1
Phần 1
CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT
1.1. ĐIỀU TRA CƠ BẢN
1.1.1. Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội
1.1.1.1. Tình hình chung
Tỏa Tình là xã vùng cao của huyện Tuần Giáo, cách trung tâm huỵện
Tuần Giáo 16 km, chủ yếu là đồi núi, phía Bắc giáp với xã Quài Cang, phía
Đông giáp xã Ta Ma, phía tây giáp xã Quài Tở, Tênh Phông, phía Nam giáp
xã Mường É - huyện Thuận Châu - tỉnh Sơn La. Xã toả tình nằm trên đỉnh
đèo Pha Đin với tổng cộng 7 bản có tổng diện tích tự nhiên khoảng trên
6.505,84 ha. Trong đó:
- Đất nông nghiệp: 5.589,87 ha
- Đất phi nông nghiệp: 133,99 ha
- Đất chưa sử dụng: 781,798 ha
Xã Tỏa Tình có 2.025 người với 430 hộ. 100% người dân ở đây là
người H’Mông, Chủ yếu người dân ở đây sản xuất nông nghiệp vì vậy cuộc
sống còn gặp rất nhiều khó khăn, số hộ nghèo trong xã là 52 hộ chiếm 12,09%, hộ
cận nghèo 16 hộ chiếm 3,85%. Do địa hình phức tạp nên sự phân bố dân cư
không đồng đều, ở khu vực trung tâm xã dân cư tập trung đông hơn.
1.1.1.2. Tình hình sản xuất nông lâm nghiệp
Ngay từ đầu năm uỷ ban nhân dân xã đã có kế hoạch chỉ đạo nhân dân
ở các bản sớm bắt tay vào sản xuất vụ mùa cụ thể như sau:
Tổng diện tích gieo trồng: 935 ha. Trong đó:diện tích trồng lúa mùa là
45 ha, lúa nương là 380ha, diện tích trồng ngô 500 ha, cây lấy bột 30 ha, cây
sắn 20 ha, cây lạc là 2 ha, đậu tương 500 ha (đậu tương 2 vụ), trồng lạc là 3
ha. Đặc biệt từ năm 2008 trở về đây nhân dân xã Tỏa Tình xác định đưa ra các
loại cây có giá trị kinh tế cao vào sản xuất như: Năm 2009 - 2010 toàn xã có
19,4 ha cà phê đến năm 2011 có 20,4 ha tăng 10 ha, cây sơn trà (Táo mèo)
hiện nay có 20 ha đây là cây mũi nhọn có giái trị kinh tế cao đang được nhân
dân mở rộng trong nhưng năm tiềp theo.
- Diện tích ao nuôi thả cá 19 ha,qua điều tra thực tế 23 ha tăng 4 ha.
2
3
Nhân dân đã biết áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nên giá trị
trồng trọt và chăn nuôi trên một đơn vị canh tác tăng từ 8-15 triệu đồng trên
một đơn vị diện tích canh tác.
1.1.1.4. Mô tả phương thức chăn nuôi trâu bò tại Tỏa Tình
Tỏa Tình là xã vùng cao của huyện Tuần Giáo, nơi 100% dân số là
người H.Mông. Qua điều tra người dân về chăn nuôi bò trong xã cho thấy: địa
hình và cách thức nuôi dưỡng bò là tương đối giống nhau không có sự khác
biệt. các hộ sống tập trung chủ yếu thành các khu vực địa lý nhỏ (5 - 10 hộ).
Hầu hết các hộ đều có chăn nuôi bò từ 2 - 10 con tùy vào hộ gia đình. Chỉ một
số rất ít gia đình không có bò. Mục đích chăn nuôi để 1 con bò đực tốt cày
kéo, vì sản xuất nông nghiệp ở đây rất cần sức lao động của bò. Còn các con
khác với mục đích sinh sản và sản xuất thịt. Các hộ ở đây có truyền thống
chăn nuôi bò tốt, hộ cũng đã có ý thức chăm sóc và bảo vệ đàn bò của mình.
