1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá. Đất là giá đỡ cho toàn bộ sự sống của
con người và là tư liệu sản xuất chủ yếu của ngành nông nghiệp. Vai trò của đất đai
càng lớn hơn khi dân số ngày càng đông, nhu cầu dùng đất làm nơi cư trú, làm tư liệu
sản xuất, giao thông, ngày càng gia tăng và nông nghiệp phát triển, trở thành ngành
kinh tế chủ đạo. Do vậy việc sử dụng hợp lý và có hiệu quả bảo vệ đất đai và môi
trường sống là một nhiệm vụ mang tính chất chiến lược của mỗi quốc gia.
Ngày nay, tiềm năng đất của nước ta còn nhiều, đặc biệt là khu vực miền núi
trung du Phía Bắc, vùng Tây Nguyên và Duyên hải miền trung, việc khai thác và sử
dụng đất đai chưa gắn với quy hoạch tổng thể và bảo vệ môi trường, hiệu quả kinh tế
còn thấp chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng hợp lý và đầy đủ đất đai.
Đứng trước thực trạng đó, trong những năm qua, Nhà nước đã hoàn thiện công
tác quy hoạch sử dụng đất đai có sự tham gia bước đầu và áp dụng được trên địa bàn
nông thôn miền núi và đưa ra một số chủ trương, chính sách như chính sách giao đất
giao rừng, đầu tư vốn, kỹ thuật giúp phát triển nông lâm nghiệp thông qua các
chương trình dự án của Nhà Nước.
Do điều kiện kinh tế tự nhiên, kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng
nên việc sử dụng đất đai mang tính chất đặc thù riêng cho từng vùng. Vì vậy việc
đánh giá hiện trạng sử dụng đất đồi núi để từ đó đưa ra những giải pháp nhằm khai
thác, sử dụng hợp lý tài nguyên này là việc rất cấp thiết hiện nay.
Khe Mo là một xã nằm ở phía Đông Bắc của huyện Đồng Hỷ, với đặc trưng
của vùng đất trung du miền núi phía Bắc, xã có thế mạnh về cây chè. Hiện nay vấn đề
sử dụng đất đai nói chung, đất đồi núi nói riêng đã và đang được Đảng bộ và chính
quyền xã quan tâm. Song do trình độ hiểu biết của người dân còn hạn chế, đội ngũ
cán bộ kỹ thuật còn mỏng, người dân thiếu vốn đầu tư để cải tạo và phát triển các loại
cây trồng thích hợp. Vì vậy, đòi hỏi phải đưa ra các giải pháp sử dụng đất đồi núi cụ
thể là: Phủ xanh đất trống, đồi núi trọc bằng các biện pháp canh tác, đưa vào đó các
loại cây trồng phù hợp đem lại hiệu quả kinh tế cao, cải thiện đời sống người dân, bảo
3
Phần 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
2.2.1. Khái niệm về mô hình sử dụng đất đồi núi
Một trong những phương thức sử dụng đất có hiệu quả cao, lâu bền trên đất
dốc là mô hình SALT (Sloping Agriculture Land Technology) đã được trung tâm phát
triển đời sống nông thôn Basptit Mindanao Philippin tổng kết, hoàn thiện và phát
triển từ giữa năm 1970 đến nay [14]
Đến năm 1992 đã có 4 mô hình SALT được tổ chức quốc tế ghi nhận là:
- Mô hình SALT 1: (Sloping Agriculture Land Technology) Đây là mô hình
tổng hợp dựa trên cơ sở các biện pháp bảo vệ đất đối với sản xuất lương thực. Kỹ
thuật canh tác nông nghiệp trên đất dốc với cơ cấu 25% cây lâm nghiệp, 25% cây lưu
niên + 50% cây nông nghiệp hàng năm.
- Mô hình SALT 2: (Simple Agro - Livestock Technology) Đây là mô hình kinh
tế nông lâm súc kết hợp đơn giản với cơ cấu: 40% cây nông nghiệp + 20% cây lâm
nghiệp + 20% chăn nuôi + 20% làm nhà ở và chuồng trại
- Mô hình SALT 3: (Sustainable Agro - Forest Technology) Kỹ thuật canh tác
nông lâm kết hợp bền vững. Cơ cấu sử dụng đất là 40% cây nông nghiệp + 60% cây
lâm nghiệp.
