Thành phần và một số yếu tố ảnh hưởng đến sữa của bà mẹ tại thành phố hà nội và thành phố hồ chí minh - Pdf 13


BỘ Y TẾ
VIỆN DINH DƯỠNG
BÁO CÁO KẾT QUẢ ĐỀ TÀI CẤP BỘ

Tên đề tài

THÀNH PHẦN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN SỮA CỦA BÀ MẸ TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Chủ nhiệm đề tài: Ts.Bs. Trương Tuyết Mai

Cán bộ tham gia chính:

PGS. Ts. Nguyễn Thị Lâm
TS.Bs. Trương Tuyết Mai
Ths.Ds. Lê Hồng Dũng
Ths. Bs. Bùi Thị Mai Hương
Cơ quan phối hợp thực hiện đề tài:
- Sở Y tế và Trung tâm Y tế thành phố Hà Nội
- Trung tâm Y tế và trạm y tế các Quận Thanh Xuân, Hai Bà Trưng và
Đống Đa, Hoàn Kiếm, Ba Đình, Cầu Giấy
- Trung tâm Dinh dưỡng thành phố Hồ Chí Minh
- Tr
ạm Y tế các phường thuộc Quận Bình Thạnh, Quận 6-tp.Hồ Chí Minh
- Khoa Hóa Vệ sinh An toàn Thực phẩm- Viện Dinh dưỡng
- Trung tâm kiểm nghiệm Thực phẩm (Viện Kiểm nghiệm Thực phẩm)

Hà Nội, 2010

3

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT

AA Arachidonic acid
EPA Eicosapentaenoic acid
DHA Docosahexaenoic
UNICEF Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc
RDA Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị
TB ± SD Trung bình ± Độ lệch chuẩn
Nhóm A Nhóm bà mẹ cho con bú từ 29-60 ngày
Nhóm B Nhóm bà mẹ cho con bú từ 61-90 ngày
Nhóm C Nhóm bà mẹ cho con bú từ 91-120 ngày
tp. Hồ Chí Minh Thành phố Hồ Chí Minh
IgA Immunoglobulin A

15
7. Đạo đức trong nghiên cứu
15
V- KẾT QUẢ

16
5.1. Đặc điểm của đối tượng tại thời điểm nghiên cứu

16
5.2. Hàm lượng các thành phần dinh dưỡng trong sữa mẹ 18
5.2.1. Nhóm thành phần dinh dưỡng chính
18
5.2.2. Nhóm muối khoáng
20
5.2.3. Nhóm vitamin
23
5.2.4. Nhóm miễn dịch và các acid béo
26
5.2.5. Nhóm các acid amin
28
5.3. Đặc điểm khẩu phần và tần xuất tiêu thụ thực phẩm

32
5.4. Một số yếu tố liên quan đến thành phần dinh dưỡng trong sữa mẹ

38

5

VI-BÀN LUẬN


6
I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho trẻ dưới một tuổi, là nguồn dinh dưỡng quý giá nhất cho trẻ
trong 6 tháng đầu đời. Sữa mẹ cung cấp cho trẻ các chất dinh dưỡng hoàn hảo dễ tiêu hóa, dễ
hấp thu và có tác dụng kháng khuẩn, giúp trẻ phát triển về thể chất, tinh thần và phòng chống
các bệnh nhiễm khuẩn, phòng chống thừa cân béo phì [1], [2]. Tổ chức Y tế Thế giới và Quĩ
Nhi đồng Liên hiệp quốc đã đưa ra khuyến cáo về việc nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu,
khẳng định việc nuôi con bằng sữa mẹ là một khâu quan trọng trong công tác chăm sóc sức
khỏe ban đầu [3], [4]. Các nhà khoa học đã chỉ ra rất nhiều lợi ích sức khỏe của việc nuôi con
bằng sữa mẹ cho cả mẹ và con [5], [6], [7].

Sữa mẹ là một thức ăn hỗn hợp với hàng trăm các thành phần dinh dưỡng và các thành phần
hoạt tính sinh học khác nhau và các thành phần dinh dưỡng và thành phần sinh học này cũng có
sự thay đổi về nồng độ cũng như sự gắn kết các thành phần theo từng giai đoạn [8]. Thành phần
dinh dưỡng của sữa trưởng thành bao gồm các protein, lipid, lactose, các vitamin, các muối
khoáng, và các thành phần hoạt tính như các men, kháng thể, và hócmon. Trên thế giới, để

nhà khoa học có được dữ liệu trong nghiên cứu, đồng thời giúp các chuyên gia y tế và dinh
dưỡng có định hướng trong việc phòng chống thiếu hụt thành phần chất dinh dưỡng trong sữa
mẹ.