Một số gia đình ít nhiều đã có khu vực trồng cỏ để bổ sung cho bò, tuy nhiên
việc trồng có vẫn còn mới và chưa phổ biến. Hiện nay, do nhận thức được giá
trị của việc trồng cỏ chăn bò nên có rất nhiều hộ đã có ý định tăng thêm diện
tích trồng cỏ.
Cách thức nuôi dưỡng chủ yếu là chăn thả trong ngày tại khu vực đồi,
rừng của gia đình, hoặc khu vực bãi chăn của bản từ 7 - 8 h sáng đến 5 - 6 h
chiều, buổi tối bò được lùa về nhà để quản lý và có thể bổ sung thêm thức ăn
(Bò cày kéo, bò cái đẻ có thể được bổ sung 1 - 2 kg ngô bột/ngày, hoặc bổ
sung cỏ nếu có. Mùa đông thì được bổ sung thức ăn thô dự trữ như rơm, vỏ
bắp ngô, …). Bò đực được chăn dắt hàng ngày để tránh bị ngã núi do đánh
nhau và đi sang đồi nhà khác phá nương có thể bị chém. Bò cái và bê thì đa số
được thả vào rừng. Bò ở đây được tiêm phòng và quản lý thú y khá tốt. Tuy
nhiên, tình hình dịch bệnh vẫn hay xảy ra (nhất là bệnh tụ huyết trùng và lở
mồm long móng) do ý thức người chăn nuôi chưa cao, chuồng trại tạm bợ,
Về công tác quản lý giống ở xã Tỏa Tình, kết quả điều tra cho thấy
100% số hộ được hỏi sử dụng phương pháp nhảy trực tiếp cho bò, các hộ dân
được hỏi cũng cho biết họ gặp nhiều khó khăn trong việc lựa chọn giống bò.
Về phương thức ăn nuôi 100% số bò trong các hộ điều tra đều được chăn dắt
hàng ngày với khoảng cách từ nhà đến bãi chăn khoảng 1 - 5 km. có 15 trong
số 30 hộ được hỏi cho biết họ thiếu thức ăn xanh cho bò, 28 hộ cho biết họ
thiếu các kiến thức cần thiết trong việc tìm ra giải pháp phòng chống rét cho
bò trong vụ đông.
4
5
Kết quả nghiên cứu về chuồng trại cho bò cũng cho thấy 30/30 số hộ
được hỏi có chuồng làm bằng gỗ cho bò, một số hộ có mái chuồng kiên cố
bằng tấm lợp kim loại, còn lại mái chuồng làm chủ yếu bằng rơm. Tuy nhiên
một số hộ chuồng trại còn rất thô sơ, nền đất, chưa có vách che chống rét cho
trâu bò gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của vật nuôi.
Về thức ăn và nuôi dưỡng bò ở xã Tỏa Tình, bò ở đây chủ yếu dựa vào nguồn
thức ăn tự nhiên sẵn có. Có 7 hộ dân đã trồng thêm cỏ voi để cung cấp thêm
cho bò từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, 11 hộ dân cung cấp thêm thức ăn cho
bò bằng rơm khô hoặc lá cây ngô. Chỉ có 7 (23.3%) hộ dân được hỏi có dự trữ
rơm cho bò trong giai đoạn thiếu thức ăn.
Qua điều tra các hộ dân ở Tỏa Tình cũng cho biết họ có được tiếp cận
với các dịch vụ thú y, tuy nhiên thuốc thú y tương đối thiếu ở đây. Người dân
cũng cho biết họ thiếu các kiến thức về phòng bệnh cho đàn bò do vậy một
khi dịch bệnh bùng phát sẽ rất khó kiểm soát. Người dân Tỏa Tình cho biết họ
chưa từng tham dự một lớp tập huấn nào, và khi được hỏi thì người dân ở đây
đều mong muốn được đào tạo và tập huấn về các kiến thức chăn nuôi.
