ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
--------------------- NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM
TRONG DẠY HỌC SINH HỌC TẾ BÀO
(SINH HỌC 10) LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học Sinh học
Mã số: 60.15.10 Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Vinh Hiển
Người thực hiện: Hoàng Việt Cường – khóa 15 LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học Sinh học
Mã số: 60.15.10 THÁI NGUYÊN, 2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http:// www.lrc-tnu.edu.vn
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
1.1. Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học
Giáo dục - đào tạo luôn được xem là nhân tố quan trọng, quyết định
cho sự phát triển kinh tế nhanh, mạnh và bền vững. Thế kỉ XXI được xem là
thế kỉ của công nghệ thông t in và truyền thông, sự phát triển như vũ bão của
cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đã làm cho khối lượng tri thức của
nhân loại tăng lên một cách nhanh chóng. Để không bị tụt hậu trong chặng
đường thế kỉ này, giáo dục cần phải có sự đổi mới để đào tạo ra những con
người năng động, sáng tạo đáp ứng được yêu cầu của thời đại.
Nghị quyết Trung ương 2 khóa VII, Đảng ta xác định: “Đổi mới
phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp học, bậc học. Kết hợp tốt học đi đôi
với hành, học tập gắn liền với lao động sản xuất, thực nghiệm và nghiên cứu
khoa học, gắn nhà trường với xã hội. Áp dụng những phương pháp dạy học
hiện đại để bồi dưỡng cho HS năng lực tư duy sáng tạo…”. Điều này cho thấy
để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thì giáo dục đào tạo phải đổi mới
về nội dung, phương pháp, phương tiện và thiết bị dạy học.
Luật Giáo dục 2005 được Quốc hội Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
khóa X, kì họp thứ 10 thông qua đã quy định rõ : “Hoạt động giáo dục phải
được thực hiện theo nguyên lí học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao
động sản xuất, lí luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với
giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”[45].
1.2. Xuất phát từ vị trí, vai trò của TN trong dạy học SH
Trong lí luận dạy học, sự thống nhất giữa trực quan và tư duy trừu
tượng là một luận điểm có tính nguyên tắc nhằm đảm bảo cho quá trình dạy
học đạt được hiệu quả cao. Phương tiện trực quan là nguồn thông tin phong
phú và đa d
ạng giúp HS lĩnh hội tri thức một cách cụ thể, chính xác, là con
đường tốt nhất giúp HS tiếp cận hiện thực khách quan, góp phần khắc sâu, mở
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http:// www.lrc-tnu.edu.vn
2
31.3. Xuấ t phát từ thực trạng của việc sử dụng TN trong các trường
THPT
TN thực hành đóng vai trò quan trọng trong quá trình dạy học nói
chung và dạy học SH nói riêng, nhưng thực tế hiện nay việc sử dụng các TN
Sinh học vẫn còn rất hạn chế và chưa thực sự đem lại hiệu quả trong dạy học.
Thiếu trang thiết bị hoặc trang thiết bị không đảm bảo chất lượng cùng với sự
nhận thức chưa đúng đắn của GV đã làm cho việc sử dụng TN trong dạy học
SH không được diễn ra thường xuyên. Những TN phức tạp, tốn kém, mất
nhiều thời gian cùng với năng lực sử dụng, khai thác, tổ chức HS nhận thức
TN của GV còn hạn chế đã khiến cho hiệu quả sử dụng TN trong nhà trường
phổ thông hiện nay chưa cao.
Mặt khác, do ít có trong nội dung thi cử nên GV không thường xuyên
quan tâm đến việc tổ chức HS khai thác giá trị dạy học của các TN. HS ít
được tiến hành TN nên những kiến thức lí thuyết mà HS lĩnh hội được xa rời
thực tiễn, HS khó hình thành kĩ năng, kĩ xảo thực hành và tư duy kĩ thuật.
Do vậy, để khai thác hết giá trị dạy học của TN, phát huy được tính tích
cực, chủ động, sáng tạo của HS, gắn lí thuyết với thực tiễn, giúp HS hiểu rõ
bản chất của các sự vật, hiện tượng SH thì GV cần thường xuyên sử dụng và
sử dụng có hiệu quả các TN trong quá trình dạy học SH. Việc nâng cao hiệu
quả sử dụng các TN sẽ góp phần tích cực trong việc nâng cao chất lượng dạy
học.