II. MỤC TIÊU

Mục tiêu chung:

Đánh giá các thành phần trong sữa mẹ và một số yếu tố ảnh hưởng đến sữa của bà mẹ cho con
bú từ 1 tháng đến 4 tháng tại một số phường nội thành cùa 2 thành phố Hà Nội và tp. Hồ Chí
Minh.

Mục tiêu cụ thể:
1. Xác định 60 thành phần dinh dưỡng và thành phần miễn dịch trong sữa của các bà mẹ cho
con bú từ 1 tháng đến 4 tháng tại một số phường nội thành thành phố Hà Nội và thành phố

Hồ Chí Minh.
2. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến thành phần sữa mẹ.

III. TỔNG QUAN

Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới thì 13% tử vong của trẻ em dưới 5 tuổi có thể phòng
tránh được nếu trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu [12]. Việc nuôi con bằng sữa mẹ là
cách nuôi trẻ tự nhiên, tiện lợi và kinh tế nhất và là nguồn thức ăn tốt nhất cho trẻ nhỏ. Sữa mẹ
có đầy đủ các thành phần dưỡng chất mà không thức ăn nào có thể thay thế được [13].

Thành phầ
n quan trọng đầu tiên của sữa mẹ đó chính là protein. Protein là một thành dinh
dưỡng thiết yếu, được gọi là nền tảng của cuộc sống, hình thành nên protein cơ thể, tạo nên cấu
trúc cơ quan sống và cả thành phần các tác nhân có hoạt tính sinh học. Lonnerdal B [8], Kunz


Một thành phần chính của sữa mẹ đó là lactose, một beta-disaccharide được sản sinh trong các
tế bào biểu mô từ glucose qua cơ chế hoạt động liên quan đến alpha-lactalbumin [19]. Ngoài ra
là một lượng rất lớn thành phần oligosaccharides chiếm tới 10% trong tổng số carbohydrate của
sữa mẹ [20]. Hơn nữa, các vitamin và muối khoáng có mặt đầy đủ trong sữa mẹ, điều này giúp
trẻ bú sữa mẹ đề phòng được rất nhiều bệnh liên quan đến thiếu vi chất dinh dưỡng, như bệnh
khô mắt do thiếu vitamin A, còi xương do thiếu canxi, thiếu máu do thiếu sắt và các yếu tố giúp
hấp thu sắt [21].

Ngoài thành phần dinh dưỡng cần thiết, Rodriguez-Palmero M và cộng sự đã tìm thấy trong
sữa mẹ còn có rất nhiều các thành phần hoạt tính sinh học cao, như các loại men, hócmon, các
yếu tố tăng trưởng dưới rất nhiều hình thái và chủng loại [16], [17], [21], [22]. Đặc biệt, các
thành phần hoạt tính như chống nhiễm khuẩn (secretory IgA, oligosaccharides, lysozym); các
chất chống viêm; các chất vận chuyển transporters (lactoferrin); và các men tiêu hóa. Một số
các hócmon dạng nonpeptide (thyroid hormones, cortisol, progesterone, pregnanediol,
estrogens) và hócmon dạng peptide, hócmon tăng trưởng (erythropoietin, hHG, gonadotropin,
insulin-like growth factor-I, hócmon tuyến giáp) cũng đã được tìm thấy. Chính nhờ các thành
phần hoạt tính này mà trẻ bú sữa mẹ có được khả năng kháng khuẩn cao, giúp trẻ không bị mắc
một số bệnh như sởi, cúm, ho gà, bệnh đường ruột ở những năm tháng đầu đời [22].

Thành phần của sữa mẹ là không thay đổi, nhưng nồng độ của rất nhiều thành phần lại thay đổi
trong suốt thời gian người mẹ cho con bú và nồng độ này cũng khác nhau giữa từng cá thể. Sự

9
thay đổi về nồng độ các thành phần có mối quan hệ thuận chiều với lượng sữa bài tiết, và sự
khác biệt về nồng độ có ảnh hưởng đến khẩu phần bú mẹ của trẻ. Có rất nhiều yếu tố ảnh
hưởng đến nồng độ các thành phần trong sữa mẹ [23], như giai đoạn tiết sữa, thời điểm bú, đẻ
con lần thứ mấy, tuổi bà mẹ, vùng miền, mùa trong năm, khẩu phần của bà mẹ, một số đặc tính
riêng của từng bà mẹ. Về các giai đoạn bài tiết sữa, sữa mẹ bài tiết theo 4 giai đoạn, sữa non, là
dòng sữa đầu tiên được tiết ra ngay sau khi sinh trong vòng 1-3 hoặc 5 ngày đầu; sữa chuyển

