Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động tại công ty TNHH một thành viên Vận tải và Xây dựng - Pdf 31

LỜI MỞ ĐẦU
Xây dựng là một trong những ngành kinh tế lớn của nền kinh tế quốc
dân.Trong điều kiện nước ta đang thực hiện công nghiệp hóa- hiện đại hóa,
công việc quan trọng đầu tiên, trước nhất cần phải làm đó là mở mang các
công trình giao thông, phát triển dịch vụ vận tải, đẩy mạnh lưu thông hàng
hóa, giao thương giữa các vùng miền. Chính vì thế, xây dựng và vận tải, đặc
biệt là xây dựng cơ bản đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Nó đi trước mở
đường cho các ngành kinh tế khác, tạo dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và tài
sản cố định; thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, ứng dụng khoa học kỹ thuật và
nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân.
Một trong những đặc điểm nổi bật của ngành xây dựng đó là thời gian
thi công dài kéo theo tài sản lưu động (bao gồm tiền,hàng tồn kho, và các
khoản phải thu) lớn cả về số tuyệt đối và số tương đối (trong mối tương quan
với tổng tài sản). Doanh nghiệp quản lý, sử dụng tốt tài sản lưu động sẽ tiết
kiệm được chi phí (chi phí lưu kho, chi phí cơ hội của các khoản tiền…) mà
vẫn đảm bảo sản xuất thông suốt. Ngược lại có thể gây tốn kém, lãng phí khi
dự trữ quá nhiều tài sản lưu động; hoặc làm gián đoạn quá trình thi công nếu
dự trữ thiếu tài sản lưu động. Vì thế sử dụng tài sản lưu động một cách hiệu
quả có vai trò lớn trong hiệu quả sản xuất kinh doanh chung của doanh
nghiệp. Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường mở cửa, hội nhập kinh tế quốc
tế, cạnh tranh ngày càng khốc liệt, hiệu quả quản lý tài sản nói chung, và
hiệu quả tài sản lưu động nói riêng cao là yếu tố quan trọng tạo nên sức
mạnh cạnh tranh cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp bứt phá.
Được thành lập từ 1993 dưới tên gọi: Công ty Vật tư Kỹ thuật ô tô
trực thuộc Bộ Giao thông vận tải, đến nay công ty TNHH một thành viên
Vận tải và Xây dựng (TRANCO) đã từng bước khẳng định vị trí của mình
trong ngành vận tải ô tô và xây lắp. Công ty đã không ngừng mở rộng quy
mô kinh doanh, tăng hiệu quả quả sử dụng tài sản,qua đó nâng cao hiệu quả
hoạt động sản xuất kinh doanh. Sản phẩm xây lắp của Công ty chủ yếu là thi
1
công xây dựng đường, công trình thủy lợi và dân dụng. Quy mô công trình

Nếu nền kinh tế là một cơ thể sống, thì mỗi doanh nghiệp là một tế
bào. Sức khỏe của nền kinh tế phụ thuộc vào tình hình hoạt động của mỗi tế
bào ấy.
Xét trên giác độ tài chính, doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có
tư cách pháp nhân, hoạt động kinh doanh trên tị trường nhằm làm tăng giá trị
của chủ sở hữu.
Điều 4, mục 1, chương I, Luật doanh nghiệp 2005 quy định:
“Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch
ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục
đích thực hiện các mục đích kinh doanh.” Ở đây, kinh doanh được hiểu là
thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu
tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường
nhằm mục đích sinh lợi.
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp bao gồm các chủ thể
kinh doanh sau đây:
 Kinh doanh cá thể (sole proprietorship)
 Kinh doanh góp vốn ( partnership )
 Công ty (corporation).
Trong đó, công ty là loại hình doanh nghiệp mà ở đó có sự kết hợp ba
loại lợi ích: lợi ích của cổ đông (chủ sở hữu), lợi ích của hội đồng quản trị và
lợi ích của những nhà quản lý. Theo truyền thống, cổ đông kiểm soát toàn bộ
phương hướng, chính sách và hoạt động của công ty. Cổ đông bầu nên hội
đồng quản trị sau đó hội đồng quản trị lựa chọn ban quản lý. Các nhà quản lý
điều hành hoạt động của công ty theo cách thức mang lại lợi ích tốt nhất cho
các cổ đông.
3
Điều 63, mục 1, Luật doanh nghiệp 2005 quy định: Công ty trách
nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá
nhân làm chủ sở hữu( sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty
chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong

không phải chỉ do quản trị tài sản lưu động tồi. Nhưng cũng có thể thấy rằng
sự bất lực của một số công ty trong việc hoạch định và kiểm soát một cách
chặt chẽ các loại tài sản lưu động và các khoản nợ ngắn hạn hầu như là một
nguyên nhân dẫn đến thất bại cuối cùng của họ.
1.1.2.2. Đặc điểm của tài sản lưu động
Tài sản lưu động là một phần không thể thiếu và được luân chuyển
thường xuyên trong quá trình sản xuất kinh doanh, góp phần duy trì hoạt
động sản xuất kinh doanh được liên tục, không bị gián đoạn. Chính vì vậy
mà tài sản lưu động có những đặc điểm sau:
 Thứ nhất, tài sản lưu động có tính thanh khoản cao nên đáp ứng
đươc khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
 Thứ hai, khi tham gia vào sản xuất kinh doanh,tài sản lưu động
luôn vận hành, thay thế và chuyển hóa nhau qua các công đoạn
của quá trình sản xuất kinh doanh.
 Thứ ba, tài sản lưu động dễ dàng chuyển hóa từ dạng vật chất
sang tiền tệ dễ dàng mà không chịu chi phí lớn. Tuy nhiên, điều
này lại gây khó khăn cho quản lý, chống thất thoát.
 Thứ tư, tài sản lưu động chỉ tham gia vào một chu kỳ kinh
doanh. Chính đặc điểm này đòi hỏi doanh nghiệp phải duy trì
một lượng vốn ngắn hạn nhất định để đầu tư, mua sắm tài sản
lưu động, đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến
hành liên tục.
 Thứ năm, không như đầu tư vào tài sản cố định, các khoản đầu
tư cho tài sản lưu động thường có thể hủy bỏ bất cứ thời điểm
nào mà không phải chịu chi phí tốn kém. Điều đó có được là do,
tài sản lưu động phải đáp ứng nhanh chóng sự biến động của
doanh số và sản xuất. Đổi lại, tài sản lưu động thường chịu sự lệ
5
thuộc khá nhiều vào những dao động mang tính mùa vụ và chu
kỳ trong kinh doanh.

đảm bảo khả năng thanh toán nhưng cũng không quá lớn dẫn đến
lãng phí, ứ đọng vốn của doanh nghiệp.
- Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn bao gồm các chứng khoán
ngắn hạn, các khoản đầu tư ngắn hạn khác, các khoản dự phòng
đầu tư ngắn hạn… Đây là khoản vừa có tính thanh khoản cao, vừa
có khả năng sinh lời. Khi có nhu cầu thanh toán mà tiền không đáp
ứng đủ thì doanh nghiệp sẽ bán các chứng khoán này.
- Các khoản phải thu (tín dụng thương mại) bao gồm các khoản phải
thu khách hàng… là một loại tài sản rất quan trọng đối với doanh
nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp thương mại. Muốn mở rộng mạng
lưới tiêu thụ và tạo dựng mối liên hệ lâu dài, doanh nghiệp bán
chịu cho khách hàng, chính vì vậy đã phát sinh ra các khoản tín
dụng thương mại. Tín dụng thương mại có thể giúp doanh nghiệp
nâng cao doanh số, từ đó tăng doanh thu, nhưng cũng có thể đẩy
doanh nghiệp vào tình trạng khó khăn khi doanh nghiệp không thể
hoặc khó thu hồi nợ từ khách hàng.
- Các khoản ứng trước: bao gồm các khoản tiền mà doanh nghiệp đã
trả trước cho người bán, nhà cung cấp hoặc cho các đối tượng
khác. Ngoài ra, còn có các khoản tạm ứng cho công nhân viên
trong doanh nghiệp.
- Hàng tồn kho: “hàng tồn kho” trong khái niệm này không có nghĩa
là hàng hóa bị ứ đọng, không bán được mà nó bao gồm toàn bộ
hàng hóa vật liệu, nguyên liệu đang tồn tại ở các kho, quầy hàng
hoặc trong xưởng. Trên thực tế, hàng tồn kho bao gồm hàng trăm
loại khác nhau, tuy nhiên, có thể phân thành các nhóm chính sau:
nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, vật liệu bổ trợ, nhiên
liệu, thành phẩm, sản phẩm dở dang và bán thành phẩm, công cụ
dụng cụ…
Các doanh nghiệp khác nhau thì các khoản mục này có giá trị và tỷ
trọng khác nhau trong tổng tài sản lưu động. Tuy nhiên, doanh