Do đó tôi chọn đề tài: Nâng cao hiệu quả sử dụng thí nghiệm trong
dạy học sinh học tế bào (Sinh học 10)
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các phương án cải tiến cách làm và cách sử dụng một số TN
trong dạy học SH tế bào để góp phần nâng cao chất lượng dạy học SH 10 ở
dụng TN Sinh học tế bào ở trường THPT.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm : Thực nghiệm có đối chứng song
song.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http:// www.lrc-tnu.edu.vn
5
- Phương pháp thống kê toán học: Xử lí các số liệu thống kê bằng phần
mềm Microsoft Excel, nhằm tăng độ chính xác cũng như sức thuyết phục của
kết luận.
7. Những đóng góp của đề tài
- Đề xuất các biện pháp cải tiến cách làm và cách sử dụng TN trong dạy
học phần tế bào học (SH10).
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng thí nghiệm
trong dạy học.
- Chương 2. Nâng cao hiệu quả sử dụng thí nghiệm trong dạy học
Sinh học tế bào (Sinh học 10).
- Chương 3. Thực nghiệm sư phạm.
cảm giác của con người.
● Phương tiện trực quan
Khái niệm phương tiện trực quan trong dạy học được nhiều tác giả
quan tâm. Các tác giả cho rằng : “Phương tiện trực quan là tất cả những cái gì
có thể được lĩnh hội (tri giác) nhờ sự hỗ trợ của hệ thống tín hiệu thứ nhất và
thứ hai của con người. Tất cả các đối tượng nghiên cứu được tri giác trực tiếp
nhờ các giác quan đều là phương tiện trực quan” [26, tr89]; “Phương tiện trực
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http:// www.lrc-tnu.edu.vn
7
quan là tất cả các đối tượng nghiên cứu được tri giác trực tiếp nhờ các giác
quan” [1, tr68]; “Phương tiện trực quan được hiểu là những vật (sự vật) hoặc
sự biểu hiện của nó bằng hình tượng (biểu tượng) với những mức độ qui ước
khác nhau. Những sự vật và những biểu tượng của sự vật trên được dùng để
thiết lập (hình thành) ở HS những biểu tượng động hoặc tĩnh về sự vật nghiên
cứu” [4, tr11].
Nhận thấy rằng, mặc dù cách diễn đạt khác nhau, nhưng nói chung, các
tác giả đã có sự thống nhất về khái niệm phương tiện trực quan. Có thể kết
luận: Phương tiện trực quan là những công cụ (phương tiện) mà người thầy
giáo và HS sử dụng trong quá trình dạy - học nhằm xây dựng cho HS những
biểu tượng về sự vật, hiện tượng, hình thành khái niệm thông qua sự tri giác
trực tiếp bằng các giác quan của người học.
● Thí nghiệm
Thí nghiệm được xem là một trong những phương tiện trực quan quan
trọng hàng đầu trong dạy học nói chung và dạy học SH nói riêng. TN giúp HS
trực tiếp quan sát các hiện tượng, quá trình, tính chất của các đối tượng
nghiên cứu.
Thí nghiệm được hiểu là gây ra một hiện tượng, một sự biến đổi nào đó
trong điều kiện nhất định để tìm hiểu, nghiên cứu, kiểm tra hay chứng minh
người nắm vững các kiến thức khoa học, mà còn cần giỏi thực hành, có bàn
tay khéo léo thể hiện được những điều mà bộ óc suy nghĩ. Nếu không có điều
đó thì những hiểu biết của con người ch ỉ d
ừng lại ở mức độ nhận thức lí
thuyết, chưa tác động vào thực tiễn để tái tạo lại thế giới và cải tạo nó. Nhận
thức lí luận và việc vận dụng lí luận vào thực tiễn là hai mặt của một quá trình
nhận thức nhưng giữa chúng có một khoảng cách rất xa mà chúng ta không
thể vượt qua được nếu không thông qua hoạt động thực hành.
