc trong nhóm
Pyrethroid, thuốc vi sinh có nguồn gốc BT, các loại thuốc gốc Abamectin, thuốc
chống lột xác như Atabron. Lưu ý để phòng trị có hiệu quả cần phát hiện sâu non
khi chưa đục vào quả và trong thời kỳ thu hoạch trái nên dùng các loại thuốc có thời
gian cách ly ngắn.
2.5.1.4. Bọ trĩ (bù lạch)
 Phân bố
SVTH: Nguyễn Hồng Mai 25

Trích đoạn Phương pháp nghiên cứu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status