Hình 1. Diễn biến Lượng
thức ăn xanh trong năm
tại xã
Dựa trên các kết quả
xóa đói giảm nghèo cho các xã vùng sâu, vùng xa, vùng còn nhiều khó khăn.
Có sự quan tâm lãnh đạo của huyện ủy, HĐND - UBND và các phòng ban,
đoàn thể của huyện, Đảng bộ và nhân đân đoàn kết, cần cù trong lao động sản
xuất. Có đường quốc lộ 6A đi qua địa bàn xã, tạo điều kiện thuận lợi cho đi lại
và giao lưu hàng hóa của nhân dân.
Đất đai rất phù hợp với cây ngô, cây lúa nên ngô và lúa là thế mạnh
của vùng. Hiện nay nhân dân trồng thêm cây sắn, đậu tương, lạc cũng đem
lại thu nhập cao, năng suất tốt cho bà con. Ngoài ra những cây công nghiệp
có giá trị kinh tế cao như sơn tra, café cũng đang được người dân chú trọng
phát triển.
Chăn nuôi cũng được xác định là một lợi thế của vùng nên đã thường
xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân phát triển chăn nuôi
6
7
đàn gia súc, gia cầm, nuôi cá; tập trung chỉ đạo có hiệu quả công tác phòng
chống dịch bệnh, chống rét, khôi phục và phát triển nhanh đàn gia súc, gia cầm.
Đảm bảo sinh trưởng phát triển theo hướng bền vững và hiệu quả.
1.1.2.2. Khó khăn
Tỏa Tình la xã vùng cao nên còn gặp nhiều khó khăn. Địa hình là đồi
núi cao, suối sâu, độ dốc lớn, đường xá liên bản đi lại khó khăn cách trở, nhất
là về mùa mưa. Trình độ dân trí còn thấp, không đồng đều; nền kinh tế xã hội
chậm phát triển. Đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân còn nhiều khó khăn
thiếu thốn. Diễn biến thời tiết khí hậu bất lợi tạo điều kiện cho dịch bệnh sinh
sôi nảy nở. Giống vật nuôi bản địa có năng suất chưa cao.
Phương thức chăn nuôi về cơ bản vẫn nhỏ lẻ, phân tán trong các nông
hộ, hình thức chăn nuôi truyền thống còn phổ biến; hiệu quả chăn nuôi còn
thấp, năng suất thấp.
Chưa chủ động sản xuất thức ăn công nghiệp tại chỗ; thiếu vốn cho sản
xuất, thiếu cơ sở sản xuất giống vật nuôi quy mô lớn cung cấp con giống cho
nhu cầu sản xuất của tỉnh. Công tác quản lý nhà nước về giống vật nuôi mới
hộ phát triển đúng hướng.
1.2. NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP VÀ KẾT QUẢ PHỤC VỤ SẢN XUẤT
1.2.1. Nội dung công tác phục vụ sản xuất
Trong thời gian thực tập, chúng tôi có triển khai một số công tác về
chăn nuôi và thú y mà khi trên ghế nhà trường, tôi đã được học và thực hành
qua những đợt thực tế. Cùng với đó, chúng tôi có tham gia dự án "Khắc phục
các trở ngại về kỹ thuật và thị trường để chăn nuôi bò thịt có lãi tại vùng Tây
Bắc Việt Nam". Cụ thể của những công tác đó như sau:
1.2.1.1. Công tác chăn nuôi
Phỏng vấn, điều tra các thông tin về hệ thống chăn nuôi từ các hộ
chăn nuôi.
Hướng dẫn bà con áp dụng kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến phù hợp với
điều kiện kinh tế của địa phương và của mỗi hộ gia đình, nhằm đạt hiệu quả
kinh tế cao.
8
9
Vận động nhân dân thực hiện vệ sinh phòng bệnh, định kỳ tiêm phòng
dịch bệnh cho gia súc, gia cầm.
Khuyến khích bà con tăng thêm diện tích trồng cỏ để chăn nuôi trâu bò
có hiệu quả.
