TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Khoa Nông - Lâm
Nguyễn Thị Lịch
Điều tra thành phần sâu hại cà phê chè, diễn biến và một số yếu
tố ảnh hưởng đến sâu đục thân mình trắng Xylostrechus quadies
Chevr trong năm 2010 tại xã Chiềng Pha Thuận Châu, Sơn La
năm 2010
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Nông Học
Sơn La , tháng 12 năm 2010
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài thực tập tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng nỗ lực
của bản thâ, tôi còn nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của thầy cô, gia đình và
bạn bè.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới thầy Vũ Quang Giảng - Giảng viên
khoa Nông Lâm - Trường ĐH Tây Bắc, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ
tôi trong suốt quá trình thực tập. Đồng thời qua đây tôi cũng xin chân thành
cảm ơn tới các thầy cô giáo trong bộ môn nông nghiệp, những người đã tạo mọi
điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới bà con dân bản xã Chiềng Pha đã nhiệt
tình giúp đỡ, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực tập tại xã.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, bố mẹ và bạn bè thân,
những người đã luôn động viên, ủng hộ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Do kiến thức và thời gian có hạn nên báo cáo này không tránh khỏi sai
sót, kính mong thầy cô và các bạn đóng góp ý kiến để báo cáo hoàn thiện hơn.
Sơn La ngày 15 tháng 12 năm 2010.
Sinh viên
Nguyễn Thị Lịch
MỤC LỤC
2.3.3. Điều tra diễn biến của sâu đục thân mình trắng hại cà phê 15
2.3.3.1. Điều tra tỷ lệ cây cà phê bị sâu đục thân mình trắng gây hại 15
2.3.3.2. Điều tra tỷ lệ, mật độ các pha phát dục của sâu đục thân mình trắng
theo thời gian 16
2.3.4. Điều tra yếu tố ảnh hưởng đến đến tỉ lệ cây cà phê bị sâu đục thân
mình trắng gây hại 16
2.3.4.1. Ảnh hưởng của cây che bóng đến tỉ lệ sâu đục thân mình trắng 16
2.3.4.2. Ảnh hưởng của tuổi cây đến đến tỉ lệ cây cà phê bị sâu đục thân
mình trắng gây hại 16
2.3.4.3. Ảnh hưởng của chế độ chăm sóc đến đến tỉ lệ cây cà phê bị sâu đục
thân mình trắng gây hại 16
2.3.4.4. Ảnh hưởng của vị trí trồng (sườn núi phía Đông, phía Tây) đến tỉ lệ
cây cà phê bị sâu đục thân mình trắng gây hại 17
2.4 Công thức tính toán và phương pháp xử lí số liệu 17
2.4.1. Công thức tính toán………………………………………………………17
2.4.2. Phương pháp xử lí số liệu 17
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 18
3.1. Khái quát tình hình phát triển cà phê tại xã Phỏng Lái, huyện
Thuận Châu - Sơn La 18
3.2. Thành phần sâu hại trên cây cà phê chè Catimor tại Chiềng Pha 19
3.3. Điều tra diễn biến của sâu đục thân mình trắng Xylotrechus quadripes
Chevr hại cà phê qua các tháng năm 2010 22
3.3.1. Diễn biến tỷ lệ cây cà phê bị sâu đục thân mình trắng gây hại theo
thời gian 22
3.3.2 Diễn biến tỷ lệ, mật độ các pha phát dục của sâu đục thân mình trắng
trong các tháng 25
3.3.3.1. Diễn biến tỷ lệ các pha phát dục của sâu đục thân mình trắng trong
các tháng 25
3.3.3.1. Diễn biến mật độ các pha phát dục của sâu đục thân mình trắng
trong các tháng 27
Hình 3: Mật độ hại của sâu đục thân mình trắng