Chế độ ăn và tình trạng dinh dưỡng của bà mẹ cũng là các yếu tố quan trọ
ng có ảnh hưởng đến
hàm lượng của các thành phần trong sữa mẹ. Khẩu phần của bà mẹ có ảnh hưởng nhanh chóng
đối với các thành phần vi lượng, như các vitamins, kẽm, selen, iod, fluorine, hay cả các axit
béo không no chuỗi dài [33]. Các axit béo trong khẩu phần ăn của bà mẹ phản ánh lượng axit
béo ngay trong sữa mẹ [18], [29]. Nồng độ các vitamin tan trong nước trong sữa mẹ như

10
riboflavin (vitamin B2), ascorbic acid (vitamin C), cũng tăng rất nhanh khi bà mẹ uống bổ sung
[34].
Ngoài ra, số lượng sữa bài tiết và chất lượng dinh dưỡng trong sữa mẹ cũng bị ảnh hưởng bởi
một số yếu tố khác như chế độ chăm sóc, nghỉ ngơi, tâm lý của bà mẹ [32].

Trong suốt 2 thập kỷ qua, bên cạnh thu thập những thông tin kiến thức của các nhà khoa học
trên thế giới về vai trò, tầm quan trọng của sữa mẹ, các chuyên gia y tế và dinh dưỡng Việt
Nam đã đưa thêm các chứng cớ khoa học về lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ, đánh giá về
các yếu tố liên quan đến tình trạng bài tiết và chất lượng sữa mẹ [35], [36], [37], [38], [39]. Các
nghiên cứu nhằm tìm hiểu giá trị dinh dưỡng của sữa mẹ trên 35 bà mẹ tại 4 quận nội thành Hà
Nội năm 1984 của tác giả Nguyễn Thị Kim và cộng sự cũng đã đưa ra các kết quả về lượng bài
tiết sữa, về hàm lượng của thành phần dinh dưỡng chủ yếu như protein, lipid, glucid, một số
chất khoáng [36]. Bên cạnh đó tác giả cũng đã tìm hiểu khẩu phần ăn của các bà mẹ để chỉ ra
mối liên quan giữa khẩu phần ăn và lượng sữa bài tiết. Về việc nghiên cứu các chất kháng thể
trong sữa mẹ, tác giả Đào Ngọc Diễn và cộng sự đã đánh giá nồng độ SIgA trên 83 mẫu sữa mẹ
trong 3 ngày đầu tại Hà Nội đã cho thấy nồng độ SIgA trong sữa mẹ của các bà mẹ Việt nam
(4,05 +/- 2,75 g/L) là thấp hơn so với tài liệu nước ngoài, và nồng độ này cũng thay đổi trong 3
ngày đầu, và có sự khác nhau giữa các nhóm tuổi của các bà mẹ [37]. Trong một điều tra mới
đây của tác giả Cao Thu Hương và cộng sự về hàm lượng vitamin A trong sữa mẹ trên 300 bà
mẹ tại một số xã của tỉnh Bắc Ninh cho thấy hàm lượng vitamin A trong sữa mẹ đạt trung bình
là 0,91 micromol/L [38]. Ngoài ra, tác giả Nguyễn Xuân Ninh và cộng sự cũng đã phân tích
hàm lượng của 38 thành phần axit béo trong sữa mẹ trên 194 bà mẹ tại 8 xã thuộc vùng đồng

