Khảo sát ảnh hưởng của thuốc BVTV đến sự ĐDSH
các loài sâu hại & thiên địch trên cây cà chua
CHƯƠNG I
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Rau quả thuộc loại thực phẩm không thể thiếu được trong bữa ăn hàng ngày.
Ngoài giá trị dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển cơ thể, rau quả còn là nguồn
thực phẩm quan trọng trên thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu mang lại lợi
nhuận lớn cho người sản xuất, góp phần nâng cao nguồn thu nhập cho nền kinh tế
quốc dân.
Điều kiện đất đai, khí hậu nước ta rất thuận lợi để phát triển rau xanh và cây ăn
quả nhưng cũng là môi trường thích hợp cho các loại côn trùng, sâu bọ, nấm mốc
phá hoại. Do vậy, trong thực hành nông nghiệp không thể tránh khỏi việc sử dụng
thuốc bảo vệ thực vật để phòng sâu bệnh cũng như các chất bảo quản rau quả trong
quá trình lưu thông phân phối.
Hiện nay, tình trạng vệ sinh an toàn của rau quả nói chung và đối cây cà chua
nói riêng là vấn đề đáng lo ngại:
- Việc dư lượng thuốc bảo vệ thực vật với nồng độ quá cao là tác nhân thường
gặp ở một số vụ ngộ độc gây rối loạn thần kinh trung ương, nhức đầu, nôn mửa, mất
ngủ, giảm trí nhớ, với mức độ nặng hơn có thể tổn thương thần kinh ngoại biên dẫn
đến liệt.
- Hội chứng nhiễm độc não thường gặp đối với thuốc bảo vệ thực vật nhóm
thủy ngân hữu cơ và lân hữa cơ. Các hội chứng về tim mạch, hô hấp, tiêu hóa, gan,
mật và hội chứng về máu cũng có thể xảy ra ở những trường hợp nặng, tỷ lệ tử vong
cao.
- Hơn thế nữa, việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, chất kích thích
sinh trưởng…không đúng quy định làm cho tổn dư các chất hóa học độc hại trong
rau quả tuy ở liều lượng chưa gây ngộ độc cấp tính nhưng với thời gian sử dụng kéo
dài cũng có thể dẫn đến nguy cơ tích lũy và gây tổn thương một số bộ phận trong cơ
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 1
SVTH: Nguyễn Thị Minh
địch trên cây cà chua tại huyện Bình Chánh để từ đó làm cơ sở cho việc xây dựng
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 2
SVTH: Nguyễn Thị Minh
Khảo sát ảnh hưởng của thuốc BVTV đến sự ĐDSH
các loài sâu hại & thiên địch trên cây cà chua
các biện pháp bảo tồn các loài côn trùng có ích phục vụ cho công tác sản xuất rau
an toàn của TP.HCM.
1.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra tình hình sử dụng thuốc trừ sâu, bệnh trên cây cà chua tại huyện
Bình Chánh.
- Điều tra sự đa dạng côn trùng trên cây cà chua trên địa bàn huyện Bình
Chánh.
- Bước đầu tìm hiểu ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc hóa học đến sự đa
dạng hệ chân khớp trên cây cà chua.
- Diễn biến số lượng của một số loài sâu hại và thiên địch chính .
1.4 Giới hạn đề tài
- Thời gian: đề tài thực hiện từ tháng 26/11 – 26/02/2011
- Phạm vi nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu côn trùng thiên địch và sâu
hại trên ruộng cà chua huyện Bình Chánh, Tp.HCM
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 3
SVTH: Nguyễn Thị Minh
Khảo sát ảnh hưởng của thuốc BVTV đến sự ĐDSH
các loài sâu hại & thiên địch trên cây cà chua
CHƯƠNG II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Định nghĩa về đa dạng sinh học
Theo Công ước Đa dạng sinh học, khái niệm "Đa dạng sinh học" (biodiversity,
biological diversity) có nghĩa là sự khác nhau giữa các sinh vật sống ở tất cả mọi
nơi, bao gồm: các hệ sinh thái trên cạn, trong đại dương và các hệ sinh thái thuỷ vực
khác, cũng như các phức hệ sinh thái mà các sinh vật là một thành phần, ; thuật
Theo Dương Trí Dũng (2001) đa dạng sinh học là sự biến đổi trong sinh vật
sống từ mọi nguồn như trong không khí, đất, biển, trong hệ thống môi trường nước
khác là một phức hợp sinh thái nơi nó tồn tại, điều này bao gồm sự đa dạng về loài
(đa dạng di truyền hay còn gọi là đa dạng gen), giữa các loài (đa dạng loài), và các
hệ sinh thái (đa dạng hệ sinh thái).
