SKKN: Nâng cao hiệu quả sử dụng thí nghiệm trong dạy học Sinh học tế bào (Sinh học 10) - Pdf 14




BẢNG KÊ CÁC CHỮ VIẾT TẮTTT Viết
tắt
Đọc


1

2

3

4

5

6

7

8

Phiếu học tập
Phương pháp dạy học
Sách giáo khoa
Sách giáo viên
Sinh học
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Thí nghiệm
Thực nghiệm

Luật Giáo dục 2005 được Quốc hội Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa
X, kì họp thứ 10 thông
quy
định nêu rõ: “Hoạt động giáo dục phải được thực hiện
theo nguyên lí học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lí luận
gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục
xã hội”.
1.2. Xuất phát từ vị trí, vai trò của TN trong dạy học SH
Trong lí luận dạy học, sự thống nhất giữa trực quan và tư duy trừ tượng là
một luận điểm có tính nguyên tắc nhằm đảm bảo cho quá trình dạy học đạt được
hiệu quả cao. Phương tiện trực quan là nguồn thông tin phong phú và đa dạng
g
i úp
HS lĩnh
h
ội tri
th
ức một cách cụ thể,
ch
ính xác,


con
đường tốt nhất giúp HS tiếp
cận hiện thực khách quan, góp phần khắc sâu, mở rộng, củng cố tri thức, phát triển
năng lực tư duy, khả năng tìm tòi, khám phá và vận dụng tri thức.
TN có vị trí, vai trò quan trọng , đó là nguồn thông tin phong phú, đa dạng,
giúp HS lĩnh hội tri thức một cách cụ thể, chính xác, là con đường tốt nhất tiếp cận
với hiện thực khách quan.
Sinh học là môn khoa học thực nghiệm. Hầu hết các hiện tượng, khái niệm,

dạy học SH nói riêng, nhưng thực tế hiện nay việc sử dụng các TN Sinh học vẫn còn
rất hạn chế và chưa thực sự đem lại hiệu quả trong dạy học. Thiếu trang thiết bị hoặc
trang thiết bị không đảm bảo chất lượng cùng với sự nhận thức chưa đúng đắn của
GV đã làm cho việc sử dụng TN trong dạy học SH không được diễn ra thường
xuyên. Những TN phức tạp, tốn kém, mất nhiều thời gian cùng với năng lực sử
dụng, khai thác, tổ chức HS nhận thức TN của GV còn hạn chế đã khiến cho hiệu
quả sử dụng TN trong nhà trường phổ thông hiện nay chưa cao.
Mặt khác, do ít có trong nội dung thi cử nên GV không thường xuyên quan
tâm đến việc tổ chức HS khai thác giá trị dạy học của các TN. HS ít được tiến hành
TN nên những kiến thức lí thuyết mà HS lĩnh hội được xa rời thực tiễn, HS khó hình
thành kĩ năng, kĩ xảo thực hành và tư duy kĩ thuật.
Do vậy, để khai thác hết giá trị dạy học của TN, phát huy được tính tích cực,
chủ
độn
g, sáng
tạo

của
HS, gắn lí
thu
yết với
th
ực tiễn, giúp HS
hiểu
rõ bản chất của
các sự vật, hiện tượng SH thì GV cần thường xuyên sử dụng và sử dụng có hiệu quả
các TN trong quá trình dạy học SH. Việc nâng cao hiệu quả sử dụng các TN sẽ góp
phần tích cực trong việc nâng cao chất lượng dạy
học.


trong quá trình dạy học.
- Phương pháp quan sát và điều tra sư phạm: Dự giờ, trao đổi ý kiến với GV; Xây
dựng hệ
thống

các
câu hỏi, phiếu điều tra để điều tra thực trạng của việc sử dụng TN
trong giảng dạy Sinh học 10 ở trường THPT hiện nay.
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia : Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã hỏi ý
kiến của các giáo viên có kinh nghiệm trong việc cải tiến và sử dụng TN Sinh học
tế bào ở trường THPT.
7. Thời gian nghiên cứu.
Đề tài được nghiên cứu từ tháng 9 năm 2011 đến tháng 4 năm 2012.
NỘI DUNG
1.Một số khái niệm liên quan đến đề tài

Thí nghiệm được xem là một trong những phương tiện trực quan quan trọng
hàng đầu trong dạy học nói chung và dạy học SH nói riêng. TN giúp HS trực tiếp quan
sát các hiện tượng, quá trình, tính chất của các đối tượng nghiên cứu. Thí nghiệm
được hiểu là gây ra một hiện tượng, một sự biến đổi nào đó trong điều kiện nhất định
để tìm hiểu, nghiên cứu, kiểm tra hay chứng minh. Thí nghiệm có thể được tiến hành
trên lớp, trong phòng TN, vườn trường, ngoài ruộng và ở nhà. TN có thể do GV biểu
diễn hoặc do HS thực hiện. Hiện nay, trong thực tế dạy học thí nghiệm thường mới
được sử dụng để giải thích, minh họa, củng cố và khắc sâu kiến thức lí thuyết. Song
GV có thể căn cứ vào nội dung bài học và điều kiện cụ thể mà có thể sử dụng các TN
nhằm mục đích giúp HS lĩnh hội tri thức mới, rèn luyện cho các em phẩm chất của