thận, bệnh gan, hoặc không bị điếc, câm, hoặc rối loạn tâm thần; Sinh con với tuổi thai từ
38-42 tuần tuổi; Trẻ có cân nặng sơ sinh từ 2.500 gram trở lên; trẻ đẻ thường hoặc mổ đẻ;
trẻ không mắc các chứng bệnh bẩm sinh; Các bà mẹ đồng ý tham gia chương trình và ký
cam kết
2. Thời gian và địa điểm :
Địa điểm lấy mẫu: tại 6 phường thuộc quận nội thành Hà Nội và 3 phường thuộc quận
nội thành Thành phố Hồ Chí Minh
Địa điểm phân tích mẫu: Khoa Hóa Vệ sinh Thực phẩm -Viện Dinh dưỡng Quốc gia và
Trung tâm Kiểm nghiệm Thực phẩm (Viện Kiểm nghiệm Thực phẩm).
Thời gian: từ tháng 4 -12/2009
3. Phương pháp và tiến hành nghiên cứu:
3.1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, điều tra cắt ngang
3.2. Cỡ mẫu:
Sử dụng công thức:
n=
Trong đó,
n: số lượng mẫu cần điều tra; t: phân vị chuẩn hóa (t=2 ở xác suất 0,954); α: độ lệch chuẩn,
α=400 Kcal; e: sai số cho phép, e= 100 Kcal; N: tổng số bà mẹ cho con bú từ 1 tháng đến 4
tháng tại 6 quận của Hà Nội và 3 quận của thành phố Hồ Chí Minh ước tính là 1.200
Thay vào công thức trên ta có số mẫu tối thiểu là n= 60. Để đảm bảo cỡ mẫu có ý nghĩa thống
kê và đề phòng các trường hợp bỏ cuộc chúng tôi lập danh sách tăng cỡ mẫu lên 50%. Do đ
ó số
mẫu cho điều tra khẩu phần là 90 đối tượng. Chia đối tượng thành 3 nhóm theo số ngày sau khi
t
2
. α
2
. N
e
2

Bước 1. Sàng lọc, điều tra và thu thập mẫu
- Trước khi tiến hành chọn mẫu, ban tổ chức liên hệ với Sở Y tế, Trung tâm Y tế dự phòng
Thành phố, Trạm Y tế các Quận, phường, tổ dân phố nơi điều tra của 2 thành phố Hà Nội và
Hồ Chí Minh. Thống nhất về kế hoạch triển khai và những yêu cầu việc chọn lựa, tiến hành
sàng lọc đối tượng theo tiêu chuẩn, đối tượng ký cam kết tham gia.
-Tập huấn trước điều tra về kỹ thuật phỏng vấn phiếu hỏi ghi chung, hỏi ghi khẩu phần 24 giờ
qua trong 3 ngày liên tục, cách vắt sữa cho bà mẹ cho các điều tra viên tuyến trung ương, đảm

13
bảo thống nhất chung về phương pháp trong suốt quá trình điều tra. Ngoài ra, tập huấn triển
khai chung cho các điều tra viên tuyến tỉnh, các cán bộ y tế, công tác viên tham gia điều tra.
- Triển khai thu thập số liệu: Sau khi liên lạc, hẹn ngày giờ với từng đối tượng tại mỗi phường
điều tra, đội điều tra sẽ đi đến từng nhà bà mẹ để thực hiện các công việc: hỏi ghi chung, hỏi
ghi khẩu phần, hướng dẫn lấy sữa và lấy sữa. Các điều tra về hỏi ghi thông tin chung chỉ thực
hiện 1 lần đầu tiên cho 1 đối tượng, hỏi ghi khẩu phần thực hiện trong 3 ngày, việc lấy sữa sẽ
tiến hành trong 3 ngày nhằm đảm bảo đủ số lượng mẫu sữa là 300 mL, trung bình mỗi ngày là
100 mL.
- Các giám sát viên Viện Dinh dưỡng, ban tổ chức tuyến tỉnh và các chuyên gia của Nhật Bản
ngẫ
u nhiên giám sát các địa điểm lấy mẫu, đảm bảo chất lượng cho việc lấy mẫu, vận chuyển
và bảo quản mẫu tại thực địa.
Bước 2. Phân tích mẫu tại Labo
- Xử lý mẫu: Ngay sau khi mẫu được thu thập về, các mẫu được xử lý sơ bộ. Bao gồm đong đo
số lượng mẫu thu được, đánh giá cảm quan sữa về nhìn và ngửi, sau đó trộn sữa của các ngày
thu thập được với nhau, chia đều ra các ống nghiệm, ghi mã, lưu mẫu trong tủ đá -20 oC tại
Labo Hóa An toàn Thực phẩm-Viện Dinh dưỡng cho đến khi phân tích.
- Phân tích mẫu: Cán bộ trong Labo Hóa-An toàn thực phẩm- Viện Dinh dưỡng và Trung tâm
kiểm nghiệm Thực phẩm sẽ lần lượt tiến hành phân tích các thành phần theo các phương pháp
đã chuẩn hóa. Các chuyên gia Nhật Bản và cán bộ quản lý đề tài giám sát và có kiểm tra ngẫu
nhiên các kết quả xét nghiệm thu được.