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BVTV : Bảo vệ thực vật
CS : Cộng sự
ĐT : Điều tra
TB : Trung bình
TLH : Tỷ lệ hại
TT : Trưởng thành
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Ngày xưa cà phê là một loại thức uống mà chỉ có giới quí tộc mới được
thưởng thức, Honoré de Balzac thường uống loại cà phê rất đặc để có thể thức
làm việc. Ông thường làm việc tới 12 tiếng một ngày. Ludwig van Beethoven có
thói quen lựa chọn đủ 60 hạt cà phê để pha một tách Mokka. Ngày nay cà phê
trở thành thức uống phổ biến nhất trên thế giới. Cà phê gây hưng phấn kích thích
hệ thần kinh trung ương, làm cho tỉnh táo, kích thích khả năng làm việc, đặc biệt
làm việc bằng trí óc, tăng cường hoạt động cơ. Khi mỏi mệt uống một ly cà phê
sẽ hưng phấn tinh thần, uống sau khi ăn sẽ trợ giúp cho tiêu hoá, mùa hè nóng
bức uống một ly cà phê lạnh cũng có tác dụng giải khát, phòng cảm nắng. Cà
phê còn làm giảm nguy cơ mắc bệnh hen, chữa được dị ứng, giúp giảm đau, bảo
vệ khỏi các bệnh về gan, làm tăng sức mạnh của cơ bắp chống lại bệnh tiểu
đường type II…
Ngoài ra cà phê còn chứa: đường saccaroza 5.3- 7.95%, đường khử 0.3-
0.44%, protein hòa tan 5.15%- 5.23%, các loại protein không hòa tan 5.02-
6.04%, các sinh tố nhóm B, PP là các chất dinh dưỡng cần thiết cho con người.
Hơn nữa khi thưởng thức cà phê ta thấy có mùi thơm rất hấp dẫn, của gần 670
hợp chất thơm phức tạp tạo nên. Hiện nay trên thế giới có hơn 80 nước trồng cà
phê với tổng diện tích hơn 10 triệu ha, giá trị xuất khẩu hàng năm lên tới 10 tỷ
đô la, trong đó phải kể đến Braxin, Colombia, Indonexia, Costarica… Năm 2010
Việt Nam có khoảng 450.000 ha cà phê, sản lượng khoảng 600000 tấn, kim
- Xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến sâu đục thân mình trắng.
Phần I: TỔNG QUAN
1.1. Thành phần sâu hại trên cây cà phê
Thế giới càng phát triển thì nhu cầu con người cũng được tăng theo, một
trong những nhu cầu đó là nhu cầu sử dụng cà phê như nước giải khát. Nắm bắt
được nhu cầu đó thì ngành cây cà phê trên thế giới cũng phát triển mạnh mẽ,
một số nước có sản lượng xuất khẩu lớn hàng đầu thế giới như Brazin, Việt
Nam, Thái Lan, Indonexia…Tuy nhiên bên cạnh đó cũng tồn tại một số khó
khăn nhất định đã làm cho sản lượng, chất lượng cà phê bị ảnh hưởng. Một
trong những khó khăn đó là vấn đề sâu bệnh hại cây cà phê đặc biệt là ở các
vùng nhiệt đới và Á nhiệt đới là những vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho
sâu bệnh hại phát triển, mà cà phê là loại sản phẩm có giá trị kinh tế cao vì vậy
việc nghiên cứu về thành phần sâu hại cà phê đã được nghiên cứu từ lâu, khá kỹ
và cũng đã được công bố trên thế giới.
Theo Lepelley (1986), từ năm 1962 đã ghi nhận được 48 loài sâu hại cà phê ở
vùng nhiệt đới. Trong đó quan trọng là các loài: Scotia, Segetum, Anthores
leuconotus, Bixadus sierricola, Coccus viridis, Leucoptea coffeella, Lcoffeina,
Dichocrocis crocodora, Epicampoptera maranica, Habrochila placida
Taurantii, Oligonychus cofeae, Antestia lineaticollis, Stephanoderes hampei,
Toxoptera aurantii và Thliptoceras octguttale (Wynger,1962), dẫn theo Vũ
Quang Giảng (2001) [4].