Tuyên truyền những tiến bộ khoa học và công nghệ mới cho nông dân
và áp dụng vào địa phương.
1.2.1.2. Công tác thú y
Tham gia tiêm phòng dịch bệnh cho vật nuôi.
Chẩn đoán, điều trị bệnh cho vật nuôi.
1.2.2. Phương pháp tiến hành
Tự giác tuân thủ nội quy, quy định của khoa, nhà trường, xã Tỏa Tình
trong thời gian thực tập.
Tuân thủ yêu cầu kỹ thuật để thực hiện tốt chuyên đề một cách
nghiêm túc.
dụng trồng thêm cỏ để chăn nuôi nên về mùa khô thì trâu, bò thường bị
thiếu thức ăn.
Chăn nuôi lợn cũng còn nhiều hạn chế. Đàn lợn ở đây chủ yếu là lợn
bản, các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ và chăn nuôi theo hình thức thả rông. Một số hộ
có chuồng riêng nhưng không đảm bảo yêu cầu cho chăn nuôi.
Gia cầm cũng chủ yếu chăn nuôi nhỏ lẻ các giống gà địa phương, hằng
năm không được tiêm phòng nên mỗi khi xảy ra dịch bệnh lại chết hàng loạt.
Thấy được những hạn chế này trong chăn nuôi nên chúng tôi đã tuyên
truyền, vận động bà con chú ý hơn đến công tác chăn nuôi, chăm sóc cho vật
nuôi, đặc biệt là đại gia súc. Vận động bà con làm chuồng trại tránh mưa,
tránh rét cho trâu, bò. Bổ sung thêm thức ăn hàng ngày cho vật nuôi để nâng
cao chất lượng chăn nuôi. Mùa khô ở đây thường thiếu thức ăn nên chúng tôi
hướng dẫn bà con nên tận dụng các phụ phẩm trồng trọt để dự trữ, ủ thức ăn
để bổ sung dinh dưỡng và dự trữ thức ăn. Đồng thời bổ sung các loại thức ăn
như bột cá, các loại khoáng và vitamin để tăng sức đề kháng trong chăn nuôi.
10
11
Ngoài ra, chúng tôi còn hướng dẫn bà con cách vệ sinh chuồng trại để phòng
bệnh cho vật nuôi.
Nhận thấy đất đai ở đây khá nhiều, một số hộ chăn nuôi đã có trồng cỏ
voi để cung cấp thêm cho chăn nuôi trâu bò, cung cấp một lượng thức ăn
không nhỏ cho chúng, đặc biệt là vào mùa khô thiếu thức ăn nên chúng tôi đã
vận động bà con tăng thêm diện tích trồng cỏ, những hộ nào chưa trồng thì
nên trồng cỏ. Qua lời tư vấn của chúng tôi và nhận thấy lợi ích thực tế của
những hộ đã trồng cỏ, rất nhiều hộ đã quyết định trồng thêm cỏ voi để chăn
nuôi trâu bò.
1.2.3.2. Công tác thú y
Với phương châm “phòng bệnh là chính”, để phòng chống dịch bệnh cho
đà gia súc, chúng tôi đã cùng với thú y cơ sở kết hợp với chính quyền địa
phương tổ chức tiêm phòng dịch bệnh cho gia súc vụ Đông năm 2011. Các loại
bò bị bệnh và dùng biện pháp tổng hợp để điều trị bệnh.
+ Tắm chải sạch sẽ, cọ sạch các vảy ghẻ, để ráo nước, bôi mỡ ghẻ vào
chỗ da ghẻ, cách một ngày bôi một lần.
+ Tiêm Vimectin: 1ml/ 15kg thể trọng để diệt cái ghẻ
+ Tiêm Penstrep - suspension 1ml/20kg hoặc Marbovitryl 1ml/10kg thể
trọng để phòng nhiễm trùng da
+ Dọn vệ sinh chuồng trại để phòng bệnh tái phát.