Theo Phạm Bình Quyền (2006), đa dạng sinh học là sự phong phú của tất cả các
loài sinh vật từ các hệ sinh thái trên cạn, ở biển và các hệ sinh thái dưới nước, và
mỗi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên; đa dạng sinh học bao gồm sự đa dạng trong
loài (đa dạng di truyền hay còn gọi là đa dạng gen), giữa các loài (đa dạng loài), và
các hệ sinh thái (đa dạng hệ sinh thái).
2.2 Đặc điểm của cây cà chua
Tên khoa học: Lycopersicum esculentum Miller
- Cà chua là một trong những cây thực phẩm khá quan trọng đối với đời sống
con người, là loại rau ăn trái rất được ưa thích vì phẩm chất ngon và chế biến được
nhiều cách, cà chua còn cho năng suất cao. Ở nhiều nước trên thế giới đã phát triển
trồng cà chua trên qui mô khá rộng được canh tác khoảng 200 năm nay ở Châu Âu
để làm cây thực phẩm, ở Bungari có diện tích trồng rau chiếm 70% tổng diện tích
trồng trọt, trong đó cây cà chua chiếm 40% diện tích.
- Trong những năm qua, nước ta đã mở rộng diện tích trồng cà chua trên một
qui mô lớn. Ở nước ta việc phát triển trồng cà chua còn có ý nghĩa quan trọng về
mặt luân canh, tăng vụ và tăng năng suất trên đơn vị diện tích, do đó cà chua là loại
rau được khuyến khích phát triển. Tuy nhiên, việc trồng cà chua chưa được phát
triển mạnh theo mong muốn vì cà chua trồng trong điều kiện nóng và ẩm ở nước ta
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 5
SVTH: Nguyễn Thị Minh
Khảo sát ảnh hưởng của thuốc BVTV đến sự ĐDSH
các loài sâu hại & thiên địch trên cây cà chua
dễ mắc nhiều bệnh gây hại đáng kể như héo tươi, virus, khó phòng trị. Để đảm
bảo cho năng suất cà chua ngày càng tăng và ổn định, ngoài những biện pháp cần
giải quyết về giống, canh tác, đất đai, phân bón… thì vấn đề sâu hại cà chua cần
trung, phục vụ cho việc trồng dày và thu hoạch cơ giới.
• Lá: Lá thuộc lá kép lông chim lẻ, mỗi lá có 3 - 4 đôi lá chét, ngọn lá có 1 lá
riêng gọi là lá đỉnh. Rìa lá chét đều có răng cưa nông hay sâu tùy giống. Phiến lá
thường phủ lông tơ. Đặc tính lá của giống thường thể hiện đầy đủ sau khi cây có
chùm hoa đầu tiên.
• Hoa: Hoa mọc thành chùm, lưỡng tính, tự thụ phấn là chính. Sự thụ phấn
chéo ở cà chua khó xảy ra vì hoa cà chua tiết nhiều tiết tố chứa các alkaloid độc nên
không hấp dẫn côn trùng và hạt phấn nặng không bay xa được. Số lượng hoa trên
chùm thay đổi tùy giống và thời tiết, thường từ 5 - 20 hoa.
• Quả: Trái thuộc loại mọng nước, có hình dạng thay đổi từ tròn, bầu dục đến
dài. Vỏ trái có thể nhẵn hay có khía. Màu sắc của trái thay đổi tùy giống và điều
kiện thời tiết. Thường màu sắc trái là màu phối hợp giữa màu vỏ trái và thịt trái
Quá trình chín của trái chia làm 4 thời kỳ:
- Thời kỳ trái xanh: Trái và hạt phát triển chưa hoàn toàn, nếu đem dấm trái
không chín, trái chưa có mùi vị, màu sắc đặc trưng của giống.