một nhà nghiên cứu khoa học và làm cho HS thêm yêu môn học. Căncứ vào mục tiêu,
nhiệm vụ, đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu các TN thực hành phần SH tế bào trong chương
trình thông qua SGK Sinh học 10.
1.4. Thí nghiệm thực hành
Trước hết ta cần hiểu “Thực hành” là HS tự mình trực tiếp tiến hành quan sát,
tiến hành các thí nghiệm, tập triển khai các qu i trình kĩ thuật chăn nuôi, trồng trọt.
“Thí nghiệm thực hành” được hiểu là tiến hành các TN trong các bài thực hành, được
HS thực hiện để hiểu rõ được mục đích TN, điều kiện TN. Qua tiến hành và quan sát
TN tại phòng thực hành, HS xác định được bản chất của hiện tượng, quá trình.
Trong dạy học nói chung và dạy học SH nói riêng, TN thực hành luôn đóng vai
trò quan trọng, giúp cho HS có điều kiện tự mình tìm hiểu mối quan hệ giữa cấu trúc
và chức năng, giữa bản chất và hiện tượng, giữa nguyên nhân và kết quả. Do đó, HS
nắm vững tri thức, phát huy tiềm năng tư duy sáng tạo, tính tích cực, chủ động trong
hoạt động học.
2. Tầm quan trọng của việc sử dụng TN trong dạy học SH
Mục đích giáo dục ở nhà trường không những chỉ đào tạo ra những con người
nắm vững các ki ến thức khoa học, mà còn cần giỏi thực hành, có bàn tay khéo léo
thể hiện được những điều mà bộ óc suy nghĩ. Nếu không có điều đó thì nh ững hiểu
biết của con người chỉ dừn g lại ở mức đ ộ

TN, quan sát diễn biến và kết quả TN giúp cho HS có cơ sở thực tiễn để giải thích
bản chất của các hiện tượng đó.
TN do GV biểu

diễn phải là mẫu mực về thao tác để qua đó HS học tập, bắt
chước dần dần, khi HS tiến hành được TN, họ sẽ hình thành được kĩ năng thực hành
TN.

TN có thể được sử dụng để tổ chức hoạt động nhận thức của HS với các
mức độ tích cực, tự lực và sáng tạo khác nhau
TN có thể được sử
d
ụng ở mức độ thông báo, tái hiện và ở mức độ cao hơn là
tìm tòi bộ phận, nghiên cứu. Ngoài ra, TN còn giúp HS thêm yêu môn học, có được
đức tính cần thiết của người lao động như: cần cù, kiên trì, ý thức tổ chức kỉ luật
cao…
Như vậy, trong quá trình dạy học SH, TN được sử dụng trong tất cả các khâu
của quá trình dạy học TN được tiến hành với nhiều hình thức và mức độ khác nhau.
TN có thể
đ
ược GV biểu diễn
hoặc
HS
tự

tiến

hàn
h, TN có thể nhằm thông báo, tái
hiện, tìm tòi bộ phận hoặc cũng có thể nhằm mục đích nghiên cứu. TN có thể được

b
ản chất lẫn không bản chất, cả cái tất
yếu và ngẫu nhiên, cả cái bên trong lẫn bên ngoài về sự vật.
Như
ng ở đây, con
người chưa phân biệt được cái gì là bản chất với không bản chất; đâu là tất yếu
với ngẫ u nhiên; đâu là cái bên trong với cái bên ngoài. Để phân biệt được những
điều nói trên, con người phải vượt lên một mức nhận thức cao hơn - nhận thức lí
tính (tư duy trừu tượng) đây là giai đoạn phản ánh gián tiếp, trừu tượng và khái quát
những thuộc tính, những đặc điểm bản chất của đối tượng, giai đoạn này chính là giai
đoạn nhận thức thực
hiện

chức
năng quan trọng nhất là tách ra và nắm lấy cái bản
chất
có tính qui luật của các sự vật,
h
iện
tượng.
Vì vậy, nó
đ
ạt
đ
ến trình độ phản
ánh sâu
sắc hơn, chính xác hơn và đầy đủ hơn cái bản chất của đối tượng. Tuy vậy, sự phát
triển của tư duy ở mức độ nào cũng luôn chứa đựng mối liên hệ với nhận thức cảm
tính. Nhận thức cảm tính gắn liền với hoạt động thực tiễn, sự tác động của khách thể
cảm tính là cơ sở cho
Hình 1. Mối quan hệ các thành tố cơ bản của quá trình dạy
học