Khi hoạt động với công cụ, HS có điều kiện đưa các vật vào nhiều hình
thức tác động tương hỗ. Điều đó làm rõ mối quan hệ nội tại giữa các vật, làm
xuất hiện bức tranh chân thực về thế giới. Trong quá trình TN, thực hành, các
kiến thức lí thuyết mà HS tiếp thu được trên lớp thường ở dạng hỗ trợ làm cho
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http:// www.lrc-tnu.edu.vn
9
chúng trở lên sinh động, làm lộ rõ bản chất và khả năng của chúng. Nhờ vậy,
HS sẽ thấy rõ vị trí, vai trò của mỗi kiến thức trong hoạt động thực tiễn.
Khi tiếp xúc với thực tiễn, bằng hành động, hứng thú của HS được kích
thích, tư duy của HS luôn được đặt trước những tình huống mới, buộc HS
phải suy nghĩ, tìm tòi, phát triển trí sáng tạo, gia tăng hoạt động độc lập trong
nhận thức của HS.
Như vậy, TN thực hành đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình
dạy học và trong dạy học SH cũng vậy, bởi SH là môn khoa học thực nghiệm,
kiến thức lí thuyết luôn gắn liền với việc giải quyết những vấn đề của đời
sống xã hội. Do đó, việc nâng cao hiệu quả sử dụng TN trong dạy học SH là
hết sức cần thiết, GV cần coi TN là phương tiện để tổ chức hoạt động nhận
thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo vận dụng kiến thức SH vào đời sống sản xuất.
TN phải được xem là cầu nối giữa lí thuyết và thực tiễn.
Trong quá trình dạy học nói chung và dạy học SH nói riêng, TN đó ng
TN do GV biểu diễn phải là mẫu mực về thao tác để qua đó HS học
tập, bắt chước dần dần, khi HS tiến hành được TN, họ sẽ hình thành được kĩ
năng thực hành TN.
TN có thể được sử dụng để tổ chức hoạt động nhận thức của HS với
các mức độ tích cực, tự lực và sáng tạo khác nhau
TN có thể được sử dụng ở mức độ thông báo, tái hiện và ở mức độ cao
hơn là tìm tòi bộ phận, nghiên cứu.
Ngoài ra, TN còn giúp HS thêm yêu môn học, có được đức tính cần
thiết của người lao động như: cần cù, kiên trì, ý thức tổ chức kỉ luật cao…
Như vậy, trong quá trình dạy học SH, TN được sử dụng trong tất cả các
khâu của quá trình dạy học TN được tiến hành với nhiều hình thức và mức độ
khác nhau. TN có th
ể được GV biểu diễn hoặc HS tự tiến hành, TN có thể
nhằm thông báo, tái hiện, tìm tòi bộ phận hoặc cũng có thể nhằm mục đích
nghiên cứu. TN có thể được tiến hành ở trên lớp hoặc trong phòng TN, trong
vườn, ruộng hoặc ở nhà.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http:// www.lrc-tnu.edu.vn
111.2. Cơ sở khoa học của việc sử dụng TN trong quá trình dạy học
1.2.1. Cơ sở triết học
Theo triết học M ác - Lênin: “Nhận thức là quá trình phản ánh biệ n
ch
ứng tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới quan vào trong đầu óc của con
người trên cơ sở thực tiễn” [44]. Quá trình nhận thức bao gồm cả việc học tập
và nghiên cứu. Ở cả hai mức độ này các hình ảnh trực quan đều đóng vai trò
đặc biệt quan trọng. Các hình ảnh trực quan vừa thực hiện chức năng nhận
hướng đúng và trở nên sâu sắc hơn.
Như vậy, hoạt động nhận thức bao gồm nhiều quá trình phản ánh hiện
thực khách quan với những mức độ phản ánh khác nhau và trải qua hai giai
đoạn: Giai đoạn nhận thức cảm tính và giai đoạn nhận thức lí tính. Hai giai
đoạn này có mối quan hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau. V.I. Lênin đã tổng
kết mối quan hệ đó thành qu i luật của hoạt động nhận thức: “Từ trực quan
sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn - Đó là
con đường biện chứng của sự nhận thức chân lí, của sự nhận thức hiện thực
khách quan” [24].