C. Tùy thuộc vào từng bà mẹ, có thể một ngày vắt sữa 2-3 lần, đảm
bảo tối đa trong một ngày từ 50- 100 ml (phụ lục 3).
Vận chuyển và bảo quản mẫu sữa mẹ tại cộng đồng: Các điều tra viên sẽ giám sát và thu lại
mẫu sữa, ghi mã và tên đối tượng, ngày tháng, số lượng sữa thu được của từng ngày. Các mẫu
sữa được đặt trong hộp đá lạnh, tránh ánh sáng, được đưa ngay về Labo Hoá Thực phẩm-Viện
Dinh dưỡng.
Xử lý mẫu sơ bộ: Sau mỗi ngày nhận mẫu, số lượng và tình trạng mẫu sữa mẹ trên mỗi ống
được ghi lại. Các mẫu sữa ngày 1 và ngày 2 sau khi thu thập được để trong tủ lạnh có nhiệt độ
từ 4-8
0
C. Sau khi thu thập mẫu sữa ngày thứ 3, tất cả các ống sữa của 3 ngày sẽ được trộn đều
với nhau. Tất cả các ống mẫu trộn với nhau được đảm bảo về sự đồng nhất và tránh không để
dính lại trong thành ống. Mẫu sữa trộn của một đối tượng được chia ngay ra nhiều các ống
đựng mẫu nhỏ, ghi code và bảo quản trong tủ đá -20
0
C cho đến khi phân tích.

4.4. Phân tích thành phần sữa: 61 thành phần trong sữa mẹ được phân tích tại Labo Hóa An
toàn vệ sinh thực phẩm và Trung tâm kiểm nghiệm thực phẩm -Viện Dinh dưỡng.
Các chỉ tiêu phân tích:
- Thành phần dinh dưỡng chính (7 chỉ tiêu): Năng lượng, Lipid, Protein, Tro, Carbohydrate,
Lactose, chất rắn hòa tan
- Acid béo (7 thành phần) và cholesterol: palmitic acid, oleic acid, linoleic acid, AA, EPA,
DHA.
- Acid amine (18 thành phần): Lysin, methionin, tryptophan, phenylalanin, threonin, valin,
leucin, isoleucin, arginin, histidin, cystin, tyrosin, alanin, acid aspartic, acid glutamic,
glycin, prolin, serin.
- Chất khoáng (10 thành phần): Ca, Mg, K, Na, P, Cl, Fe, Cu, Zn, Se
- Vitamins (16 thành phần): Vit A, Beta-carotene, Vit C, D, E, K, B1, B2, B3, B5, B6, B12,
choline, Inositol, Biotin, Folic acid.

6. Phân tích và xử lý số liệu
Các phiếu điều tra được làm sạch số liệu, sau đó nhập số liệu bằng chương trình EPI DATA.
Phân tích số liệu theo chương trình SPSS 15.0. Các số liệu của biến liên tục được kiểm tra phân
bố chuẩn trước khi phân tích. Với số liệu không phân bố chuẩn sử dụng các test thống kê phi
tham số như sự khác nhau giữa 2 giá trị trung bình được kiểm định qua test Mann-Whitney. Sử
dụng Kruskall-Wallis Test để
kiểm định sự khác nhau giữa 3 giá trị trung bình.
Xác định các yếu tố liên quan sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính (hệ số tương quan r).
Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi giá trị p<0.05.
Số liệu khẩu phần sau khi qui đổi được nhập bằng chương trình khẩu phần của Viện Dinh
dưỡng. Sử dụng SPSS 15.0 để phân tích số liệu khẩu phần.
7. Đạo đức trong nghiên cứu
Đề cương thông qua Hội đồng Đạo đức, Hội đồng Khoa học - Viện Dinh dưỡng trước khi triển
khai. Đối tượng đã được giải thích rõ về mục đích, nội dung thực hiện và quyền lợi của đối

16
tượng khi tham gia nghiên cứu, đồng thời họ đã ký giấy tình nguyện tham trước khi tiến hành
lấy sữa mẹ và phỏng vấn. Những thông tin cá nhân về đối tượng nghiên cứu được giữ kín.
V. KẾT QUẢ

5.1. Đặc điểm của đối tượng tại thời điểm nghiên cứu

Bảng 1. Số lượng đối tượng theo nhóm, thành phố, quận

Thành phố
Nhóm A
(29-60 ngày)
Nhóm B
(61-90 ngày)
Nhóm C

Quận 5 (phường 6) 3 3 4 10
Quận Bình Thạnh
(phường 27)
3 3 4 10
Tổng cộng 30 30 31 91

Bảng 1 cho thấy có 91 đối tượng tham gia nghiên cứu, đáp ứng đủ yêu cầu về cỡ mẫu của đề tài
đặt ra. Có 61 đối tượng thuộc 6 quận nội thành thành phố Hà Nội và 30 đối tượng thuộc 3 quận
nội thành thành phố Hồ Chí Minh. Các đối tượng được phân bố đều dựa theo thời gian nuôi
con con bú kể từ sau khi sinh con, chia thành 3 nhóm: nhóm bà mẹ nuôi con bú từ 29 đến 60
ngày có 30 đối tượng (nhóm A), nhóm từ 61 đến 90 ngày có 30 bà mẹ (nhóm B) và nhóm 91-
120 ngày có 31 bà mẹ (nhóm C).