Le Pelley (1973) có nhận xét: trên cây cà phê có gần 400 loài côn trùng gây
hại ở Ethiopia, ở các nước Đông Á có 250 loài và các vùng trung tâm nhiệt đới
có 200 loài. Theo Klarke, Macrae (1987) và Clifford, Willson (1987), đến nay
trên thế giới dịch hại cây cà phê đã ghi nhận tương đối chi tiết, đầy đủ với
khoảng hơn 900 loài. Các loại dịch hại này bao gồm côn trùng, ve, động vật thân
mềm, tuyến trùng, chim và động vật có vú, trong đó có nhiều loài là dịch hại
nguy hiểm trên cây cà phê. Phần lớn những loài đã phát hiện thuộc bộ cánh cứng
(Coleoptra) với 34% tổng số loài, bộ cánh nửa cứng (Hemiptera) với 28% tổng
số loài và bộ cánh vảy (Lepidoptera) với 21% tổng số loài. Các bộ khác đã phát
cánh đều Homoptera 10 loài (chiếm 71,43 %)
Đoàn Công Đỉnh, (1999) [3] nhận xét: sâu hại cà phê rất phong phú và đa
dạng tuy nhiên không phải loài sâu hại nào cũng gây hại nghiêm trọng, chỉ có
một số loài gây hại có ý nghĩa đối với cà phê. Điều tra trong 3 năm 1996 - 1998
trên cây cà phê ở vùng Tây Nguyên phát hiện được 12 loài côn trùng hại cà phê.
Trong đó phổ biến là các loài rệp sáp mềm xanh Coccus viridis Green và rệp sáp
giả Planococus citri Risso hại thân, lá, quả.
Trên cây cà phê chè ở các tỉnh miền núi phía Bắc ghi nhận được có 23 loài
sâu hại, trong đó sâu tiện vỏ được phát hiện lần đầu tiên gây hại cà phê. Sau đó
các tác giả này đã ghi nhận thêm 2 loài sâu hại nữa, đưa tổng số loài sâu hại đã
ghi nhận được trên cây cà phê chè ở các tỉnh miền Bắc lên 25 loài (Trần Huy
Thọ và CS, 1999) [10]. Trong 25 loài đó có 15 loài thường xuyên xuất hiện trên
các vườn cà phê. Trong số các loài đã phát hiện có 4 loài gây hại thân, 2 loài gây
hại cành, 2 loài gây hại cây con và 12 loài gây hại lá. Riêng tập đoàn rệp sáp hại
cà phê chè đã ghi nhận có 4 loài khá phổ biến và quan trọng là rệp sáp mềm
xanh Coccus viridis Green, rệp sáp giả Planococcus citri, rệp sáp mềm nâu
Coccus hesperidum.L, rệp sáp nâu Parasaissetia nigra. Những loài thường
xuyên gây hại nặng cho vườn cà phê gồm: sâu đục thân Xylotrechus quadrips,
sâu tiện vỏ Dihammus cervinus, rệp sáp giả Planococcus citri và rệp sáp nâu
Parasaissetia cervinus , Trần Huy Thọ và CS (2000) [11].
Như vậy thành phần sâu hại cà phê được quan tâm nghiên cứu khá kĩ và
đầy đủ trên các vùng trồng cà phê. Nắm được thành sâu hại cà phê ta có thể có
các biện pháp phòng trừ hợp lí cho từng vùng miền.