những lợi thế nhất định như được hưởng chiết khấu thương mại, chiết khấu
thanh toán… Từ đó giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí, làm tăng lợi
nhuận cho doanh nghiệp.
8
Tài sản lưu động giúp doanh nghiệp tạo dựng được mối quan hệ mật
thiết với khách hàng, đặc biệt là khách hàng lớn và thân thuộc thông qua
chính sách tín dụng thương mại.
Thời gian luân chuyển tài sản lưu động lớn khiến cho công việc quản
lý và sử dụng tài sản lưu động luôn diễn ra thường xuyên, liên tục. Với vai
trò to lớn như vậy, việc tăng tốc độ luân chuyển tải sản lưu động, nâng cao
hiệu quả sử dụng tài sản lưu động trong doanh nghiệp là nhu cầu tất yếu.
1.2. Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động
1.2.1. Khái niệm về hiệu quả sử dụng tài sản lưu động trong doanh nghiệp
Trong bất kỳ lĩnh vực nào, hiệu quả luôn là tiêu chí được quan tâm
hàng đầu. Doanh nghiệp hướng tới hiệu quả kinh tế, còn chính phủ nỗ lực
đạt hiệu quả kinh tế xã hội. Đối với các doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế
thị trường ngày nay thì việc nâng cao hiệu quả tài sản lưu động luôn là vấn
đề mà các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp quan tâm vì vai trò và sự ảnh
hưởng của nó tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Theo nghĩa chung nhất, hiệu qua là một khái niệm phản ánh trình độ
sử dụng các yếu tố đầu để tạo ra kết quả đầu ra tốt nhất với mục đích xác
định. Như vậy, có thể hiểu hiệu quả sử dụng là một phạm trù kinh tế đánh
giá trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt kết quả cao nhất
trong quá trình sản xuất kinh doanh, tối đa hóa lợi ích của chủ sở hữu với
tổng chi phí thấp nhất. Do đó, hiệu quả sử dụng tài sản lưu động là phạm trù
kinh tế đánh giá trình độ sử dụng tài sản lưu động của doanh nghiệp để đạt
được mục tiêu cao nhất với mức tài sản lưu động hợp lý (tối đa hóa lợi ích
và tối thiểu hóa chi phí).
Tài sản lưu động của doanh nghiệp được sử dụng cho các quá trình dự
trữ, sản xuất và lưu thông. Quá trình vận động của tài sản lưu động bắt đầu

- Thứ ba, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động cũng làm tăng
cường sự gắn bó của doanh nghiệp với thị trường (bao gòm cả các
nhà cung cấp và khách hàng), và xã hội
- Thứ tư, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động góp phần nâng
cao hiệu quả tổng tài sản của doanh nghiệp.
1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lưu động của doanh
nghiệp
10
Nợ ngắn hạn
Tiền
Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động không thể được đánh giá đúng nếu chỉ
dựa vào một và chỉ tiêu đơn lẻ, nó là quá trình xem xét, đánh giá, phân tích
một cách tổng hợp và toàn diện trên nhiều góc độ, khía cạnh của riêng doanh
nghiệp, và của doanh nghiệp trong mối tương quan với chỉ tiêu chung của
toàn ngành.
1.2.3.1. Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Do đặc điểm của tài sản lưu động là những tài sản có tính thanh khoản
cao, sử dụng hiệu quả tài sản lưu động tức là lựa chọn hợp lý khả năng thanh
khỏn và khả năng sinh lời. Chính vì vậy, khi đánh giá hiệu quả sử dụng tài
sản lưu động thì các chỉ tiêu về khả năng thanh toán là không thể thiếu.
(1) Tỷ số thanh toán hiện hành =
Tỷ số khả năng thanh toán hiện hành là thước đo khả năng thanh toán
ngắn hạn cả doanh nghiệp, nó cho biết mỗi một đồng nợ của doanh nghiệp
được trang trải bằng bao nhiêu đồng tài sản lưu động. Nếu hệ số thanh toán
hiện hành giảm, cho thấy khả năng thanh toán của doanh nghiệp giảm, là
dấu hiệu báo trước khó khăn tài chính trong tương lai. Nếu hệ số này cao,
nghĩa là doanh nghiệp sẵn sàng trong việc trả nợ, đảm bảo được khả năng
thanh toán. Tuy nhiên, nếu tỷ số thanh toán hiện hành quá cao sẽ gây tốn
kém, ảnh hưởng tới khả năng sinh lời của doanh nghiệp.
(2) Tỷ số thanh toán nhanh =