1.2.2. Cơ sở lí luận dạy học
Quá trình dạy học bao gồm nhiều thành tố có mối quan hệ mật thiết với
nhau như: mục đích, nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học [19].
Có thể biểu diễn mối quan hệ của các thành tố trong quá trình dạy học
theo sơ đồ sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http:// www.lrc-tnu.edu.vn
13
Trong đó:
MT: Mục tiêu
ĐG
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http:// www.lrc-tnu.edu.vn
14
phát triển tư duy lôgic của HS. Vì thế, trong quá trình dạy học, việc vận dụng
các phương pháp dạy học không thể tách rời với việc sử dụng những phương
tiện dạy học. Nó được sử dụng nhằm mục đích khắc phục những khoảng cách
giữa việc tiếp thu lí thuyết và thực tiễn, làm cho hoạt động nhận thức của HS
trở nên dễ dàng, sinh động, cụ thể. Ngày nay với những thành tựu do khoa
học, kĩ thuật - công nghệ mang lại, phương tiện dạy học càng có vị trí quan
trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy học ở nhà trường, nó cho phép đưa
vào bài học những nội dung diễn cảm, hứng thú, làm thay đổi phương pháp và
hình thức tổ chức dạy học tạo ra cho quá trình dạy học một nhịp độ, phong
cách và trạng thái tâm lí. Đây chính là một trong những đặc điểm nổi bật của
nhà trường hiện đại.
HS nghiên cứu một môn học, ở mỗi em đã có được sự tích lũy ban đầu
về những biểu tượng có liên quan tới đối tượng nghiên cứu nhưng những biểu
tượng này không đọng lại ở tất cả HS về mức độ chính xác và số lượng của
biểu tượng. Vì thế, ngư
ời ta đã xây dựng các khái niệm từ sự quan sát trực
tiếp những đối tượng, hiện tượng có sẵn trong thực tiễn hoặc tái tạo lại chúng
bằng phương pháp nhân tạo thông qua hình ảnh hoặc các mô hình, mẫu
biểu… hay như ta vẫn gọi là các phương tiện trực quan.
Có thể nói, các phương tiện dạy học là công cụ nhận thức thế giới của
HS. Mỗi loại phương tiện đều có thể phục vụ cho việc hoàn thành những tri
thức kinh nghiệm và những tri thức lí thuyết, những kĩ năng, kĩ xảo thực hành
và kĩ năng, kĩ xảo trí tuệ.
Một trong những phương tiện hỗ trợ đắc lực trong quá trình dạy học nói
chung và dạy học SH nói riêng đó là các TN thực hành. Các TN thực hành
cuối của quá trình chuẩn bị nền tảng cho sự tham gia vào hoạt động nghề
nghiệp và các dạng lao động xã hội khác. Có thể nói, học sinh THPT là một
nhóm người xã hội đặc biệt, được chuẩn bị để bước vào các lĩnh vực học tập
nghề nghiệp hoặc trực tiếp tham gia lao động xã hội. Đặc điểm nổi bật về sự
phát triển trí tuệ của học sinh THPT là: tính chủ động, tính tích cực và tự giác
cao, được thể hiện ở tất cả các quá trình nhận thức. Cảm giác đã đạt tới mức
độ tinh và nhạy của người lớn. Tri giác không gian và tri giác thời gian không
mắc sai lầm như lứa tuổi trước. Tri giác có chủ định phát triển, năng lực quan
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http:// www.lrc-tnu.edu.vn
16
sát được nâng cao, quan sát trở nên có hệ thống, có mục đích và toàn diện
hơn. Tuy nhiên, một số em còn quan sát kém, phiến diện dẫn đến nhiều khi
kết luận thiếu cơ sở thực tiễn. Trong dạy học, GV cần dạy cho HS cách quan
sát, quan sát có mục đích như lời khuyên của I.P.Pavlov: “Không dừng lại ở
bề mặt của hiện tượng”. Hơn nữa, ở lứa tuổi này, năng lực tư duy trừu tượng
c
ũng phát triển rất mạnh, sự vận dụng các thao tác tư duy đã khá nhuần
nhuyễn, các năng lực: phân tích, tổng hợp, phán đoán, suy luận, năng lực khái
quát hóa và trừu tượng hóa cũng phát triển mạnh. Bởi thế các em lĩnh hội một
cách thuận lợi các khái niệm khoa học trừu tượng.