- Thời kỳ chín xanh: Trái đã phát triển đầy đủ, trái có màu xanh sáng, keo
xung quanh hạt được hình thành, trái chưa có màu hồng hay vàng nhưng nếu đem
dấm trái thể hiện màu sắc vốn có.
- Thời kỳ chín vàng: Phần đỉnh trái xuất hiện màu hồng, xung quanh cuống
trái vẫn còn xanh, nếu sản phẩm cần chuyên chở đi xa nên thu hoạch lúc nay để trái
chín từ từ khi chuyên chở.
- Thời kỳ chín đỏ: Trái xuất hiện màu sắc vốn có của giống, màu sắc thể hiện
hoàn toàn, có thể thu hoạch để ăn tươi. Hạt trong trái lúc nay phát triển đầy đủ có
thể làm giống.
• Hạt: Hạt cà nhỏ, dẹp, nhiều lông, màu vàng sáng hoặc hơi tối. Hạt nằm trong
buồng chứa nhiều dịch bào kiềm hãm sự nảy mầm của hạt. Trung bình có 50 - 350
hạt trong trái. Trọng lượng 1000 hạt là 2,5 - 3,5g.
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 7
SVTH: Nguyễn Thị Minh
Khảo sát ảnh hưởng của thuốc BVTV đến sự ĐDSH
25 – 30 tấn Nito, 2 – 3 kg Photpho, 30 – 35 kg Kali. Vì ở giai đoạn tăng trưởng và
phát dục của cây trùng lấp nhau và nhu cầu cây cần chất dinh dưỡng cho đến khi
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 8
SVTH: Nguyễn Thị Minh
Khảo sát ảnh hưởng của thuốc BVTV đến sự ĐDSH
các loài sâu hại & thiên địch trên cây cà chua
trái chín, do đó việc bón lót, bón thúc nhiều lần, bón luân phiên phân vô cơ và hữu
cơ giúp tăng hiệu quả sử dụng chất dinh dưỡng cho cây và tăng năng suất. Phần lớn
chất dinh dưỡng nuôi quả được cây hấp thụ sau khi trổ hoa, do đó cây yêu cầu chất
dinh dưỡng nhiều nhất khoảng 10 ngày sau khi hoa nở cho đến khi trái bắt đầu chín
2.2.2.2 Phương hướng chọn giống
• Giống F1 nhập nội
- Red Crown 250 (nhập từ Đài Loan do công ty Giống Cây Trồng Miền Nam
phân phối): Là giống lai F1, thân sinh trưởng vô hạn cao 1,5-2m, cần làm giàn chắc
chắn, cây tăng trưởng mạnh, chống chịu tốt bệnh héo vi khuẩn và thối hạch khá,
trồng được trong mùa nắng cũng như trong mùa mưa, khả năng đậu trái cao trong
mùa mưa, trái phát triển đều, trái tròn, hơi có khía, rất cứng và ít nứt trái trong mùa
mưa. Giống cho thu hoạch 65-70 ngày sau khi trồng, thời gian thu hoạch dài, năng
suất 30-40 tấn/ha.
- TN52 (nhập từ Ấn Độ do công ty Trang Nông phân phối): Là giống lai F1,
thân sinh trưởng hữu hạn, trồng được quanh năm, trái to dạng hình vuông, chín đỏ
đẹp, thịt dầy rất cứng, trọng lượng trái trung bình 90-100g, thu hoạch 65-70 ngày
sau khi trồng, năng suất biến động từ 20-30 tấn/ha, lượng hột giống tròng cho
1.000m2 từ 8-10 g (330-350 hột/g), trồng được quanh năm.