- Mô hình SALT 4: (Small agrofruit Likelihood Technology) Là mô hình kỹ
thuật sản xuất nông lâm nghiệp kết hợp với cây ăn quả quy mô nhỏ, cơ cấu sử dụng
đất là 60% cây lâm nghiệp + 15% cây nông nghiệp + 25% cây ăn quả
2.2.2. Đặc điểm của đất đồi núi
Ngoài đặc điểm chung của đất đai, đất đồi núi có các đặc điểm riêng như sau:
- Đất đồi núi là đất dốc, cao, chỉ thích hợp cho việc trồng cây ưa cạn do đó tập
đoàn cây trồng trên đất đồi núi phong phú và đa dạng.
- Đất đồi núi dễ bị sạt lở, rửa trôi, độ màu mỡ kém, việc tưới nước cho cây
trồng gặp nhiều khó khăn, chủ yếu dựa vào nước trời.
- Diện tích rộng lớn, có thể gần hoặc xa khu dân cư sinh sống
rửa trôi, sa mạc hoá, chua hoá, mặn hoá, ô nhiễm môi trường, khủng hoảng hệ sinh thái đất. Khoảng 40% đất nông
nghiệp đã bị suy thoái mạnh hoặc rất mạnh, 10% bị sa mạc hoá do biến động khí hậu bất lợi và khai thác sử dụng không
hợp lý. Sa mạc Sahara mỗi năm mở rộng lấn mất 100.000ha đất nông nghiệp và đồng cỏ. Thoái hoá môi trường đất có
nguy cơ làm giảm 10 - 20% sản lượng lương thực thế giới trong 25 năm tới.
Tỷ trọng đóng góp gây thoái hóa đất trên thế giới như sau: mất rừng 30%, khai thác rừng quá mức (chặt cây cối
làm củi, ) 7%, chăn thả gia súc quá mức 35%, canh tác nông nghiệp không hợp lý 28%, công nghiệp hoá gây ô nhiễm
4
4
5
1%. Vai trò của các nguyên nhân gây thoái hoá đất ở các châu lục không giống nhau: ở Châu Âu, châu Á, Nam Mỹ mất
rừng là nguyên nhân hàng đầu, châu Đại Dương và châu Phi chăn thả gia súc quá mức có vai trò chính yếu nhất, Bắc và
Trung Mỹ chủ yếu do hoạt động nông nghiệp.
Xói mòn rửa trôi: Mỗi năm rửa trôi xói mòn chiếm 15% nguyên nhân thoái hoá đất, trong đó nước đóng góp
55,7% vai trò, gió đóng góp 28% vai trò, mất dinh dưỡng đóng góp 12% vai trò. Trung bình đất đai trên thế giới bị xói
mòn 1,8 - 3,4 tấn/ha/năm. Tổng lượng dinh dưỡng bị rửa trôi xói mòn hàng năm là 5,4 - 8,4 triệu tấn, tương đương với
khả năng sản sinh 30 - 50 triệu tấn lương thực [1]
Hoang mạc hoá là quá trình tự nhiên và xã hội. Khoảng 30% diện tích trái đất nằm trong vùng khô hạn và bán
khô hạn đang bị hoang mạc hoá đe doạ và hàng năm có khoảng 6 triệu ha đất bị hoang mạc hoá, mất khả năng canh tác
do những hoạt động của con người.
Hiện nay, trên thế giới có khoảng 6,2 tỷ người theo tài liệu của tổ chức FAO thì
thế giới đang sử dụng 1,476 tỷ ha đất nông nghiệp trong đó đất dốc là 973 triệu ha
chiếm 65,9%. Theo FAO (1980) thông báo tình hình sử dụng đất nông nghiệp toàn
thế giới với loại hình quảng canh và du canh chiếm 45%, tỷ lệ này quá lớn đã làm hạn
chế việc khai thác tiềm năng đất đai và cây trồng làm suy thoái đất [6].