Vòng quay TSLĐ=
Trong đó:
- Trong năm tổng mức luân chuyển tài sản lưu động được xác định
bằng doanh thu thuần của doanh nghiệp.
- : Tài sản lưu động bình quân trong kỳ, được tính
như sau:
====
12
Tổng mức luân chuyển TSLĐ trong kỳ
TSLĐBQ
kỳ
TSLĐBQ
`ky
TSLĐ
đầu kỳ
+ TSLĐ
cuối kỳ
2
TSLĐBQ
kỳ
x Thời gian của kỳ phân tích
-Tài sản lưu động bình quân năm:
TSLĐBQ
năm
=
Để đơn giản trong tính toán ta sủ dụng công thức tính TSLĐBQ gần đúng:
TSLĐBQ
năm
=
Ta có:

2
Doanh thu thuần
TSLĐBQ
năm
Tổng mức luân chuyển TSLĐ trong kỳ
Thời gian của kỳ phân tích
Vòng quay TSLĐ trong kỳ
Chỉ tiêu này nói lên độ dài bình quân của một lần luân chuyển của tài
sản lưu động hay số ngày bình quân cần thiết để tài sản lưu động thực hiện
một vòng quay trong kỳ. Ngược với chỉ tiêu số vòng quay tài sản lưu động
trong kỳ, thời gian luân chuyển tài sản lưu động càng ngắn càng chứng tỏ tài
sản lưu động được sử dụng có hiệu quả.
 Hệ số đảm nhiệm tài sản lưu động
Hệ số đảm nhiệm TSLĐ =
Hệ số này cho biết: để thu được mỗi đơn vị doanh thu, doanh nghiệp
phải sử dụng bao nhiêu đơn vị tài sản lưu động. Hệ số này càng thấp thì hiệu
quả sử dụng tài sản lưu động càng cao. Thông qua chỉ tiêu này, các nhà quản
trị tài chính xây dựng kế hoạch về đầu tư tài sản lưu động một cách hợp lý,
góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh.
(2)Tốc độ luân chuyển hàng tồn kho
Trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì hàng tồn kho thường
chiếm tỷ trọng cao trong tổng tài sản lưu động, do vậy hiệu quả sử dụng tài
sản lưu động bị ảnh hưởng đáng kể của hieuj quả sử dụng hàng tồn kho. Khi
phân tích hiệu quả của hàng tồn kho, ta sử dụng chỉ tiêu sau:
 Số vòng quay của hàng tồn kho
Số vòng quay HTK =
Chỉ tiêu này cho biết, trong kỳ phân tích hàng tồn kho quay được bao
nhiêu vòng, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ vốn đầu tư hàng tồn kho vận
động không ngừng đó là nhân tố để tăng doanh thu, góp phần tăng lợi nhuận
cho doanh nghiệp.