- Cà chua F1 số 607 (công ty Hai Mũi tên Đỏ phân phối): Là giống lai F1, thân
sinh trưởng hữu hạn, tán cây và lá phân bố gọn, kháng bệnh héo xanh tốt, chịu
nhiệt, trồng được quanh năm. Trái dạng trứng, ngắn, hơi vuông, chín màu đỏ tươi,
cứng, trọng lượng trung bình 100-120g/trái. Đây là giống lai F1, không nên lấy hột
trong trái ăn tươi đem trồng lại vì năng suất và phẩm chất giảm.
• Giống địa phương
Mùa mưa rất bất lợi cho cây cà nên về kỹ thuật trồng trọt, chăm sóc đòi hỏi
người trồng cà phải tuân thủ nghiêm ngặt qui trình kỹ thuật, kỹ lưỡng và tay nghề
cao, thường lợi tức cao gấp 2-3 lần so với chính vụ.
• Gieo hạt và ương cây con
- Chuẩn bị cây con:
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 10
SVTH: Nguyễn Thị Minh
Khảo sát ảnh hưởng của thuốc BVTV đến sự ĐDSH
các loài sâu hại & thiên địch trên cây cà chua
+ Trước khi gieo hạt nên ngâm hạt trong nước ấm 40 – 500C trong khoảng 3
giờ. Sau đó, cho hạt vào túi vài bọc giấy kín. Để ở chỗ kín, sau khoảng 3 – 4 ngày
rễ mọc thì đem gieo vào vườn ươm.
Sau khi gieo hạt đều trên mặt đất, rải 1 lớp tro mỏng, trên phủ một lớp rơm mỏng,
trên phủ một lớp rơm mỏng và tưới nước để có đủ độ ẩm. Sau khi gieo khoảng 30 –
40 ngày, cây đạt 5 – 6 lá, có thể đem trồng.
+ Lượng hột gieo cho 1.000 m
2
là 7-10 gram (330-350 hột/gram). Hột gieo
trong bầu đất hay gieo trên liếp ương 15-20 ngày đem trồng, cây con già hơn dễ ngã
trong mùa mưa. Làm mái che cho cây con khi mưa. Đơn giản có thể dùng ni long
trong suốt dễ dàng dở ra khi trời nắng hoặc lưới ni long mịn giữ suốt giai đoạn vườn
ương giúp cản bớt giọt mưa to.
Chú ý: Xử lý cây con trong vườn ương bằng phun thốc ngừa bệnh héo cây con
trên liếp trước khi gieo hột bằng Oxyt đồng hoặc Copper B, sau đó cách 4-5 ngày
phun một lần và phun 1 ngày trước khi đem trồng bằng một trong các loại thuốc
Ridomil, Alliette, Rovral, Monceren, Benlate, Copper Zinc, Topsin-M, Kasuran ,
rãi Basudin sau khi gieo để ngừa kiến tha hột. Đối với cà thấp cây có thể trồng dầy
hơn, khoảng cách cây 0.3-0.4m.
• Chuẩn bị đất trồng
- Chọn đất:
chuẩn bị trồng.
+ Luống cà chua có chiều rộng 110 – 120 cm, rãnh rộng 20 – 25 cm, cao 30 cm
+ Các luống nên bố trí theo hướng Đông – Tây
+ Trồng cà chua vụ xuân lên luống cao hơn vụ thu đông.
+ Bón lót và trồng cà chua ra ruộng sản xuất:
+ Hố trồng cuốc sâu 12 – 15 cm. Mỗi hố bón 1kg phân chuồng hoai mục (có
thể thay phân chuồng bằng nước phân trên mỗi luống đánh 2 rãnh sâu 12 – 18 cm
cách nhau 80 cm, phân nước được tưới vào rãnh này và phủ đất lên, phơi đất
khoảng 2 ngày rồi trồng cây)
+ Mật độ trồng cà chua tuy thuộc vào đặc điểm của giống, mức độ phì nhiêu
của đất nhưng có thể bố trí như sau: Nên trồng cà chua vào buổi chiều. Hàng cách
hàng 80 cm, cây cách cây 60 cm, hoặc có thể là cây cách cây 40 cm. Khi trồng nên
cắt bớt rễ cái để cho cây khi trồng bén rễ nhanh. Nên trồng cây to với cây to cây
nhỏ với cây nhỏ để tiện chăm sóc. Sau khi trồng ấn nhẹ đất vào gốc cây và làm
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 12
SVTH: Nguyễn Thị Minh
Khảo sát ảnh hưởng của thuốc BVTV đến sự ĐDSH
các loài sâu hại & thiên địch trên cây cà chua
bằng phẳng đất chung quanh gốc. Trồng xong tưới nước cho cà chua ngay. Nếu
chưa kịp bón lót thì tưới nước, pha thêm phân bắc để cung cấp dinh dượng cho cây.