1.2. Nghiên cứu về sâu đục thân mình trắng hại cà phê
Theo Dr Hall và CS (1998), [15] sâu đục thân mình trắng là loại côn trùng
gây hại quan trọng nhất trên cà phê chè ở Ấn Độ cũng như Srilanka, Trung
Quốc, Việt Nam, Thái Lan. Trong các nguyên nhân làm giảm diện tích canh tác
cà phê thì sâu đục thân mình trắng là nguyên nhân trung tâm, người ta ước tính
rằng cả nước bị mất 130m rupi mỗi năm vì loài sâu hại. Xén tóc đực hấp dẫn
con cái bằng hoocmon sinh dục đực được phát hiện ra bởi Venkateshu và cộng
gốc vào giữa thân, các chỗ mắt cành (những chỗ có nhiều vết nứt nhất) vết nứt
hẹp và sâu, rải rác từng quả cũng có khi từ 2-9 trứng hoặc hàng chục quả ở một
nơi. Thời gian đẻ trứng kéo dài từ 1-15 ngày. Số lượng trứng đẻ của một con cái
tùy theo tháng. Thường vào tháng 4-5 tháng trứng đẻ nhiều nhất. Tháng 4 bình
quân một con cái đẻ 87.2 trứng, tháng 5 là 10.2 trứng (tối đa là 364 trứng).
Trưởng thành sống trung bình 10-14 ngày, tối đa là 34 ngày. Mùa hè trưởng
thành sống ngắn hơn mùa đông, con cái sống lâu hơn con đực. Sâu non sau nở
1-2 ngày thì đục vào vỏ. Sâu đục quanh phần vỏ đa số là tuổi 1 (95.8%). Khi sâu
đục vào phần giáp vỏ và gỗ đa số là sâu non tổi 2 (72.9%). Khi sâu có kích
thước trên 6mm (tuổi 3) mới bắt đầu đục vào phần gỗ của cây. Nói chung sâu
non trên 5 ngày phần lớn đã đục vào gỗ, nhưng ở phần ngọn thân, sâu non
thường đục vào gỗ sớm hơn. Khi sâu đã đục hẳn vào trong phần gỗ thì sự phân
bố của sâu giữa phần gốc, phần giữa và phần ngọn của thân chính không có sự
chênh lệch đáng kể. Đường đục trong cây cà phê nhỏ thường là thẳng, nhưng
thân cây có đường kính trên 35cm (cà phê 2 năm tuổi thường có đường đục
ngoằn ngoèo, có nhiều nhánh ngang, có thể là đường đục lên xuống). Đến tuổi
5-6 sâu non đẫy sức thường đục 1 đường đi lên phía trên thân cây cà phê và dịch
ra phía ngoài sát vỏ. Khi giáp với vỏ thì đục một khoang rộng như một cái túi và
quay đầu trở ra nằm im ở đó để hóa nhộng. Tỷ lệ nhộng nằm ở phần sát vỏ
chiếm 96.3%. Thời gian chuyển hóa các giai đoạn của sâu non từ lúc có màu
vàng nghệ đến lúc chuẩn bị nhộng từ 9.3-16.5 ngày (khi nhiệt độ trung bình 24-
25
0
C) . Từ nhộng đến trưởng thành từ 10-25 ngày (khi nhiệt độ trung bình từ
23.6-26
0
C). Để hoàn thành một vòng đời (từ trứng đến trưởng thành đẻ) cần
200-211 ngày ở vụ đông và 126-127 ngày ở vụ hè (Giáo trình côn trùng nông
nghiệp, ĐH Nông Nghiệp I) [5].
- Thiên địch
phiến lá biến dạng. Cây bị nặng lá vàng héo rồi chết [7].
Như vậy nghiên cứu về sâu đục thân mình trắng trên ít vùng nhưng cũng
khá đầy đủ về các đặc điểm sinh học, hình thái, quy luật phát sinh gây hại
1.3 Tổng quan về cây cà phê
1.3.1 Giống cà phê
Có ba loại gống cà phê: Cà phê chè Coffea arabica L., cà phê vối Coffea
canephora., cà phê mít Coffea excelsa.