Đất đồng bằng thuận lợi cho việc trồng cây hoa màu, lương thực đã được khai
thác tới hạn do đó việc phát triển nông lâm nghiệp trong những thập kỷ tiếp theo phụ
thuộc phần lớn vào việc quản lý, sử dụng hiệu quả và lâu dài 3/4 quỹ đất đồi núi vốn
rất đa dạng, giàu tiềm năng nhưng đang bị thoái hoá nghiêm trọng.
Trên thế giới, vấn đề sử dụng đất đồi núi cũng trở nên bức thiết, Hội nghị Quốc
tế về vấn đề quản lý đất đồi núi tại Bắc Kinh kêu gọi: "… Một tiềm năng lớn lao đang
và Nhà nước ta đã đề ra một số chủ trương, chính sách sau:
- Năm 1986 Đại hội Đảng VI của Ban chấp hành TW, lần đầu tiên thông qua
chính sách đổi mới, đưa đến khởi đầu của sự chuyển đổi từ cơ chế tập trung bao cấp
sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Trong nông nghiệp cơ chế
khoán sản phẩm đến từng hộ gia đình được áp dụng, điều này phát huy tác dụng đối
với người dân gắn với đất canh tác nông nghiệp.
Nghị quyết 10 của Bộ chính trị ngày 5/4/1988 xoá bỏ bao cấp trong lĩnh vực
nông nghiệp xây dựng kinh tế thị trường, hộ gia đình được xem là đơn vị kinh tế tự
chủ và là đối tượng cho việc giao đất ổn định lâu dài, đóng vai trò là người chủ sản
xuất nông lâm nghiệp. Xuất phát từ nhu cầu khách quan, luật đất đai năm 1988 đã
được xem xét, sửa đổi năm 1993 và luật sửa đổi bổ sung một số điều luật đất đai năm
1998 và 2001.
Riêng đối với đất rừng và rừng:
- Quyết định 184/HĐBT về việc đẩy mạnh giao đất lâm nghiệp cho tập thể, cá
nhân sử dụng.
6
6
7
- Chỉ thị 29 của ban bí thư TW Đảng tháng 11/1983 về giao đất giao rừng.
Tổng diện tích rừng và đất rừng được sử dụng vào năm 1986 - 1992 là 5.230.000ha.
- Luật đất đai 1993 và luật sửa đổi bổ sung một số điều luật đất đai năm 1998
và năm 2001 đã hợp pháp hoá quyền sử dụng đất cho người lao động. Chương 3 và 4
luật đất đai quy định về chế độ sử dụng các loại đất, quy định về quyền và nghĩa vụ
của người sử dụng đất [8].
- Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991 khẳng định về mặt pháp lý quyền sử
dụng rừng và đất rừng cho chủ rừng [9].
- Quyết định 327/HĐBT được nhà nước ban hành năm 1992 nhằm đẩy mạnh
chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bãi bồi ven biển đây là một trong những
quyết định quan trọng, tạo cơ sở nguồn lực cho hoạt động sản xuất kinh doanh lâm
nghiệp trong cả nước [10].
- Công trình nghiên cứu" Sử dụng đất tổng hợp bền vững" của Nguyễn Xuân
Quát năm 1996 đã nêu ra những điều cần biết về đất đai và đưa ra các hệ thống sử
dụng đất và cách tiếp cận, đồng thời bước đầu đề xuất tập đoàn cây trồng thích hợp
cho mô hình sử dụng đất tổng hợp bền vững [4].
- Nghiên cứu của Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên về "Biện pháp tổng hợp sử
dụng hiệu quả đất đồi núi trên cơ sở sinh thái bền vững" [3].
- Đối với tài nguyên đất dốc các tác giả Phạm Chí Thành và cộng sự đã nghiên
cứu và sử dụng hợp lý tài nguyên đất dốc ở Văn Yên - Yên Bái [5].
- Nghiên cứu về chuyển đổi hệ thống canh tác trên cùng sinh thái đất đồi núi
dốc tại tỉnh Sơn La của Nguyễn Tiến Mạnh và Lê Thế Hoàng (Viện kỹ thuật nông
nghiệp) [2].
- Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên có tài liệu "Đất đồi núi Việt Nam thoái hoá và
Phục hồi" nêu rõ tính bền vững trong sử dụng đất đồi núi gồm 3 phương diện: Bền
vững kinh tế, bền vững môi trường và sự chấp nhận xã hội, trong đó 5 thuộc tính cần
xem xét là tính sản xuất hiệu quả, tính an toàn, tính bảo vệ, tính lâu bền và tính chấp
nhận [3].
Ngoài ra các tác giả cũng đề cập đến vấn đề làm giàu rừng như:
- Năm 1997, Nguyễn Tiến Bân đã nghiên cứu về cơ sở khoa học phục hồi sinh
thái vùng núi đá Cao Bằng
- Chương trình xây dựng các mô hình canh tác bền vững trên đất dốc ở tỉnh
Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng, Lạng Sơn… của trường đại học nông lâm Thái
Nguyên.
Trong những năm gần đây, đã có một số chương trình dự án vận dụng phương
pháp quy hoạch sử dụng đất đai nông lâm nghiệp cho cấp xã, thôn, hộ gia đình ở
nước ta.
Có thể nói có rất nhiều công trình nghiên cứu trên cả nước vừa là mặt phương
pháp lý luận vừa là những giải pháp cụ thể cho sử dụng đất đai nông lâm nghiệp đặc
biệt là đất dốc trên quan điểm bền vững.
8
8
9
10
Để thấy rõ diễn biến về khí hậu thuỷ văn của xã Khe Mo năm 2011 chúng tôi
tổng hợp vào bảng sau:
10
10
11
Bảng 2.1: Thời tiết khí hậu thuỷ văn xã Khe Mo năm 2011
Tháng
Nhiệt độ
không khí
trung bình
(ºC)
Biên độ
dao động
của nhiệt
độ/ngày
Độ ẩm
không
khí trung
bình (%)
Tổng số
giờ nắng
(giờ)
Tổng
lượng
mưa phổ
biến
(mm)
Tổng
cũng như chất lượng của cây trồng. Tháng 3 có tổng số giờ nắng thấp nhất trong năm
20 - 30 giờ, từ đó tổng lượng bốc hơi cũng thấp 45- 55mm, dẫn đến hiện tượng thiếu
nước tưới cho cây trồng, gây khó khăn trong sản xuất của bà con nông dân trong xã
nói riêng và toàn tỉnh nói chung.
2.4.1.3. Tình hình đất đai
Theo số liệu thống kê của phòng địa chính huyện Đồng Hỷ đất đai của xã khe Mo gồm 2 loại đất chính sau:
Đất phù sa cổ ven suối phù hợp với những loại cây hoa màu và cây lúa
Đất Feralit vàng đỏ phát triển trên đá phiến thạch sét. Loại đất này khá màu mỡ, tầng đất dày, từ 40 - 50 cm.
Đây là loại đất chiếm đa số trong tổng diện tích của xã, phù hợp với cây chè, cây ăn quả, và một số cây lâm nghiệp. Từ
2003 đến nay toàn bộ diện tích được giao khoán cho các hộ gia đình tự quản lý và sử dụng
Cơ cấu đất đai của xã được thể hiện qua bảng 2.2.
Số liệu bảng 2.2 cho thấy việc khai thác và sử dụng đất đai trên địa bàn xã có những biến đổi sau:
Diện tích đất tự nhiên trong xã rất lớn, trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn lên đến hơn 90%, còn
lại là đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng nhưng chiếm không đáng kể.
- Diện tích đất nông nghiệp từ năm 2009 - 2011 tăng 265,64ha, nên tỷ trọng đất nông nghiệp thay đổi từ 84,55 %
(năm 2009) lên 93,36 % (năm 2011) nguyên nhân là do xã tăng diện tích đất trồng lúa và trồng cây lâu năm.
- Diện tích đất sản xuất lâm nghiệp lại giảm dần qua 3 năm từ 1786,78 ha năm 2009 xuống còn 1240,83ha năm
2011, giảm 545,95ha.