2.2.2.4 Kỹ thuật chăm sóc
- Hạn chế côn trùng và bệnh hại: Mặt màu bạc của màng phủ phản chiếu ánh
sáng mặt trời nên giảm bù lạch, rầy mềm, giảm bệnh do nấm tấn công ở gốc thân và
đốm trên lá chân
- Ngăn ngừa cỏ dại: Mặt đen của màng phủ ngăn cản ánh sáng mặt trời, làm
hạt cỏ bị chết trong màng phủ.
- Điều hoà độ ẩm và giữ cấu trúc mặt đất: Màng phủ ngăn cản sự bốc hơi nước
trong mùa nắng, hạn chế lượng nước mưa nên rễ cây không bị úng nước, giữ độ ẩm
ổn định và mặt đất tơi xốp, thúc đẩy rễ phát triển, tăng sản lượng.
- Giữ phân bón: Giảm rửa trôi của phân bón khi tưới nước hoặc mưa to, ít bay
sử dụng phân bón. Mùa mưa cần chú ý thoát nước tốt, không để nước ứ đọng lâu.
- Làm giàn: Việc làm giàn được tiến hành sau khi cây ra chùm hoa thứ nhất,
giàn giữ cho cây đứng vững, để cành lá và trái không chạm đất, hạn chế thiệt hại do
sâu đục trái và bệnh thối trái làm thiệt hại năng suất, giúp kéo dài thời gian thu trái.
Kiểu giàn chữ nhân như giàn cho dưa leo đối với giống cao cây, còn giống thấp cây
thì nên đóng trụ tre hoặc tràm xuanh quanh hàng cà, cao 50 cm, dùng dây ni long
cột xung quanh.
- Tỉa chồi, lá, nụ hoa
+ Tỉa chồi: Nhiều nghiên cứu cho thấy trồng cà chua không tỉa chồi cho năng
suất thấp hơn có tiả chồi. Tạp quán nông dân trồng cà chua ở đồng bằng sông Cửu
Long không tỉa cành, thân lá xum xuê thường không đạt năng suất cao. Cần tiả kịp
thời khi nhánh mới lú ra 3-5 cm để dinh dưỡng tập trung nuôi trái, thường xuyên tỉa
bỏ mầm nách vô hiệu. Dùng tay đẩy gẩy chứ không dùng móng tay ngắt hoặc dùng
ké cắt vì dễ nhiễm bệnh qua vết thương.
+ Tỉa lá: Nên tỉa bớt các lá chân đã chuyển sang màu vàng để ruộng được
thoáng, nhất là những chân ruộng rậm rạp, dễ nhiễm bệnh trồng dầy trong muà
mưa.
+ Tỉa trái: Mỗi chùm hoa chỉ nên để 4-6 trái, ngắt cuối cành mang trái để dinh
dưỡng tập trung nuôi trái, trái lớn đều cở, giá trị thương phẩm cao.
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 14
SVTH: Nguyễn Thị Minh
Khảo sát ảnh hưởng của thuốc BVTV đến sự ĐDSH
các loài sâu hại & thiên địch trên cây cà chua
+ Bấm ngọn: Đối với giống thời gian sinh trưởng dài, cao cây, giai đoạn gần
cuối thu hoạch nên bấm ngọn để trái lớn đều, thu tập trung giúp kết thúc mùa vu
gọn.