- Bệnh giun đũa bê nghé: mùa đông là mùa sinh sản của trâu bò, có rất
nhiều bê nghé được sinh ra nhưng do đặc tính chăn thả và thiếu sự quan tâm
của người chăn nuôi nên trâu bò ít khi được tẩy giun sán định kỳ. Vì vậy, có
nhiều bê nghé bị nhiễm giun, đặc biệt là bệnh giun đũa. Thấy người dân thắc
mắc vì bê nghé gầy, chậm lớn và bị ỉa chảy, tuy đã uống thuốc tiêu chảy mà
không khỏi. Chúng tôi đã đến quan sát và thấy các triệu chứng: bê nghé gầy,
lông xù, lưng cong, thân nhiệt cao, đi lại chậm chạp, đặc biệt là phân có màu
trắng, thối khắm.
12
13
Sau khi đã xác định con vật bị giun đũa, chúng tôi đã cho uống thuốc
Mebendazol 10% liều 150mg/kg TT để tẩy giun. Nhắc nhở chủ hộ tăng cường
chăm sóc trâu bò mẹ để tăng lượng sữa cho con bú.
- Ngộ độc sắn: tháng 12 là thời gian thu hoạch sắn của bà con nên có rất
nhiều sắn tươi cho trâu bò ăn. Nhưng vì không nắm rõ được tác hại khi cho gia
súc ăn sắn tươi nên bà con chủ quan khiến cho nhiều trường hợp gia súc ngộ
độc khi ăn sắn. Triệu chứng của gia súc khi bị ngộ độc sắn là: toàn thân run rẩy,
đi loạng choạng, có cảm giác bồn chồn không yên, không nhai lại, nước dãi
chảy ra, chướng hơi, phân nhão có lẫn ít máu. Đặc biệt khi nghe chủ nhà nói
cho ăn sắn tươi với lượng khá nhiều, chúng tôi kết luận trâu bị ngộ độc sắn và
sử dụng phác đồ điều trị như sau;
Atropin 0,1% 4ml/con
Xanh metylen 1% 1ml/10kg TT
(con)
Kết quả
Số lượng
(con)
Tỷ lệ (%)
1. Tiêm phòng An toàn
Vaccine tụ huyết trùng trâu 742 742 100
Vaccine lở mồm long móng trâu 742 742 100
Vaccine tụ huyết trùng bò 425 425 100
Vaccine lở mồm long móng bò 425 425 100
2. Ðiều trị bệnh Khỏi
Bệnh tụ huyết trùng ở bò 4 4 100
Bệnh lợn con phân trắng 11 9 81,8
Bệnh phó thương hàn ở lợn 5 3 60
3. Các công tác khác An toàn
Thiến lợn đực 7 7 100
Ðỡ đẻ và bấm nanh cho lợn 12 12 100
Tiêm Dextran – Fe cho lợn con
12 12 100
Bảng trên là kết quả đã đạt được của tôi trong quá trình phục vụ sản
xuất tại địa phương. Qua bảng này, tôi có một số nhận xét sau:
14
15
Tình hình chăn nuôi ở đây vẫn chưa được quan tâm đúng mức nên bệnh
dịch xảy ra nhiều. Đa số bà con nhận thức được giá trị kinh tế của đàn trâu bò
nên đã có ý thức trong việc tiêm phòng nhưng vẫn chưa triệt để.
Đàn lợn địa phương còn thả rông nhiều nên rất khó để tiêm phòng, vì
vậy kết quả tiêm phòng trên đàn lợn rất thấp. Do điều kiện đi lại rất khó khăn
nên tôi chỉ được tham gia tiêm phòng ở 6/7 bản, Có bản ở xa và đi lại khó
khăn thì việc tiêm phòng còn gặp rất khó khăn và hạn chế.