Mỗi giống có nhiều chủng loại khác nhau như trong cà phê chè có các
chủng: Typica, Bourbon, Moka, Mundonovo, Caturra, Catuai, Catimor Trong
cà phê vối có rất nhiều chủng loại khác nhau về kích thước lá, độ gợn sóng của
phiến lá, màu sắc lá và quả, hình dạng quả, song chủng loại được trồng rất phổ
biến ở nhiều nước là Robusta. Đặc trưng của cà phê Typica là đọt non có màu
nâu tím, còn các chủng khác như Bourbon, Mundonovo thì đọt non có màu
xanh. Tùy theo từng giống mà chúng đòi hỏi các điều kiện ngoại cảnh khác
nhau, cho nên việc bố trí cơ cấu giống vào trồng trong một vùng phải dựa trên
các yêu cầu riêng của chúng. Có như vậy mới phát huy được hiệu quả của từng
giống [18].
1.3.2 Các yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh của cây cà phê chè
Cây cà phê arabica ưa sống ở vùng núi cao. Đây là loài có giá trị kinh tế
nhất trong số các loài cây cà phê. Cà phê chè chiếm 61% các sản phẩm cà phê
toàn thế giới. Người ta thường trồng nó ở độ cao từ 1000-1500m. Cây có tán
lớn, màu xanh đậm, lá hình oval. Cây cà phê trưởng thành có thể cao từ 4-6 m,
nếu để mọc hoang dã có thể cao đến 15 m. Quả hình bầu dục, mỗi quả chứa hai
hạt cà phê. Cà phê chè sau khi trồng khoảng 3 đến 4 năm thì có thể bắt đầu cho
thu hoạch. Thường thì cà phê 25 tuổi đã được coi là già, không thu hoạch được
nữa. Thực tế nó vẫn có thể tiếp tục sống thêm khoảng 70 năm [18].
1.3.2.1. Đất đai
Cà phê có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau, trong đó đất ba-zan là
một trong những loại đất lý tưởng để trồng cà phê, vì các đặc điểm lý hóa tính
tốt, và tầng dày của loại đất này. Yêu cầu cơ bản của đất trồng cà phê là có tầng
C - 25
0
C, thích hợp nhất từ 20 - 22
0
C. Dưới
5
0
C cây sẽ ngừng sinh trưởng trên 32
0
C cây sẽ ngừng quá trình quang hợp. Do
yêu cầu về nhiệt độ như vậy nên cà phê chè thường được trồng ở miền núi có độ
cao từ 600 - 2.500 m (nguyên quán cà phê chè là ở Ethiopie nơi có độ cao trên
dưới 2.000 m). Các nước trồng cà phê chè có phẩm vị thơm ngon như: Kenya,
Tanzania, Ethiopie, Côlombia thường được trồng ở nơi có độ cao từ 800 m trở
lên. Nhiệt độ giảm xuống tới 0
0
C làm thui cháy các đọt non, nếu kéo dài làm
cháy cả lá già đặc biệt là vùng hay xuất hiện sương muối. Gió rét và gió nóng
đều bất lợi đối với sinh trưởng của cây cà phê [18].
Nhìn chung cây cà phê chè yêu cầu điều kiện khí hậu mát mẻ, đặc biệt có
mùa đông lạnh để phân hóa mầm hoa, có biên độ nhiệt ngày đêm lớn để tăng
quá trình tích lũy vào hạt, tăng năng suất và phẩm chất.
Đối với vùng Chiềng Pha có điều kiện nhiệt độ rất phù hợp, chỉ có một
bất lợi là mùa đông có sương muối vì vậy trồng cây che bóng là một khâu quan
trọng trong kĩ thuật trồng trọt.