17Bảng 2. Đặc điểm chung của đối tượng tham gia Nhóm A
(n=30)
Nhóm B
(n=30)
Nhóm C
(n=31)
Tổng số
(n=91)
Tuổi trung bình của
mẹ (năm)
28,6 ± 3,8 28,8 ± 3,9 28,6 ± 4.2 28,7 ± 3,9

thuốc và uống rượu bia. Tỷ lệ bà mẹ uống sữa hàng ngày, bao gồm sữa bột, sữa tươi, sữ
a bò,
sữa đậu nành, chiếm 83,5%, tỷ lệ này chia đều ở cả 3 nhóm. Tỷ lệ bà mẹ đã từng bổ sung viên
vi khoáng trong thời gian mang thai (bao gồm viên sắt, acid folate, và các viên đa vi chất)
chiếm tới 76,9%, tỷ lệ này chia đều ở cả 3 nhóm. Sau khi sinh con, tỷ lệ bà mẹ hiện đang dùng

18
viên bổ sung chỉ còn chiếm 15,4%. Bảng 3 cũng cho thấy tỷ lệ bà mẹ có tình trạng tiết sữa
nhiều chiếm 45,1%, bà mẹ có lượng sữa vừa đủ chiếm 54,9%, không có bà mẹ nào bị thiếu sữa.
Bảng 3. Đặc điểm bệnh tật và thói quen sinh hoạt ăn uống của đối tượng tham gia Nhóm A
(n=30)
Nhóm B
(n=30)
Nhóm C
(n=31)
Tổng số
(n=91)
Mắc bệnh mãn tính về tiêu
hóa

Có 3 2 5 10 (11,1%)
Không 27 28 26 81 (88,9%)
Hút thuốc, uống rượu, bia
Có 0 0 0 0
Uống sữa các loại (hiện
tại)


Bảng 4. Nồng độ trung bình của 7 thành phần dinh dưỡng chính trong sữa mẹ theo nhóm
Thành phần

Nhóm A
(n=30)
TB ± SD
Nhóm B
(n=30)
TB ± SD
Nhóm C
(n=31)
TB ± SD
Tổng số (n=91)
TB ± SD
(phạm vi
dao động)
Năng lượng (kcal/100g)
55,75 ± 11,30
a
55,00 ± 8,14
a
52,89 ± 10,58
a

54,53 ± 10,07
(30,1-74,9)
Tổng chất rắn (g/100 g)
11,22 ± 1,48
a
11,08 ± 1,16

a
2,38 ± 1,04
a

2,50 ± 1,06
(0,11-4,84)
Carbohydrate (g/100g)
7,35 ± 0,83
a
7,35 ± 0,86
a
7,15 ± 0,78
a

7,28 ± 0,82
(4,7-9,4)
Lactose (g/100g)
6,24 ± 0,50
a
6,11 ± 0,27
a
6,10 ± 0,41
a

6,15 ± 0,41
(5,43-7,1)
Trên cùng hàng, các ký tự khác nhau biểu diễn sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05;
Kruskall-Wallis Test
Tương tự đối với thành phần chất rắn hòa tan, hàm lượng trung bình là 11,05 g/100 g sữa
mẹ. Nhóm A có hàm lượng chất rắn cao nhất (11,22 g), tiếp theo là nhóm B (11,08g),