cao, sẽ cho thấy doanh nghiệp có nhiều khoản nợ khó đòi, và sẽ gặp rủi ro
cao trong thanh toán.
1.2.3.3. Các chỉ tiêu về khả năng sinh lợi
 Hệ số sinh lợi của TSLĐ =
15
HTK bình quân
Tổng doanh thu thuần
Doanh thu thuần
Các khoản phải thu bình quân
Các khoản phải thu
đầu kỳ
+ Các khoản phải thu
cuối kỳ
2
Tổng số ngày trong kỳ(360 ngày)
Vòng quay các khoản phải thu trong kỳ
Lợi nhuận sau thuế
Tài sản lưu động bình quân trong kỳ
Hệ số này phản ánh khả năng sinh lời của tài sản lưu động. Dựa vào tỷ
số này ta biết được một đồng lợi nhuận sau thuế có sự đóng góp bao nhiêu
đồng từ việc đầu tư tài sản lưu động.
Khi phân tích người ta so sánh các tỷ số này giữa các năm với nhau để
thấy được xu hướng và tình hình sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Ngoài ra,
còn so sánh với chỉ số chung của ngành để thấy được vị thế của doanh
nghiệp trong ngành. Từ đó đưa ra các chính sách sử dụng và quản lý tài sản
lưu động phù hợp với doanh nghiệp, đảm bảo cho tài sản lưu động được sử
dụng hiệu quả nhất.
1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng tài sản lưu động của
doanh nghiệp
1.2.4.1. Các nhân tố thuộc về doanh nghiệp

mọi hoạt động của doanh nghiệp, trong đó có chính sách quản lý tài sản lưu
động. Quyết định đúng đắn sẽ giúp doanh nghiệp đạt lợi nhuận cao, và
ngược lại có thể đưa doanh nghiệp vào tình trạng khó khăn, thậm chí là phá
sản.
(3) Kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
Mỗi doanh nghiệp, hoạt động trong các ngành khác nhau, khả năng tài
chính và năng lực kinh doanh khác nhau sẽ có kế hoạch sản xuất và tiêu thụ
sản phẩm khác nhau. Vào kì sản xuất của doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ sử
dụng lượng nguyên vật liệu, hàng hóa dự trữ tăng lên. Hoặc khi doanh
nghiệp chuẩn bị cho công tác lưu thông thì trong bán hàng, lượng hàng gửi
bán tăng làm cho tài sản lưu động cũng tăng lên. Việc lập kế hoạch ngay từ
đầu giúp cho doanh nghiệp có lượng dự trữ hợp lý, hạn chế những ruie ro có
thể gặp phải trong quá trình sản xuất kinh doanh.
(4) Cơ sơ hạ tầng của doanh nghiệp
Một doanh nghiệp có hệ thống cơ sở hạ tầng (trụ sở làm việc, chi
nhánh, cơ sở sản xuất, hệ thống bán hàng…) được bố trí hợp lý sẽ giúp cho
doanh nghiệp sử dụng tài sản lưu động một cách hiệu quả hơn. Kho chứa
hàng tốt sẽ tránh được những hao mòn không đáng có trong công tác bảo
quản hàng tồn kho. ..
(5) Công tác quản lý tài sản lưu động
 Quản lý các khoản phải thu
17
Trong nền kinh tế thị trường, để thắng lợi trong cạnh tranh, các doanh
nghiệp có thể áp dụng các chiến lược về sản phẩm, về quảng cáo, về giá cả,
vầ các dịch vụ hậu mãi…trong đó, chính sách tín dụng thương mại là một
công cụ hữu hiệu và không thể thiếu đối với các doanh nghiệp. Tuy nhiên,
tín dụng thương mại là con dao hai lưỡi, giúp doanh nghiệp tăng doanh số và
tạo đựng mối quan hệ nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro không thu hồi được
nợ. Do đó, các doanh nghiệp cần phải đưa ra những phân tích về khả năng
tín dụng của khách hàng, từ đó quyết định có nên cấp tín dụng thương mại