kinh nghiệm và niềm vui khi mang kiến thức phục vụ sản xuất, tôi đã tìm hiểu
tình hình dịch bệnh tại địa phương, tham gia tiêm phòng, điều trị bệnh cho vật
nuôi, hướng dẫn bà con thực hiện vệ sinh để phòng bệnh, khuyến khích bà
con trồng thêm cỏ để chăn nuôi trâu bò hiệu quả, vận động bà con chú trọng
hơn nữa vào chăn nuôi, xóa bỏ phương thức chăn nuôi lạc hậu để đạt hiệu quả
tốt hơn trong chăn nuôi, … Cũng nhờ thời gian thực tập này, tôi đã tích lũy
cho bản thân rất nhiều kinh nghiệm quý báu, mở rộng được tầm nhìn, nâng
cao tay nghề và thấy yêu nghề hơn.
Do chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế, tay nghề còn non kém, giải
quyết công việc chưa được tốt, nhưng có học thì mới biết, có làm thì mới có
kinh nghiệm. Dù có học bao nhiêu cũng vẫn chưa đủ, vì vậy tôi sẽ vẫn không
ngừng học hỏi. Và tôi tin rằng đợt thực tập này đã giúp tôi có thêm nhiều hiểu
biết và thật nhiều kinh nghiệm quý.
1.3.2. Kiến nghị
Qua tìm hiểu và nhận thấy những hạn chế trong sản xuất chăn nuôi tại
địa phương, tôi có một số đề nghị sau:
Công tác vệ sinh, tiêm phòng cho đàn gia súc chưa được triệt để vì
vậy dịch bệnh vẫn xảy ra gây thiệt hại về kinh tế, vì vậy xã cần thường
xuyên tổ chức các buổi tập huấn kỹ thuật trồng trọt và chăn nuôi cho bà con
nông dân, nâng cao nhận thức của bà con về lợi ích của việc tiêm phòng
bệnh cho vật nuôi.
16
17
Mạng lưới thú y xã hoạt động chưa có hiệu quả nên cần được bồi
dưỡng, đào tạo nhiều hơn nữa.
Tuyên truyền, vận động cho bà con thực hiện tốt vệ sinh phòng bệnh,
thay đổi phương thức chăn nuôi để đạt hiệu quả cao, để chăn nuôi thực sự là
thế mạnh của vùng.
Khuyến khích bà con trồng thêm cỏ để việc chăn nuôi trâu được bò tốt
hơn vì ai cũng đã nhận thức được giá trị kinh tế của trâu, bò nên hiện nay trâu,
Để tiến hành công tác giống có kết quả tôi tiến hành điều tra, đánh giá
một số đặc điểm về khả năng sinh trưởng và phát triển của bò, làm cơ sở cho
việc chọn giống nhằm nâng cao chất lượng đàn bò địa phương. với mục đó tôi
tiến hành chuyên đề: “ Điều tra, đánh giá hiện trạng chăn nuôi bò và đưa
ra một số giải pháp phát triển chăn nuôi bò trong vụ Đông tại xã Tỏa Tình,
huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên”.
18
19
2.1.1. Mục đích đề tài
- Điều tra, đánh giá tình hình phát trển chăn nuôi bò ở xã Tỏa Tình
huyện Tuần Giáo tỉnh Điện Biên.
- Đánh giá khả năng sinh sản, sinh trưởng và phát triển của bò ở
địa phương.
- Đánh giá tình hình dịch bệnh và công tác phòng trị đối với bò ở
địa phương.
2.1.2. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu: Kết quả của đề tài là những
thông tin khoa học bổ sung và làm sáng tỏ hơn nhũng yếu tố liên quan đến
khả năng sinh sản, sinh trưởng, phát triển của bò ở địa phương.
- Ý nghĩa thực tiễn: Xác định được khả năng sinh sản, sinh trưởng và
phát triển của bò ở địa phương. Qua đó giúp người dân có phương thức chăn
nuôi phù hợp để nâng cao khả năng sinh trưởng, phát triển đàn bò.