Protein (g/100g) 0,98 ± 0,26 1,10 ± 0,24 <0,05
Lipid (g/100g) 2,28 ± 1,12 2,95 ± 0,76 <0,05
Carbohydrate (g/100g) 7,09 ± 0,87 7,68 ± 0,53 <0,05
Lactose (g/100g) 6,29 ±0,41 5,86 ± 0,21 <0,05
Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05; Mann-Whitney test
Hàm lượng một số thành phần dinh dưỡng chính trong sữa mẹ tại 2 thành phố Hà Nội và tp.
Hồ Chí Minh được chỉ ra trong bảng 5. Hàm lượng về năng lượng, tổng chất rắn hòa tan,
protein, lipid, carbohydrate trong sữa mẹ của các bà mẹ tại một số phường của thành phố
Hồ Chí Minh cao hơn một cách có ý nghĩa thống kê so với các bà mẹ tại một số phường tại
thành phố Hà Nội. Nhưng ngược lại, hàm l
ượng lactose trong sữa mẹ của các bà mẹ tại Hà
Nội lại cao hơn một cách đáng kể so với thành phố Hồ Chí Minh; 6,29 g/100 g so với 5,86
g/100 g, p<0,05.
5.2.2. Nhóm muối khoáng
Bảng 6 cho thấy nồng độ trung bình của 10 thành phần muối khoáng cơ bản trong sữa mẹ
theo 3 nhóm. Hàm lượng thành phần chloride trung bình là 35,57 mg/100 g sữa mẹ với dao
động từ 18 đến 63 mg/100g; không có sự khác biệt khi so sánh giữa 3 nhóm bà mẹ theo
thời gian nuôi con. Hàm lượng phospho trung bình của 3 nhóm là 19,51 mg/100 g sữa mẹ
(0-35,6), trong đó nhóm C- nhóm bà mẹ nuôi con bú t
ừ 91-120 ngày có hàm lượng thấp
hơn một cách có ý nghĩa thống kê so với bà mẹ nhóm A và B.

21

Bảng 6. Nồng độ trung bình của 10 thành phần muối khoáng trong sữa mẹ theo nhóm
Thành phần

Nhóm A
(n=30)
TB ± SD

(0-35,6)
Natri (mg/100g)
21,81 ± 14,93
a
27,23 ± 19,58
a
24,82 ± 15,36
a

24,62 ± 16,70
(0,5-92,3)
Kali (mg/100g)
23,77 ± 13,88
a
24,17 ± 12,26
a
27,87 ± 20,32
a

25,30 ± 15,86
(5,4-94,7)
Calci (mg/100g)
63,84 ± 28,33
a
64,61 ± 29,68
a
55,93 ± 20,05
a

61,40 ± 26,31

(0,06-0,82)
Đồng (µg/100g)
45,70 ± 16,26
a
42,60 ± 19,55
a
39,77 ± 19,44
a

42,66 ± 18,45
(14-68)
Selen (µg/100g)
0,98 ± 2,67
a
1,14 ± 2,71
a
0,72 ± 2,02
a

0,94 ± 2,46
(0-13,91)
Trên cùng hàng, các ký tự khác nhau biểu diễn sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05;
Kruskall-Wallis Test
Hàm lượng thành phần natri và kali trong sữa mẹ đạt trung bình là 24,62 và 25,30 mg/100
g sữa mẹ. Dao động nằm trong khoảng 0,5 đến 92,3 mg/100 g đối với natri và từ 5,4 đến
94,7 mg/100g đối với kali. Không tìm thấy sự khác biệt nào về hàm lượng 2 thành phần
này giữa 3 nhóm A, B và C. Tương tự đối với hàm lượng thành phần calci, hàm lượng
trung bình của cả 3 nhóm đạt 61,4 mg/100 g sữa mẹ với khoảng dao động từ 14,3 đến 153
mg/100 g. Quan sát thấy hàm lượng calci trong sữa của các bà mẹ nhóm C thấ
p hơn so với

Calci (mg/100g) 68,84 ± 28,69 46,27 ± 9,59 <0,01
Magie (mg/100g) 7,06 ± 6,19 5,17 ± 1,52 >0,05
Sắt (mg/100g) 0,45 ± 0,51 0,46 ± 0,54 >0,05
Kẽm (mg/100g) 0,27 ± 0,13 0,27 ± 0,14 >0,05
Đồng (µg/100g) 48,97 ± 19,28 29,83 ± 5,74 <0,01
Selen (µg/100g) 1,41 ± 2,90 0,00 ± 0,00 <0,01
Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05; Mann-Whitney test
Bảng 7, hình 1a và hình 1b chỉ ra một số khác biệt của 10 thành phần muối khoáng trong sữa
mẹ giữa một số phường của Hà Nội và một số phường của thành phố Hồ Chí Minh. Quan sát
thấy không có sự khác biệt về hàm lượng chloride, sắt, kẽm trong sữa mẹ của các bà mẹ
thuộc 2 thành phố.