* Lượng mưa
Lượng mưa cần thiết đối với cây cà phê chè thường 1.300 mm - 1.900
mm. Nếu lượng mưa được phân bổ tương đối đều trong năm có một mùa khô
hạn ngắn vào cuối và sau vụ thu hoạch, nhiệt độ thấp thì thuận lợi cho quá trình
phân hóa mầm hoa của cây cà phê. Nhìn chung, ở nước ta lượng mưa phân bố
khô kiệt và cây bị thiếu nước, hoa không nở được ngả sang màu tím "hoa
chanh’’, theo Đoàn Triệu Nhạn và CS (1999) [6]. Vì vậy cần giải quyết trồng tốt
hệ đai rừng chắn gió chính và phụ; cây che bóng để hạn chế tác hại của gió [21].
Trên đây là các yêu cầu sinh thái của cây cà phê chè. Nếu ta đảm bảo
được các điều kiện này thì sẽ giúp cây sinh trưởng, phát triển tốt, nâng cao tính
chống chịu nên phần nào hạn chế tác hại của sâu borer hại cà phê chè.
PHẦN 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu.
2.1.1. Vật liệu nghiên cứu
- Cây cà phê chè Coffea arabica giống Catimor
2.1.2. Đối tượng nghiên cứu
- Các loại sâu hại cà phê chè
- Sâu đục thân mình trắng Xylotrechus quadripes Chevrolat hại cà phê
2.1.3. Dụng cụ thí nghiệm
- Lọ đựng mẫu, bông, cồn 70
0
, kéo, dao, sơn đánh dấu, sổ ghi chép…
2.1.4. Thời gian nghiên cứu
- Tiến hành từ tháng 7/2010 đến tháng 10/2010
2.1.5. Địa điểm nghiên cứu
- Tại xã Chiềng Pha, Thuận Châu, Sơn La.
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra tình hình trồng sản xuất cà phê tại xã về diện tích, năng suất, sản
lượng qua một số năm.
- Điều tra thành phần sâu hại trên cây cà phê chè tại xã Chiềng Pha, huyện
Thuận Châu - Sơn La, mô tả triệu chứng sâu hại cà phê chè.
- Đánh giá mức độ gây hại, diễn biến số lượng, tỉ lệ các pha phát dục và yếu
tố ảnh hưởng đến số lượng của sâu đục thân mình trắng Xylotrechus quadripes
Chevrolat hại cà phê chè tại xã Chiềng Pha, huyện Thuận Châu - Sơn La.
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.3.1. Điều tra tỷ lệ cây cà phê bị sâu đục thân mình trắng gây hại
- Chọn cố định 3 vườn cà phê tuổi kinh doanh, mỗi vườn 1 ha, 5 hàng điều
tra 1 hàng, 5 cây điều tra 1 cây, quan sát kĩ cây bị đục.
- Chỉ tiêu theo dõi: Tỷ lệ cây bị hại
2.3.3.2. Điều tra tỷ lệ, mật độ các pha phát dục của sâu đục thân mình trắng
theo thời gian
- Chọn 30 cây bị sâu đục thân mình trắng, chẻ cây tìm sâu, phân tuổi cây và
các pha phát dục (sâu non, nhộng, trưởng thành vừa vũ hóa trong cây).
- Tiến hành điều tra định kì 15 ngày 1 lần ở các khu vườn cà phê chè
- Chỉ tiêu theo dõi :
-Tỷ lệ các pha phát dục của sâu đục thân mình trắng
- Mật độ sâu non, nhộng, trưởng thành/cây
2.3.4. Điều tra yếu tố ảnh hưởng đến đến tỉ lệ cây cà phê bị sâu đục thân
mình trắng gây hại
2.3.4.1. Ảnh hưởng của cây che bóng đến tỉ lệ sâu đục thân mình trắng
- Mỗi loại vườn cà phê (vườn che bóng, vườn thuần) chọn 3 vườn đại diện,
mỗi vườn 0.5 ha.
+ Cứ 5 hàng điều tra một hàng, 5cây điều tra 1 cây.
+ Chỉ tiêu theo dõi: tỷ lệ % cây bị hại ở các loại vườn
2.3.4.2. Ảnh hưởng của tuổi cây đến đến tỉ lệ cây cà phê bị sâu đục thân mình
trắng gây hại
- Mỗi tuổi cây chọn vườn rộng 0.5 ha (cây tuổi 1, tuổi 2, tuổi 3, tuổi 4, tuổi 5,
tuổi 10).