12
12
13
Bảng 2.2: Tình hình đất đai của xã Khe Mo qua 3 năm 2009-2011
Loại đất Năn 2009 Năm 2010 Năm 2011
Diện
tích (ha)
Cơ
cấu
(%)
Diện
tích (ha)
(Nguồn số liệu Ban địa chính xã Khe Mo)
13
13
14
Diện tích đất phi nông nghiệp qua 3 năm cũng có sự biến đổi lớn năm 2011 so với năm 2009 tăng lên 27,7ha
làm cho tỷ trọng cũng thay đổi từ 5,81% năm 2009 lên 6,73% năm 2011. Nguyên nhân là do xã tiến hành xây dựng
trường mầm non của xã, và xây dựng trạm y tế 2 tầng.
Diện tích đất chưa sử dụng giảm đi rõ rệt 290,67ha năm 2009 xuống còn 1,23ha năm 2011. Điều đó cho thấy
tình hình khai thác và sử và sử dụng đất của bà con nông dân trong xã khá triệt để, không để lãng phí một ha đất nào.
Từ đó mang lại hiệu quả cao trong việc sử dụng đất, tăng thu nhập đang kể cho người dân trong xã.
Qua chỉ tiêu khai thác và sử dụng bình quân của một lao động nông nghiệp trong 3 năm phản ánh một điều rất
thực tế là diện tích canh tác của xã đã tới giới hạn cho phép không thể mở rộng hơn được nữa, vì vậy để đảm bảo sự
sống còn và nâng cao chất lượng cuộc sống cho hộ nông dân buộc người dân nơi đây phải sử dụng thế mạnh kinh tế
vườn rừng, vườn đồi, tài nguyên đồi núi của địa phương.
Mấy năm gần đây hộ nông dân ở xã đang tập trung khai thác thế mạnh của địa phương mình là cây công
nghiệp (chè), cây ăn quả, bình quân trên một lao động tăng lên đáng kể.
2.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
2.4.2.1. Tình hình dân số và lao động
a. Dân số và dân tộc
Khe Mo là một xã miền núi với 9 dân tộc anh em sinh sống là dân tộc Kinh,
Tày, Nùng, Sán Chay, Sán Dìu, Hoa, Dao, Mường, H’rê. Toàn xã có 15 xóm với tổng
số nhân khẩu tính đến năm 2011 là 6720 nhân khẩu, trong đó dân tộc Kinh chiếm
64,43%, dân tộc Nùng chiếm 18,26%, dân tộc Tày chiếm 1,56%, dân tộc Sán Dìu
chiếm 2,48%, dân tộc Sán Chay chiếm 13,38%, còn lại dân tộc Hoa, Dao, Mường,
H’rê chiếm khoảng 1,22% (theo số liệu thống kê của ban dân số xã Khe Mo năm
2011)
14
14
15
Bảng 2.3: Dân số và dân tộc xã Khe Mo
2 Tổng số nhân khẩu Người 6720 100
2.1 Nhân khẩu nông nghiệp nt 5107 76
2.2 Nhân khẩu phi nông nghiệp nt 1613 24
3 Tổng số lao động Người 5040 75
3.1 Lao động nông nghiệp nt 3780 75
3.2 Lao động phi nông nghiệp nt 1260 25
(Nguồn Ban dân số xã năm 2011)
15
15
16
Qua bảng 2.4 cho thấy nguồn lao động của xã khá dồi dào, đây cũng là điều kiện thuận lợi giúp xã phát triển
nông lâm nghiệp. Theo kết quả trong bảng thì khẩu nông nghiệp chiếm tỷ lệ rất lớn 76%, do tỷ lệ hộ nông nghiệp cũng
rất cao.Tuy nhiên lao động nông nghiệp thì lại có phần hơi giảm so với tổng số lao động.
Nguyên nhân chính dẫn đến kết quả này là do một số lao động nông nghiệp trong xã đi làm nghề khác (công
nhân, thợ xây )
Tại địa bàn xã hiện nay cũng có thêm một số ngành như dịch vụ, tiểu thủ công
nghiệp cũng đang phát triển tiêu biểu như: Thành lập HTX Đức Nghiệp Thành tại
xóm Tiền Phong. Hợp tác xã dịch vụ điện Khe Mo hoạt động tốt, đảm bảo điện tiêu
dùng cho người dân, vận hành lưới điện an toàn.