Từ sự phân tích trên cho thấy, trong quá trình dạy học, GV cần lựa
chọn phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học hợp lí nhằm
khai thác có hiệu quả năng lực quan sát cũng như năng lực tư duy ở HS, giúp
các em lĩnh hội tri thức một cách sâu sắc và đầy đủ.
Do có sự hình thành và phát triển mạnh mẽ v ề thế giới quan, tự ý
thức… mà học sinh THPT có niềm tin vào chính bản thân mình, các em hiểu
rằng cuộc sống tương lai của mình gắn liền với việc lựa chọn nghề nghiệp
1.3. Tổng quan về sử dụng TN thực hành trong dạy học
là cái ban đầu và là nguồn gốc của mọi tri thức, cảm giác cung cấp tài liệu cho
hoạt động trí tuệ của con người. Trực quan làm quá trình lĩnh hội tri thức củ a
HS trở nên dễ dàng, tự giác, có ý thức và vững chắc hơn; tạo ra hứng thú học
tập, kích thích tính tích cực của HS; là phương tiện tốt nhất giúp GV gần gũi
với HS, HS gần gũi với thực tiễn và là phương tiện quan trọng để phát triển tư
duy HS [19].
Một số tác giả khác như: Môngtenhơ, V.G.Belenxki, A.N. LeonChep...
cũng đã có những nghiên cứu về dạy học thực hành[4], [6], [29].
Môngtenhơ (1533 - 1592), nhà giáo dục Ph áp chủ trương giảng dạy
bằng hành động, bằng sự quan sát trực tiếp, bằng sự tiếp xúc với sự vật trong
đời sống hàng ngày [4].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http:// www.lrc-tnu.edu.vn
18
V.G.Belenxki (1811 - 1848), nhà giáo dục Nga đã phát triển nguyên tắc
thực hành trên cơ sở gắn tư tưởng dạy học thực hành với tư tưởng dạy học
phát triển [6].
A.N. LeonChep nghiên cứu dạy học thực hành trên cơ sở tâm lí học.
Theo ông, khi đưa TN thực hành vào dạy học thì tất yếu phải tính đến hai cơ
sở tâm lí học. Một là: TN thực hành thực hiện vai trò gì trong lĩnh hội tri
thức? Hai là: Nội dung TN thực hành phục vụ cho đối tượng nhận thức nằm
trong mối quan hệ nào?
Ngày nay, bên cạnh việc nghiên cứu vị trí, vai trò của phương tiện trực
quan trong điều kiện hiện đại, nhiều tác giả đã nghiên cứu vấn đề sử dụng
phương tiện trực quan nói chung, TN thực hành nói riêng trong quá trình dạy
học như: Tônlinhghênôva, X.G.Sapôralenkô, M.H. Sacmaep, L.V.Dancôp,
L.I. Gôbunôva, V.V. Đavưđôp, P.R. Atulốp, V.G. Bôtianxki [27], [32], [34]...
Tônlinhghênôva cho rằng, về nguyên tắc, phương tiện trực quan chỉ có
thể có các chỉ số và chất lượng thông qua quá trình sư phạm. Không có quá
của quá trình dạy học; phương pháp sử dụng một số phương tiện trực quan
trong các môn học, cấp học nói chung [2], [5], [10], [12], [15], [17], [18],
[25], [27], [30], [31], [38], [41], [42].
Vấn đề sử dụng TN trong quá trình dạy học giai đ oạn hiện nay, được
nghiên cứu trên tất cả các môn học, cấp học.
Trong lĩnh vực Vật lí, đã có những tác giả sau:
Năm 2005, Mai Khắc Dũng dựa trên cơ sở phân tích vị trí, vai trò của
TN đã đưa ra kết luận: “Sử dụng TN để khuyến khích hứng thú và lôi cuốn
HS tích cực tìm tòi kiến thức là một trong những biện pháp hữu hiệu nhằm
nâng cao chất lượng dạy học Vật lí. Từ đó tác giả đã tiến hành nghiên cứu, tự
làm một số TN trong dạy học Vật lí 11[13].