tương lai.
18
NPV = - [P.Q + V.(Q’-Q) + C.P’.Q’] +
R
QPr
+

1
''.).1(
Trong đó:
NPV: giá trị hiện tại ròng của luồng tiền sinh ra do chuyển từ chính
sách bán hàng trả ngay sang bán trả chậm
Q,P: sản lượng hàng bán được trong một tháng và giá bán đơn vị nếu
khách hàng trả tiền ngay
Q’, P’: sản lượng và giá bán đơn vị nếu bán trả chậm
C: Chi phí cho việc đòi nợ và bù đắp các khoản phải thu
V: Chi phí biến đổi cho một đơn vị sản phẩm
R: Doanh lợi yêu cầu thu được hàng tháng
r: Tỷ lệ phần trăm của hàng bán chịu không thu được tiền
Nếu NPV > 0, chứng tỏ việc bán hàng trả chậm mang lại hiệu quả cao hơn
việc thanh toán ngay, có lợi cho doanh nghiệp. Do đó khoản tín dụng được
chấp nhận.
 Theo dõi các khoản phải thu
Đây là một nội dung quan trọng trong quản lý các khoản phải thu.
Thực hiện tốt công việc này sẽ giúp cho doanh nghiệp có thể kịp thời thay
đổi các chính sách tín dụng thương mại phù hợp với tình hình thực tế. Thông
thường, để theo dõi các khoản phải thu, ta dung các chỉ tiêu, phương pháp,
mô hình sau:
-Theo dõi kỳ thu tiền bình quân
- Sắp xếp “tuổi” của các khoản phải thu theo độ dài thời gian, qua đó

quả nhất – EOQ( Economic Odering Quantity)
Mô hình được dựa trên giả định là những lần cung cấp hàng hóa là bằng
nhau. Theo mô hình này, mức dự trữ tối ưu là:
Q* =
1
2
.2
C
CD
Trong đó:
Q*: mức dự trữ tối ưu
D : Toàn bộ lượng hàng hóa cần sử dụng
C
2
: Chi phí mỗi lần đặt hàng (chi phí quản lý giao dịch và vận
chuyển hàng hóa
C
1
:Chi phí lưu kho đơn vị hàng hóa (Chi phí bốc xếp, bảo quản,
bảo hiểm hàng hóa…)
Điểm đặt hàng mới
Về mặt lý thuyết, người ta giả định khi nào lượng hàng hóa kỳ trước hết
mới nhập kho hàng hóa mới, nhưng thực tế hầu như không bao giờ như vậy.
Sẽ có rủi ro nếu hàng không về kịp kho, doanh nghiệp sẽ dự trữ thêm để hạn
chế rủi ro tức là đặt hàng khi trong kho vẫn còn hàng. Nhưng nếu doanh
nghiệp đặt hàng quá sớm, sẽ làm tăng lượng nguyên liệu tồn kho, phát sinh
chi phí. Do đó, doanh nghiệp cần xác định điểm đặt hàng hợp lý:
= +
Lượng dự trữ an toàn
20

nghiệp có những lợi thế sau:
-Được hưởng lợi thế chiết khấu nếu có đủ tiền mặt khi mua hàng hóa
dịch vụ
-Duy trì tốt các chỉ số thanh toán ngắn hạn, giúp doanh nghiệp có thể
mua hàng với điều kiện thuận lợi trong kinh doanh do chủ động đc các hoạt
động chi trả.
21
-Giúp doanh nghiệp đáp ứng được nhu cầu trong trường hợp khẩn cấp
như đình công, hỏa hoạn, chiến dịch marketing của đối thủ cạnh tranh, vượt
qua khó khăn của yếu tố thời vụ và chu kì kinh doanh.
Nội dung chủ yếu của quản lý tiền mặt bao gồm: xác định mức tồn
quỹ tối ưu, dự đoán được nguồn tiền xuất, nhập quỹ; quản lý chặt chẽ các
nguồn tiền xuất nhập quỹ. Sự quản lý này liên quan chặt chẽ đến việc quản
lý các loại tài sản gắn liền với tiền mặt như các lại chứng khoán thanh khoản
cao, nhằm duy trì tiền mặt ở mức mong muốn. Ta có thể thấy được điều này
qua sơ đồ sau:
Nhìn sơ đồ trên, ta thấy được tổng quát về tiền mặt.
Trong kinh doanh, doanh nghiệp phải lưu giữ tiền mặt cần thiết cho việc
thanh toán hóa đơn. Do vậy, khi tiền mặt xuống thấp doanh nghiệp sẽ phải
bổ sung tiền mặt bằng cách bán các chứng khoán thanh khoản cao. Chi phí
cho việc lưu giữ tiền mặt ở đây chính là chi phí cơ hội, là lãi suất mà doanh
nghiệp bị mất đi khi doanh nghiệp dung số tiền ấy đầu tư và mục đích khác.
Chi phí đặt hàng chính là chi phí cho việc bán các chứng khoán. Khi đó, áp
dụng mô hình EOQ ta có lượng dj trữ tiền mặt tối ưu M* là:
M* =
i
CM
bn
..2
Trong đó:

trên và giới hạn dưới của tiền mặt, đó là các khoản mà doanh nghiệp bắt đầu
tiến hành nghiệp vụ mua hoặc bán chứng khoán có tính thanh khoản cao để
đưa ra mức tiền mặt dự kiến.
Khoảng dao động tiền mặt dự kiến phụ thuộc vào ba yếu tố sau: mức
dao động của thu chi ngân quỹ hàng ngày lớn hay nhỏ; chi phí cố định của
việc mua bán chứng khoán; lãi suất càng cao, các doanh nghiệp sẽ giữ lại ít
tiền, và do vậy khoảng dao động của tiền mặt sẽ giảm xuống
Khoảng dao động:
D=
i
VC
bb
4
.3
.3
Trong đó:
D: khoảng dao động tiền mặt (khoảng cách giữa giới hạn trên và giới
hạn dưới của lượng tiền mặt dự trữ).
b
C
: Chi phí của mỗi lần giao dịch mua bán chứng khoán thanh khoản.
b
V
: Phương sai của thu chi ngân quỹ
i : lãi suất
23
Số dư tiền mặt
Mô hình được biểu diễn theo đồ thị sau:
Giới hạn trên
Giới hạn dưới

nghiệp. Chính vì thế, doanh nghiệp cần dự đoán trước được sự thay đổi của
các chính sách kinh tế và đánh giá lại ảnh hưởng của các yếu tố này đến hoạt
động của doanh nghiệp trong tương lai, tận dụng cơ hội từ các chính sách
khuyến khích.
(2) Sự biến động của nền kinh tế
Nền kinh tế vận hành luôn mang trong nó những biến động và tiềm ẩn
những rủi ro. Lạm phát xảy ra làm co giá cả hàng hóa, nguyên vật liệu tăng
nhanh và biế động không ngừng làm cho chi phí sản xuất tăng lên không
ngừng, trong khi tốc độ tiêu thụ hàng hóa lại giảm, khiến cho doanh nghiệp
gặp nhiều khó khăn. Suy thoái kinh tế, sẽ khiến cho thị trường tiêu thụ thu
hẹp do sức mua của người tiêu dùng giảm, doanh nghiệp sẽ phải chịu chung
khó khăn của nền kinh tế. Những rủi ro này sẽ tác động mạnh đến doanh
nghiệp, có thể dẫn đến hạu quả phá sản nếu doanh nghiệp không có dững dự
phòng và ứng phó kịp thời. Do đó mà doanh nghiệp phải có những dự báo
cần thiết về những thay đổi của nền kinh tế, giảm thiểu rủi ro trong hoạt
động sản xuất kinh doanh.
(3) Thị trường và cạnh tranh
Thị trường ngày càng mở rộng và phát triển, có nhiều cơ hội nhưng
cũng có muôn vàn thách thức. Yêu cầu của khách hàng ngày càng cao, cạnh
tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt. Muốn tồn tại và phát triển,
doanh nghiệp phải luôn có những thay đổi phù hợp, nâng cao chất lượng, hạ
giá thành sản phẩm.Muốn hạ được giá thành, thì nâng cao hiệu quả sử dụng
tài sản nói chung, và tài sản lưu động nói riêng là điều kiện cần. Dự đoán
được trước nhu cầu thị trường, hiểu tâm lý khách hàng, xác định được khách
hàng mục tiêu là những bước cần thiết giúp doanh nghiệp chủ động trong
sản xuất chính là điều kiện đủ.
Quan tâm đến khả năng của đối thủ cạnh tranh và các sản phẩm thay
thế cho các sản phẩm của doanh nghiệp là một bước quan trọng giúp doanh
nghiệp không bị lạc lõng trong điều kiện thị trường luôn biến đổi, các doanh
nghiệp luôn tự làm mới mình. Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status