Các hộ kinh doanh sản xuất: Cơ khí, chế biến lâm sản, dịch vụ hoạt động tốt. Xã xét
23 hồ sơ cho các hộ gia đình để hỗ trợ xe lam - Công nông phục vụ sản xuất, kinh
doanh. Doanh nghiệp Chiến Oanh đang xây dựng nhà máy gạch Tuy-nen, sẽ đi vào
hoạt động quý I năm 2012.
Vì vậy xã cần tập trung phát triển ngành nghề phụ nhất là tiểu thủ công nghiệp để khai thác triệt để nguồn lao
động, các sản phẩm phụ trong quá trình sản xuất nông lâm nghiệp và tăng thu nhập, cải thiện đời sống người dân qua đó
hạn chế được các tệ nạn xã hội.
Trong những năm qua, xã Khe Mo đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm giảm tốc độ tăng dân số như vận động
các cặp vợ chồng sinh đẻ có kế hoạch, không sinh con thứ 3, phạt tiền đối với cặp nào sinh đẻ không có kế hoạch song
kết quả đạt được vẫn chưa cao. Nguyên nhân chủ yếu là do tư tưởng trọng nam khinh nữ của nhiều hộ gia đình, và vẫn
chưa ý thức được những tác hại mang lại của việc đông con. Chính lý do dân số tăng khá nhanh dẫn đến mật độ dân số
Gia cầm (gà, Ngan) 45000
(Nguồn số liệu ban nông lâm nghiệp xã Khe Mo năm 2011)
Qua bảng trên cho thấy tình hình sản xuất ở địa phương rất phát triển, với năng
suất cây trồng vật nuôi tương đối cao. Số lượng trong chăn nuôi tăng lên rõ rệt, với
6400 con lợn các loại năm 2010 tăng lên 6500 con năm 2011. Đàn gia cầm trong xã
cũng tăng lên qua các năm, năm 2010 là 43.000 con và đến năm 2011 tăng lên là
45000 con các loại, còn lại đàn trâu, bò trong xã cũng tăng lên đáng kể.
2.4.2.3. Trình độ dân trí và đời sống văn hoá của địa phương
* Cơ sở hạ tầng
- Giao thông: Xã đã tu sửa 9,7 km đường Linh Nham đi Đèo khế; các xóm mở
rộng đường, làm 1 km đường bê tông, sửa cầu Long giàn, xóm Thống nhất- Đèo khế
xây dựng cầu bán kiên cố qua sông Đèo Khế -Thái Nguyên trị giá trên 10 triệu đồng,
xóm Làng Cháy xây dựng cầu tràn trị giá trên 30 triệu đồng.
17
17
18
- Y tế: Xây dựng trạm y tế 02 tầng, với thiết bị cơ sở vật chất đầy đủ, thiết bị
khám chữa bệnh đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh, với đội ngũ cán bộ có năng lực
được đào tạo bài bản với 1 bác sỹ, 5 y sĩ và 1 y tá trung cấp. Trong những năm qua,
trạm y tế xã đã có nhiều cố gắng trong việc chăm sóc bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân
và cộng đồng. Các chương trình y tế quốc gia như kế hoạch hoá gia đình, tiêm chủng
mở rộng, phòng chống bướu cổ, suy dinh dưỡng ở trẻ em đã và đang được thực hiện
rất đều đặn, trạm xá còn khám sức khoẻ định kỳ cho học sinh 3 trường Tiểu học,
Trung học cơ sở và Mầm Non. Tổ chức tẩy giun cho học sinh cấp I, tổ chức uống
Vitamin A cho trẻ dưới 6 tháng tuổi, tỷ lệ Trẻ em suy dinh dưỡng của xã là 20,69%.
Hàng năm trạm đều được đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn và
xếp loại A, đạt cơ quan văn hoá.
- Thuỷ lợi: Thường xuyên kiện toàn tổ, đội thuỷ nông ở các xóm có công trình
thuỷ lợi. Bảo dưỡng, vận hành, sử dụng 1 trạm bơm điện La Đường, 2 trạm bơm dầu
Đèo Khế, kênh tự chảy ở La Dẫy, vv
hội Xuân Đền Long Giàn vào dịp 14 tháng giêng.