- Ngăn ngừa rụng quả: Để ngăn ngừa hiện tượng rụng quả, quả ta sử dụng chất
kích thích sinh trưởng 2,4 – D (phun thuốc này ngay cả khi hoa chưa thụ phấn). Khi
phun thuốc cần chờ cho hoa nở được khoảng hơn một nửa rồi mới phun 2,4 – D cần
tránh không cho thuốc dây vào lá vì thuốc làm quăn lá nếu xảy ra trường hợp này
Vén màng phủ lên rãi phân phía còn lại hoặc bỏ phân vào lổ giữa 2 gốc cà.
+ Lần 4: Khi cây 70-80 ngày sau khi cấy đối với giống cao cây, còn giống thấp
cây đã kết thúc thu hoạch.
Lượng bón: 4 kg Urê, 4 kg Clorua kali, 10-15 kg 16-16-8 + 3 kg Calcium nitrat.
Vén màng phủ lên rãi phân hoặc bỏ phân vào lổ giữa 2 gốc cà.
Chú ý: Cây họ cà rất nhạy cảm với triệu chứng thiếu Calcium, biểu hiện là thối đít
trái. Ngoài việc bón lót vôi bột (tức là đã cung cấp thêm Calcium), nếu không bón
thúc Calcium Nitrat vào đất như hướng dẫn trên bà con có thể bổ sung bằng Clorua
canxi (CaCl2), nồng độ 2-4 %o phun trên lá định kỳ 7-10 ngày/lần từ lúc trái non
phát triển.
Nếu không dùng màng phủ, nên chia nhỏ lượng phân hơn và bón nhiều lần để
hạn chế mất phân.
Có thể dùng thêm phân bón lá vi lượng như Master Grow, Risopla II và IV,
Miracle, phun định kỳ 10 ngày/lần từ khi cấy đến 10 ngày trước khi thu hoạch đợt
đầu tiên, nồng độ theo khuyến cáo trên nhản chai phân. Không nên lạm dụng chất
kích thích tăng trưởng nhất là giai đoạn phát triển trái vì dễ bị bệnh và giảm phẩm
chất trái.
2.2.2.6 Kỹ thuật để giống cà chua
Khi cần tạo giống thì chọn những cây khoẻ, quả chín sớm, sai quả. Sau khi chọn
cây chú ý theo dõi quá trình ra quả của cây. Tiến hành loại quả chùm quả thứ nhất
chỉ lấy chùm quả thứ 2 – 3 để lấy quả làm hạt giống. Mỗi chùm giống tiến hành tỉa
chỉ để lại 2 – 3. Khi quả giống chín tiến hành thu hoạch cắt quả giống để vào chậu
sành, sứ 5 -6 ngày cho thối rữa hết thịt quả tiến hành đãi lấy hạt. Hạt được phơi nơi
thoáng mát, dung đũa đảo đều cho nhanh khô. Cho hạt bảo quản trong thùng lớn
dưới đáy để vôi sống chống ẩm. Trung bình muốn cứ 1kg hạt giống thì phải chọn
150 – 200 quả cà chua giống.
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 16
SVTH: Nguyễn Thị Minh
Khảo sát ảnh hưởng của thuốc BVTV đến sự ĐDSH
các loài sâu hại & thiên địch trên cây cà chua
cây này sang cây khác khi cầm. Chúng nằm ở trong cây nhiễm bệnh, trong số đó có
thể có cây mọc dại mà chúng không biểu hiện triệu chứng. Những vi rút này được
truyền từ cây này qua cây khác do loài ruồi trắng lá bạc.
- Phòng trừ
+ Sự lây lan của vi rút gây bệnh xoắn lá cà chua có thể ngăn ngừa bằng cách
loại bỏ các cây ký chủ ra khỏi vùng có bệnh, và bằng cách chế ngự loài ruồi trắng
có mặt trên cây trước khi loại bỏ cây.