2.2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.2.1. Cơ sở lý luận
2.2.1.1. Cơ sở nhân giống gia súc
Khi tìm hiểu về các giống gia súc, người ta phải biết cơ cấu tổ chức của
các giống và khái niệm về tổ chức đó. Nếu trước đây khoa học chọn giống chỉ
chú trọng nhiều đến chọn lọc cá thể và ghép đôi giao phối thì gần đây, do việc
áp dụng phương pháp thống kê sinh vật học và di truyền học quần thể, việc
chọn lọc đã được tiến hành trên các cơ sở quần thể. Điều đó phù hợp với việc
như: số trung bình, độ lệch tiêu chuẩn, hệ số biến dị, sai số trung bình.
2.2.1.3. Quá trình sinh trưởng và phát dục
* Khái niêm về sinh trưởng và phát dục
- Khái niệm sinh trưởng: Khi còn là hợp tử có khối lượng rất nhỏ, khi
trưởng thành ta thấy có sự biến đổi về phương diện khối lượng. Sự biến đổi
này gọi là sự tăng trưởng hay sự sinh trưởng và được định nghĩa như sau.
Sinh trưởng là quá trình tích luỹ các chất do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng
lên về chiều cao, chiều dài, chiều ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn
bộ cơ thể con vật trên cơ sở đặc tính di truyền từ thế hệ trước. “Thực chất
của sinh trưởng là sự tăng trưởng và phân chia của các tế bào trong cơ thể”.
Trong phần lớn cuộc đời của con vật, những chất bên ngoài được
chuyển dần thành những chất bên trong cơ thể do quá trình đồng hóa, về cuối
đời dị hóa mạnh hơn đồng hóa nên khối lượng cơ thể, năng xuất sản xuất…
20
21
giảm. Trong thực tế sản xuất, giai đoạn sau này chỉ sảy ra ở những vật nuôi
mà con người nuôi không phải với mục đích lợi ích vật chất như chó mèo…
Trong sự sinh trưởng, ta phân biệt ba hướng chính: khối lượng, thể tích
và các chiều thẳng. (Dương Mạnh Hùng, 2008)[5]
Trong công tác giống, nhân giống và chọn giống tính trạng này luôn
được nghiên cứu.
- Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa
làm tăng chiều cao, chiều dài, chiều rộng, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ
cơ thể con vật. Đó là sự tích lũy protein trên cơ sở di truyền của đời trước.
Theo Gartner - 1992, quá trình sinh trưởng được xem như là kết quả
của sự phân chia tế bào, làm tăng số lượng và thể tích của tế bào.
Sinh trưởng được tính từ khi trứng được thụ tinh để trở thành hợp tử
cho đến khi trưởng thành.
- Nghiên cứu sự sinh trưởng không thể không nói đến sự phát dục.
Phát dục là quá trình thay đổi về chất lượng, tức là sự thay đổi, tăng thêm và
Thời kỳ bú sữa: Được tính từ lúc sơ sinh đến khi cai sữa. Con vật non
chủ yếu sống bằng sữa mẹ. Ngoài ra, cần tập cho gia súc non ăn thức ăn thực
vật để bổ sung các chất dinh dưỡng cần thiết và tạo điều kiện kích thích bộ
máy tiêu hóa phát triển. Thời kỳ bú sữa của bê, nghé là từ 4 - 6 tháng tuổi.
Thời kỳ thành thục sinh dục: Là thời kỳ tiếp theo của thời kỳ bú sữa.
Các bộ phận sinh dục đã hình thành từ thời kỳ bào thai, nhưng phải đến thời
kỳ này bộ phận sinh dục mới bắt đầu phát triển dưới ảnh hưởng của nội tiết và
các yếu tố bên ngoài. Lúc này sự biệt hóa về tính biệt cũng như các đặc điểm
về sinh dục thứ cấp được phân chia rõ rệt.
Thời kỳ trưởng thành: Ở thời kỳ này, cơ thể của con vật đã phát triển
hoàn chỉnh. Con vật có khả năng sinh sản và khả năng sản xuất cao.