Hàng năm ban văn hoá xã phối hợp với các đoàn thể như: Hội phụ nữ, Đoàn
thanh niên tổ chức liên hoan văn nghệ, đốt lửa truyền thống chào mừng các ngày lễ
lớn và kỷ niệm các ngày truyền thống, thúc đẩy được phong trào văn hoá văn nghệ
trong xã.
Trong những năm qua đã tổ chức tốt hai lần thi Đại hội thể dục thể thao của xã
và tham gia đại hội thể thao của huyện Đồng Hỷ, đây là những dịp để khơi dậy phong
trào thể dục, thể thao trong toàn xã. Những xóm có phong trào thể thao mạnh là: xóm
ao Rôm 1, Ao Rôm 2, Khe Mo
Công tác thông tin truyền thông được tổ chức thường xuyên để tiếp âm đài
truyền thanh huyện và Đài tiếng nói Việt Nam cũng như thông tin các bản tin của
xóm, xã, trong đó hoạt động tốt là cụm loa truyền thanh xóm Khe Mo 1 và 2.
19
19
20
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Chuyên đề nghiên cứu giới hạn trong phạm vi thực trạng sử dụng đất đồi núi
trên địa bàn xã Khe Mo - huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên.
Tập trung chủ yếu vào đất đồi núi dốc của bà con nông dân trên địa bàn xã.
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu
Địa bàn xã Khe Mo - huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên.
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Tại xã Khe Mo - huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái
Nguyên
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 02 đến tháng 06 năm 2012
3.3. Nội dung nghiên cứu
3.4.2. Công tác nội nghiệp
- Phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu và đánh giá hiệu quả sau khi thực
hiện kế hoạch.
+ Đánh giá về mặt kinh tế: Sử dụng các chỉ tiêu kinh tế như:
- Tổng thu của các loại hình sản xuất
1
Bi
n
i
B
=
=
∑
(3.1)
- Tổng chi của các loại hình sản xuất
1
Ci
n
i
C
=
=
∑
(3.2)
- Tổng( thu – chi ) của các loại hình sản xuất
1
(Bi-Ci)
n
i
nước, độ ẩm không khí và góp phần xây dựng một môi trường sinh thái bền vững cho
sản xuất trong vùng và trên cả nước.
22
22
23
Phần 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Sơ lược tình hình giao đất giao rừng của xã qua các thời kỳ
4.1.1. Quá trình sử dụng đất đồi núi của xã trước thời kỳ chuyển sang cơ chế thị trường
Trong những năm qua, Hợp tác xã Khe Mo cũng nằm trong tình trạng của nhiều xã khác. Nông nghiệp chưa
phát triển, sản xuất nông nghiệp chủ yếu là cây Lúa và trồng màu. Mục tiêu của người dân là cố gắng tạo ra lương thực,
thực phẩm đủ để cung cấp cho nhu cầu cuộc sống của mình.
Đất đồi núi thời gian này thường bị bỏ trống hoặc trồng những loại cây không đem lại hiệu quả kinh tế, như
trồng sắn để bổ trợ cho lương thực hoặc những cây ăn quả phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt trong gia đình. Trong khi đó
giống cây trồng đưa vào sản xuất không được chọn lọc nên năng suất không cao, phẩm chất, chất lượng chưa tốt. Sản
xuất trên đất đồi núi thời kỳ này chưa phát triển đúng mức, chưa thực sự là điểm mạnh của xã thuộc khu vực trung du
miền núi.
Các loại cây trồng thời kỳ này vẫn có hiệu quả kinh tế thấp chưa có sự đột biến trong sản xuất trên đất đồi núi.
Thời gian này hợp tác xã có chỉ đạo bà con nông dân chú trọng trồng và phát triển cây chè, lúc này chè là cây sản xuất
chính. Do thuận lợi về thời tiết khí hậu và đất đai phù hợp nên cây chè sinh trưởng phát triển tốt và đưa vào canh tác
rộng rãi trên địa bàn xã.