+ Ở những vùng nhiễm bệnh, việc chế ngự dịch bệnh vi rút cà chua phụ thuộc
vào việc chế ngự sự lan tràn của loài ruồi trắng. Cách thức làm việc trên đồn điền
nơi đã có những cây cũ bị nhiễm vi rút cà chua và cũng là nơi có số lượng ruồi trắng
quá cao thì đặc biệt quan trọng. Nếu ruồi trắng ởnhững cây cũ bị nhiễm bệnh không
được chế ngự, thì chúng có thể di chuyển sang những cây mới và làm cho những
cây này bị nhiễm vi rút cà chua. Có nhiều thông tin về cách thức xử lý loài ruồi
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 18
SVTH: Nguyễn Thị Minh
Hình 2.1: Bệnh xoăn lá cà chua
Khảo sát ảnh hưởng của thuốc BVTV đến sự ĐDSH
các loài sâu hại & thiên địch trên cây cà chua
trắng trong số phát hành "Cách thức xử lý loài ruồi trắng lá bạc cho các vụ hoa
màu hay nhất”
2.3.2 Bệnh mốc sương cà chua (Phytophthora infestans)
- Nguyên nhân
+ Bệnh mốc sương do nấm Phytophthora infestans (Mont) de Bary, thuộc bọ
Peronosporales, lớp Phycomycetes có chu kỳ phát triển hoàn toàn bao gồm giai
đoạn sợi nấm, sinh sản vô tính (bào tử phân sinh – bào tử động) và sinh sản hữu tính
tạo ra bào thử trứng.
+ Sợi nấm hình ống, đơn bào, có nhiều nhân. Cành bào tử phân sinh đâm ra
ngoài qua lỗ khí khổng hoặc trực tiếp qua biểu bì cây, đơn độc từng cành hoặc từng
nhóm 2 – 3 cành. Trong điều kiện độ ẩm 90 – 100%, đặc biệt đêm có sương và mưa
phùn, nhiệt độ 14,6 – 22,90C thì bào tử được hình thành rất nhiều. Bào tử phân sinh
+ Ở trên thân, cành vết bệnh ban đầu hình bầu dục nhỏ hoặc hình dạng không
đều đặn, sau đó vết bệnh lan rộng bao quanh và kéo dài dọc thân cành, màu nâu
hoặc nâu sẫm, hơi lõm và ủng nước. Khi trời ẩm ướt, thân cành bị bệnh giòn, tóp
nhỏ, dễ gẫy. Khi trời khô ráo vết bệnh không phát triển thêm, màu nâu xám, cây có
thể tiếp tục sinh trưởng.
+ Trên hoa: vết bệnh màu nâu hoặc màu đen xuất hiện ở đài hoa ngay sau khi
nụ được hình thành, bệnh lan sang cánh hoa, nhị hoa, cuống hoa làm cho cả chùm
hoa bị rụng.
+ Trên quả: trên quả lớn vết bệnh có thể xuất hiện ở núm hoặc ở giữa quả, lúc
đầu màu nâu nhạt, sau thành nâu đậm hoặc nâu đen, vết bệnh lan khắp bề mặt quả.
Quả bệnh khô cứng, bề mặt sù sì lồi lõm. Thịt quả bên trong vết bệnh cũng có màu
nâu, khoảng trống trong quả có tán nấm trắng, khi trời ẩm ướt trên bề mặt vết bệnh
ở quả cũng có lớp nấm trắng xốp bao phủ. Về sau quả bệnh thối đen nhũn.
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 20
SVTH: Nguyễn Thị Minh
Khảo sát ảnh hưởng của thuốc BVTV đến sự ĐDSH
các loài sâu hại & thiên địch trên cây cà chua
+ Trên hạt: hạt trong quả bị bệnh cũng bị hại, hạt bị bệnh nặng thường nhỏ hơn
hạt khoẻ, vết bệnh màu nâu chiếm một phần hoặc toàn bề mặt hạt. Quả bị bệnh
nặng thối rữa, hạt đen.
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 21
SVTH: Nguyễn Thị Minh
Hình 2.3: Bệnh mốc sương mai trên lá cây cà chua
Hình 2.2: Bệnh sương mai trên quả cà chua
Khảo sát ảnh hưởng của thuốc BVTV đến sự ĐDSH
các loài sâu hại & thiên địch trên cây cà chua
- Phòng trừ
+ Chọn giống chống bệnh: Đây là biện pháp cho hiệu quả kinh tế cao nhất.