Thời kỳ già cỗi: Ở thời kỳ này các khả năng sản xuất giảm dần và
ngừng hẳn, sức khỏe giảm. Thời kỳ này đến sớm hay muộn không chỉ do tuổi
con vật mà còn phụ thuộc phần lớn vào điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc.
22
23
+ Quy luật phát triển không đồng đều:
Nhịp độ phát triển của cơ thể và từng bộ phận trong cơ thể qua các thời
kỳ có những đặc điểm khác nhau.
Tính chất không đồng đều của nhịp độ phát triển rất phù hợp với sự
hoạt động hưng phấn và ức chế hệ thần kinh với sự đồng hóa, dị hóa có thời
kỳ mạnh, yếu của cơ thể.
Biểu hiện rõ nhất của nhịp độ phát triển không đồng đều là sự tăng
trọng của cơ thể. Tăng trọng nhiều hay ít là sự cân bằng các quá trình oxi hóa
khử trong trao đổi chất có giữ được đều nhịp độ nào đó hay không, đồng thời
các biện pháp nuôi dưỡng, chăm sóc có tốt hay không. Sự phát triển không
đồng đều còn biểu hiện ở cả thành phần hóa học của cơ thể gia súc. Ở trâu bò,
thời kỳ bào thai trong tháng thứ nhất tăng 600 lần, tháng thứ 2 tăng 433 lần,
tháng thứ 6 tăng 25 lần, tháng thứ 9 tăng 1,5 lần và lúc mới đẻ tỷ lệ vật chất
khô trong cơ thể là 25,81%, 6 tháng là 30,93%, ở 12 tháng tuổi là 36,25%. Sự
đến hình dáng của con vật đó, phẩm giống đó. Hình dáng là ngoại hình của
con vật, vì vậy ngoài đánh giá khả năng sinh trưởng, phát dục cho vật nuôi thì
cần đánh giá ngoại hình gia súc. Hình dáng bên ngoài liên quan đến sức khỏe,
cấu tạo chức năng của các bộ phận bên trong cơ thể cũng như khả năng sản
xuất của gia súc và hình dáng đặc trưng của một giống gia súc. Mỗi gia súc có
hướng sản xuất khác nhau đều có ngoại hình khác nhau. Đánh giá ngoại hình
con vật là giai đoạn đầu tiên giúp ta tìm hiểu hình thái sức khỏe, sức sản xuất
và hướng sản xuất nói chung của con vật. Mục đích của việc đánh giá con vật
qua ngoại hình là để chọn được những con giống tốt, có ngoại hình phù hợp
với hướng sản xuất. Để đánh giá ngoại hình gia súc, người ta thường dùng 3
phương pháp đánh giá sau:
- Đánh giá bằng mắt
- Đo các chiều cơ thể gia súc
- Nhận xét và đánh giá ngoại hình gia súc theo mẫu quyết định (phương
pháp cho điểm) hoặc tiêu chuẩn giám định (theo từng giống).
24
25
Trong đó, phương pháp đo các chiều cơ thể có ưu tiên là khách quan và
trực tiếp hơn. Mục đích đo là để biết được sự liên quan giữa chiều này với
chiều khác và cuối cùng biết được sự phát triển của toàn bộ cơ thể. Vì vậy,
sau khi đo không những cần so sánh các chiều đo tương ứng của con vật này
với con vật khác, nhóm gia súc này với nhóm gia súc khác mà còn tính toán
các chỉ số cấu tạo thể hình.
2.2.1.4. Hoạt động sinh dục ở bò và khả năng sinh sản của bò cái
* Hoạt động sinh dục
Sinh sản là một quá trình sinh lý phức tạp chịu tác động của tính di
truyền và môi trường xung quanh. Hoạt động sinh dục do Hipothalamus điều
khiển, thông qua tuyến yên và hệ thần kinh - thể dịch.
- Sự thành thục về tính: Qua quá trình sinh trưởng và phát triển con vật
đến độ tuổi thành thục về tính và có khả năng sinh sản. Khi đó cơ quan sinh