+ Cứ 5 hàng điều tra một hàng, 5 cây điều tra 1 cây.
+ Chỉ tiêu theo dõi: tỷ lệ % cây bị hại ở các loại vườn
2.3.4.3. Ảnh hưởng của chế độ chăm sóc đến đến tỉ lệ cây cà phê bị sâu đục
thân mình trắng gây hại
- Chọn vườn tuổi kinh doanh, vườn tốt chọn 3 vườn, vườn xấu chọn 3 vườn.
- Tại các vườn cứ 5 hàng điều tra một hàng, 5 cây điều tra 1 cây.
- Chỉ tiêu theo dõi: tỷ lệ % cây bị hại ở các loại vườn
và trình độ của người dân cũng khác nhau: các đồng bào dân tộc thiểu số thì
trình độ dân trí còn thấp, còn dân cư từ các vùng miền xuôi lên định cư thì trình
độ cao hơn. Kĩ thuật canh tác của người dân trong trồng cây cà phê cũng khác
biệt giữa người dân bản địa và dân lên định cư. Các biện pháp canh tác như: tỉa
cành, làm cỏ, bón phân, phòng trừ sâu bệnh người dân định cư làm đúng với sự
hướng dẫn của trạm cà phê, cán bộ khuyến nông xã Chiềng Pha nhưng còn
người bản địa thì thường đầu tư thâm canh thấp, việc chăm sóc cũng không làm
đúng theo hướng dẫn mà có thể làm qua loa hoặc làm theo kinh nghiệm truyền
nhau, làm cỏ không thường xuyên, đốn tỉa qua loa, bón phân ít hơn, khi có tiền
thì mua đủ lượng phân, khi có ít hay không có tiền thì mua ít hơn, không theo
dõi sâu bệnh thường xuyên, thường ít hiểu biết về các triệu trứng sâu bệnh hại,
chỉ khi thấy cây bị sâu bệnh tấn công nhiều, ảnh hưởng tới sinh trưởng phát
triển, giảm năng suất, thậm chí có cây chết họ mới để ý tới và đi hỏi mua thuốc
và phun trừ, đến lúc này việc phun thuốc thường đạt hiệu quả thấp thậm chí
không có hiệu quả (như bệnh khô cành, khô quả và sâu đục thân borer). Khi thu
hái thì họ thu hái cả quả xanh, quả bị sâu, bệnh thối hỏng nên cà phê của họ
năng suất và phẩm chất thường kém.
Đất đai của Chiềng Pha chủ yếu là đất đỏ vàng, đất nâu sẫm, có độ phì nhiêu
lớn. Khí hậu ở đây mát mẻ, khá dễ chịu, có một mùa đông lạnh, thỉnh thoảng có
sương muối và gió lào. Tuy vậy nhưng cà phê rất thích hợp với điều kiện tự
nhiên của vùng, đó là thế mạnh để phát triển cây cà phê của xã. Cây cà phê mới
được phát triển tại Chiềng Pha cách đây vài năm nó đã tỏ rõ ưu thế và giúp
người dân nơi đây tăng nguồn thu nhập, cải thiện cuộc sống song lại gặp một số
khó khăn như thời tiết, thiếu nước, kĩ thuật canh tác…. Để góp một phần giải
quyết vấn đề trên với Chiềng Pha tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Điều tra
thành phần sâu hại cà phê chè, diễn biến và một số yếu tố ảnh hưởng đến sâu
đục thân mình trắng Xylostrechus quadies Chevr trong năm 2010 tại xã Chiềng
Pha Thuận Châu, Sơn La năm 2010”.
3.2. Thành phần sâu hại cà phê tại xã Chiềng Pha, huyện Thuận Châu, tỉnh
Sơn La