Chọn củ giống hoặc cây giống tốt, khỏe mạnh và sạch bệnh.
+ Bón phân: Bón phân phải cân đối, bón tập trung, không nên bón nhiều đạm
+ Điều kiện phát sinh gây bệnh: Xuất hiện gây hại ở cả giai đoạn vườn ươm
cây con và ở ruộng trồng ngoài sản xuất, gây hại nặng khi cây cà chua đã lớn, nhất
là giai đoạn ra nụ - hoa đến hình thành quả non - quả già thu hoạch. Ở giai đoạn cây
con nhiễm bệnh thường làm toàn bộ lá héo rũ nhanh chóng, lá héo xanh gục xuống,
cây chết xanh. Vi khuẩn tồn tại trong đất, trong tàn dư cây trồng, cỏ dại. Vi khuẩn
có thể lan truyền qua cây giống, gió, nhờ nước, côn trùng và cả qua công cụ chăm
sóc, tỉa cành. Vi khuẩn dễ dàng xâm nhập qua vết thương cơ giới hoặc vết chích của
côn trùng ở rễ, thân Sau khi chúng xâm nhập vào cây trồng chúng tấn công vào
mạch dẫn và di chuyễn theo mạch dẫn làm hư bó mạch, cây không thể vận chuyển
nước và dinh dưỡng dẫn đến hiện tượng héo và chết. Tốc độ xâm nhiễm và gây
bệnh trong cây trồng rất nhanh, tốc độ này phụ thuộc vào giai đoạn sinh trưởng cây
trồng, ẩm độ đất và nhiệt độ môi trường. Chúng phát triển nhanh ở ẩm độ đất cao,
nhiệt độ từ 24 – 380C.
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 23
SVTH: Nguyễn Thị Minh
Hình 2.4: Bệnh héo xanh, héo vàng trên cây cà chua
Khảo sát ảnh hưởng của thuốc BVTV đến sự ĐDSH
các loài sâu hại & thiên địch trên cây cà chua
- Phòng ngừa
+ Đây là loại bệnh rất khó phòng trị, sử dụng thuốc hoá học không có hiệu quả
cao, do vậy áp dụng các biện pháp phòng trị tổng hợp có hiệu quả cao hơn.
+ Biện pháp canh tác: Luân canh cây trồng; đây là biện pháp có hiệu quả cao,
có thể luân canh với cây khác họ cà hoặc luân canh với lúa nước. Không nên trồng
cà chua 2 vụ liên tiếp trên một chân đất.
+ Xử lý hạt giống trong nước nóng 50
0
C trong 25 phút.
+ Sử dụng cây giống ở vườn ươm không bị bệnh.
+ Vệ sinh đồng ruộng dọn sạch cỏ dại.
+ Sử dụng phân hữu cơ hoai mục để bón.
+ Tích cực, kịp thời, thường xuyên ngắt các quả bị sâu hại, tránh được sự lây
lan và tích luỹ số lượng sâu trên đồng đồng ruộng.
+ Áp dụng một số biện pháp thủ công: bẫy đèn bắt bướm, bẫy bả chua ngọt để
diệt sâu trưởng thành, bảo vệ các loài ký sinh thiên địch bằng cách không nên sử
dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học khi chưa cần thiết.
+ Việc kết hợp hợp lý các biện pháp trên là góp phần rất to lớn trong chiến
lược phát triển nền nông nghiệp bền vững và môi trường sinh thái tự nhiên.
+ Tuy nhiên nếu trong điều kiện sâu xanh phát triển mạnh, bắt buộc chúng ta
phải dùng thuốc bảo vệ thực vật để bảo vệ cây trồng như các chế phẩm sinh học
NPV, Bt (ViBt 16000UI), Vibamec 1.8EC, Vimatrine 0.6L hoặc kết hợp NPV và
Bt. Trường hợp sâu xanh phát triển tới ngưỡng kinh tế thì phải dùng đến một số loại
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hai 25
SVTH: Nguyễn Thị Minh
Hình 2.5: Quả bị sâu xanh đục