4.1.2. Quá trình sử dụng đất từ khi chuyển sang cơ chế thị trường cho tới nay
Việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế theo cơ chế thị trường có sự quản lý của cơ
sở theo phân cấp của Nhà nước có ảnh hưởng đến phát triển kinh tế sản xuất hàng
hoá hơn. Hiện nay ở các vùng núi trung du miền núi đã và đang xuất hiện nhiều mô
hình sản xuất trên đất đồi núi có hiệu quả hơn trước.
Khác với cơ chế cũ, cơ chế thị trường đã và đang đặt ra cho người dân những vấn đề cần tính toán, cân nhắc
sao cho mỗi đơn vị đất đai, với mỗi đồng vốn bỏ ra là phải đạt hiệu quả cao nhất. Chính vì vậy, người nông dân đã dần
chuyển dịch cơ cấu sản xuất truyền thống sang cơ cấu sản xuất hàng hoá có sự sinh lợi trên đất đồi núi. Từ những cây
trồng có hiệu quả thấp, phá huỷ đất đai và môi trường đã được thay thế bởi những cây trồng thích hợp với thị trường,
trên 40%.
Trong những năm qua, xã Khe Mo đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm giảm tốc độ tăng dân số như vận động
các cặp vợ chồng sinh đẻ có kế hoạch, không sinh con thứ 3, phạt tiền đối với cặp nào sinh đẻ không có kế hoạch song
kết quả đạt được vẫn chưa cao, do tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn còn ăn sâu trong tiềm thức của người dân.
4.2. Kết quả của quá trình giao đất giao rừng
Tình hình giao đất giao rừng của xã được thực hiện rất tốt và đã hoàn thiện xong vào năm 2003. Cụ thể như
sau: Trước năm 1989 khi chưa có dự án PAM 3352 đầu tư trồng rừng vào tỉnh Bắc Thái thì sản xuất lâm nghiệp của xã
phát triển rất chậm. Đất rừng chưa được giao cho người dân quản lý và sử dụng, rừng tự nhiên bị chặt phá bừa bãi và
nghiêm trọng.
24
24
25
Từ khi có dự án PAM 3352 đầu tư cho phát triển trồng rừng thì người dân nhận đất trồng rừng. Do người dân
được sự đầu tư từ dự án để sản xuất cây con, chăm sóc bảo vệ rừng nên hộ thực hiện rất tốt.
Kết quả là qua 4 năm thực hiện từ 1989 - 1993, toàn xã đã trồng được 226,55ha cây Bạch đàn. Nhưng diện tích
Bạch đàn này sinh trưởng, phát triển rất chậm. Từ năm 2001 - 2003, Xã Khe Mo đã và đang quan tâm đến phát triển
lâm nghiệp, nhiều chương trình, dự án đã được đầu tư vào như: Dự án trồng Măng bát độ (tính đến cuối năm 2003 toàn
xã đã trồng được 5228 gốc). Bên cạnh đó, xã còn thực hiện chương trình chuyển đổi rừng PAM kém hiệu quả, thay thế
vào đó là những cây sinh trưởng, phát triển tốt, hiệu quả kinh tế cao như cây Keo lai, Bạch đàn mô, Chè cành và cây ăn
quả.
Kết quả là: tính đến cuối năm 2003 toàn xã đã thực hiện chuyển đổi được như sau:
- Chuyển đổi 26,5ha chân ruộng cao sang trồng cây ăn quả và chè cành.
- Chuyển đổi 6ha trồng màu sang trồng cỏ chăn nuôi trâu bò
- Chuyển đổi 125ha rừng PAM sang trồng keo lai, và cây ăn quả.
Tính đến năm 2003, hầu hết diện tích rừng và đất rừng đã được giao cho từng hộ gia đình khai thác, sử dụng và
bảo vệ (1851,31ha). Nhưng do cây rừng là cây lâu năm nên thời gian từ khi trồng tới khi thu hoạch rất dài, lâu đem lại
hiệu quả kinh tế vì vậy hiện nay bà con nông dân trong xã dần chuyển diện tích trồng rừng sang trồng các loại cây trồng
khác đem lại hiệu quả kinh tế như: cây ăn quả và cây chè. Do đó, hiện nay diện tích trồng rừng còn lại là 1240,83ha
trong toàn xã.
4.3. Những kết quả đạt được về sử dụng đất của ngành trồng trọt năm 2011