Năm 2006, Huỳnh Trọng Dương dựa trên cơ sở phân tích vai trò của
các bài tập TN đã đưa ra qui trình hướng dẫn HS giải các bài tập TN Vật lí.
Theo tác giả, bài tập TN có vai trò quan trọng trong việc tích cực hóa hoạt
động nhận thức của HS[11].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http:// www.lrc-tnu.edu.vn
20
Một số tác giả như: Phạm Xuân Quế, Nguyễn Thành Chung; Đặng
Trần Chiến; Nguyễn Trọng Bé; Nguyễn Trọng Hưng, Trần Ngọc Chất;
Nguyễn Mạnh Thảo, Ngô Thị Bình; Vũ Trọng Rỹ… lại đi sâu nghiên cứu
cách thức cải tiến và chế tạo các TN trong quá trình dạy học Vật lí ở trường
THPT, đặc biệt là các TN ảo và việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy
các bài thực hành Vật lí [28], [8], [3], [21], [35], [30].
Trong lĩnh vực Hóa học , đã có những tác giả sau:
Năm 1994, Nguyễn Ngọc Quang đã hệ thống phương tiện trực quan
trong môn Hóa học gồm: TN và phòng TN (dụng cụ thiết bị, hóa chất) và đồ
dùng trực quan (mẫu vật, mô hình, hình vẽ, bảng biểu). Theo tác giả, trong
quá trình dạy học phương tiện trực quan đóng vai trò là mô hình đại diện cho
của các TN trường diễn đã đề xuất biện pháp sử dụng TN ảo đề tích hợp giáo
dục môi trường trong dạy học SH 6[33].
Trên đây là những công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề sử
dụng, cải tiến các TN trong quá trình dạy học. Tuy nhiên, chưa có công trình
nào đề cập đến vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng TN trong dạy học phần SH
tế bào (SH 10).
1.4. Thực trạng của việc sử dụng TN trong dạy học SH ở trường THPT
1.4.1. Thực trạng việc nhận thức của GV về việc sử dụng TN trong quá
trình dạy học
Để xác lập cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng các biện pháp nâng cao
hiệu quả sử dụng TN trong dạy học SH ở trường THPT, chúng tôi đã tiến
hành điều tra về nhận thức, mức độ sử dụng, hiệu quả sử dụng cũng như việc
cải tiến, thiết kế các TN của GV một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Thái
Nguyên (Nội dung điều tra theo mẫu phiếu điều tra thực trạng, phụ lục 3 tr
96-99). Kết quả khảo sát mức độ nhận thức của GV về việc sử dụng TN trong
quá trình dạy học SH ở trường THPT thể hiện qua bảng 1.1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http:// www.lrc-tnu.edu.vn
22
Bảng 1.1. Kết quả khảo sát mức độ nhận thức của GV về việc sử dụng
thí nghiệm trong quá trình dạy học ở trường THPT
Mức độ nhận thức và lí do
Số
phiếu
Tỉ lệ
%
60,61
75,76
9,9
0
45,46
Kết quả thu được cho thấy: Hiện nay, giáo viên THPT đều đánh giá cao
tầm quan trọng và sự cần thiết của việc sử dụng TN trong quá trình dạy học.
100% GV được khảo sát đều khẳng định không thể thiếu TN trong quá trình
dạy học SH.
Theo đánh giá của giáo viên THPT, việc sử dụng các TN trong dạy học
SH đảm bảo cho HS nắm kiến thức vững chắc (75,76%), tạo được hứng thú
cho HS (57,58%), phát huy được tính tích cực, độc lập, sáng tạo của HS trong
quá trình học tập (60,61%).
Từ sự phân tích trên cho thấy giáo viên THPT đã có sự nhận thức đúng
đắn về tầm quan trọng của TN trong quá trình dạy học SH. Điều đó có thể cho
phép khẳng định mức độ cần thiết và ý nghĩa của TN trong dạy học ở trường
THPT hiện nay.