23 Hình 1a. Sự khác biệt về nồng độ một số khoáng chất trong sữa mẹ giữa 2 thành phố
Hàm lượng magie trong sữa của các bà mẹ Hà Nội cao hơn so với các bà mẹ tại Hồ Chí Minh
(7,06 so với 5,17 mg/100g), tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê.
Trong khi hàm lượng kali, calci, đồng và kẽm trong sữa mẹ của các bà mẹ tại một số phường
thành phố Hà Nội cao hơn một cách có ý nghĩa thống kê so với các bà mẹ tại một số phường
thuộc thành phố Hồ Chí Minh, thì hàm lượng thành phần natri và phospho của các bà mẹ
thành phố Hà Nội lại thấp hơn đáng kể so với các bà mẹ thành phố Hồ Chí Minh (p<0,01).
Đặc biệt, hàm lượng selen trong sữa của các bà mẹ tại thành phố Hồ Chí Minh gần như
không có, với giá trị trung bình bằng 0, trong khi thành phần này tại thành phố Hà Nội trung

(mg/100g)
Kali
(mg/100g)
Calci
(mg/100g)
Đồng
(µg/100g)
Hà Nội Tp. HCM

24
5.2.3. Nhóm vitamin
Bảng 8 cho thấy hàm lượng trung bình của 13 thành phần vitamin trong sữa mẹ, bao gồm 8
vitamin tan trong nước và 5 vitamin tan trong dầu.
Hàm lượng vitamin C trong sữa mẹ (xác định tại điều kiện bảo quản mẫu sau 3 ngày ở
nhiệt độ 4-8
o
C) của 3 nhóm đạt trung bình là 0,25 mg/100g sữa mẹ (0-5,80). Quan sát thấy
xu hướng giảm dần nồng độ vitamin C theo thời gian cho con bú, từ 0,45 mg/100 g ở nhóm
A, xuống 0,21 mg/100 g ở nhóm B, xuống 0,1 mg/100 g ở nhóm C, tuy nhiên sự khác biệt
không có ý nghĩa thống kê.
Hàm lượng vitamin B1, B2, B3, B6 trong sữa mẹ của 3 nhóm đạt trung bình là 32,28
µg/100g (14,6-80,9); 9,8 µg/100g (1,3-67,8); 0,27 mg/100g (0,01-1,03); 7,48 µg/100g
(1,3-28,84). Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 3 nhóm về cả 4 hàm lượng
thành phần nói trên.
Bảng 8 cho thấy hàm lượng vitamin B5 trong sữa mẹ đạt trung bình là 0,45 mg/100g
(0,119-0,97); trong đó nhóm B lại có hàm lượng thấp nhất với 0,38 mg/100g, thấp hơn
đáng kể so với 2 nhóm A và C (0,48 mg/100g), p<0,05.
Hàm lượng isonitol và choline trong sữa mẹ của cả 3 nhóm đạt trung bình là 7,83 mg/100g
(1,65-25,5) và 7,24 mg/100g (3,1-19). Quan sát thấy giữa 3 nhóm không có sự khác biệt về
2 hàm lượng thành phần này.

TB ± SD
(phạm vi
dao động)
Vitamin C (mg/100g)
0,45 ± 1,20
a
0,21 ± 0,57
a
0,10 ± 0,29
a

0,25 ± 0,79
(0-5,80)
Vitamin B1 (µg/100g)
31,71 ± 11,73
a
34,71 ± 12,61
a
30,47 ± 5,83
a

32,28 ± 10,49
(14,6-80,9)
Vitamin B2 (µg/100g)
12,18 ± 13,68
a
7,16 ± 5,83
a
10,07 ± 7,84
a


7,48 ± 5,39
(1,3-28,84)
Isonitol (mg/100g)
8,65 ± 4,28
a
7,52 ± 4,48
a
7,36 ± 4,17
a

7,83 ± 4,30
(1,65-25,5)
Choline (mg/100g)
7,58 ± 3,02
a
7,16 ± 2,26
a
6,98 ± 2,52
a

7,24 ± 2,60
(3,1-19)
Vitamin K (µg/100g)
0,27 ± 0,21
a
0,20 ± 0,18
a
0,18 ± 0,14
a


0,13 ± 0,15
(0,005-0,735)
Beta-Caroten (µg/100g)
2,94 ± 4,67
a
5,37 ± 7,81
a
3,74 ± 6,14
a

4,02 ± 6,35
(0,08-35,71)
Trên cùng hàng, các ký tự khác nhau biểu diễn sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05;
Kruskall-Wallis Test

Trích đoạn KHUYẾN NGHỊ Phụ lục 3 Hướng dẫn cách vắt sữa cho các bà mẹ Phương pháp xác định hàm lượng vitamin B Phương pháp xác định hàm lượng cholesterol
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status