Trong mô hình trên, phương tiện là đối tượng vật chất giúp GV và HS tổ chức
có hiệu quả quá trình dạy học nhằm đạt được mục đích dạy học. Nhờ phương tiện
dạy học, GV có thể tiến hành tổ chức, điều khiển quá trình dạy học giúp HS tự tổ
chức hoạt động nhận thức của mình một cách hiệu quả.
Trong hoạt động dạy học, mục đích, nội dung, phương pháp và phương tiện
dạy học luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Thông qua các chủ thể tương ứng
là xã hội (mục đích và nội dung dạy học; giáo viên – phương pháp dạy; học sinh –
phương pháp học; giáo viên, học sinh – phương tiện dạy học). Trong các thành phần
nêu trên, GV giữ vai trò chủ đạo. Căn cứ vào nội dung dạy học, tình hình HS,
phương tiện hiện có, GV lựa chọn phương pháp tác động vào HS nhằm đạt mục
đích dạy học.
Thực tế dạy học đã chứng minh rằng, quá trình nhận thức của con người
đ
ều
x
uất phát

HS nghiên cứu một môn học, ở mỗi em đã có được sự tích lũy ban đầu về
những biểu tượng


liên
quan tới đối tượng nghiên cứu nhưng những biểu tượng này
không đọng lại ở tất cả HS về mức độ chính xác và số lượng của biểu
tượng
. Vì
thế, người ta đã xây dựng các
khái niệm
từ sự quan sát trực
tiếp những đối tượng,
hiện tượng có sẵn trong thực tiễn hoặc tái tạo lại chúng bằng phương pháp nhận diện
thông qua hình ảnh hoặc các mô hình, mẫu
biểu… hay như ta vẫn gọi là các
phương tiện trực quan.
Có thể nói, các phương tiện dạy học là công cụ nhận thức thế giới của HS.
Mỗi loại phương tiện đều có thể phục vụ cho việc hoàn thành
nh
ững tri thức kinh
nghiệm và những tri thức lí thuyết, những kĩ năng, kĩ xảo thực hành và kĩ năng, kĩ xảo
trí tuệ.
Một trong những phương tiện hỗ trợ đắc lực trong quá trình dạy học nói chung
và dạy học SH nói riêng đó là các TN thực hành. Các TN thực hành nhằm tái tạo ra
các hiện tượn g tự nhiên, là nguồn kiến thức phong phú,là chiếc cầu nối giữa
các hiện tượng tự nhiên và khả năng nhận thức của con người. TN thực hành có khả
năng làm bộc lộ các mối liên hệ bên trong phát
sinh giữa các sự vật, hiện tượng.
H

hiệu

quả
sử dụng TN th ực hành trong quá trình dạy học nói chung và
trong dạy học SH nói riêng là hết sức cần thiết và vô cùng quan trọng. 3.3. Cơ sở tâm lí học
Lứa tuổi HS THPT thường dao động trong khoảng 14 đến 18 tuổi, là giai
đoạn đầu của lứa tuổi thanh niên. Ở THPT, người HS bước vào giai đoạn cuối của
quá trình chuẩn bị nền tảng cho sự tham gia vào hoạt động nghề nghiệp và các dạng
lao động xã hội khác. Có thể nói, học sinh THPT là một nhóm người xã hội đặc biệt,
được chuẩn bị để bước vào các lĩnh vực học tập nghề nghiệp hoặc trực tiếp tham gia
lao động xã hội. Đặc điểm nổi bật về sự phát triển trí tuệ của học sinh THPT là: tính
ch ủ động, tính tích cực và tự giác cao, được thể hiện ở tất cả các quá trình nhận thức.
Cảm giác đã đạt tới mức độ tinh và nhạy của người lớn. Tri giác không gian và tri
giác thời gian không
mắc sai lầm như lứa tuổi trước. Tri giác có chủ định phát triển,
năng lực quan
sát được nâng cao, quan sát trở nên có hệ thống, có mục đích và toàn
diện hơn. Tuy nhiên, một số em còn quan sát kém, phiế n diện dẫn đến nhiều khi
kết luận thiếu cơ sở thực tiễn. Trong dạy học, GV
cần

dạy
cho HS cách quan sát,
quan sát có mục đích như lời khuyên của I.P.Pavlov: “Không dừng lại ở bề mặt của
hiện tượng”. Hơn nữa, ở lứa tuổi này, năng lực tư duy trừu tượng cũ n gphát triển
rất mạnh, sự vận dụng các thao tác tư duy đã khá n h u ầ n nhuyễn, các năng lực:
phân tích, tổng hợp, phán đoán, suy luận, năng lực khái quát hóa và trừu tượng hóa

Bảng 1. Kết quả khảo sát mức độ nhận thức của GV về việc sử
dụng

thí nghiệm trong quá trình dạy học ở trường
THPT Mức độ nhận thức và lí do
Số
Tỉ
lệA. Mức độ nhận thức
- Rất cần thiết.
- Cần thiết.
- Không cần thiết. 12

6

0
66.7

33,3
72.2

16.70Kết quả thu được cho thấy: Hiện nay, giáo viên THPT đều đánh giá cao tầm
quan trọng và sự cần thiết của việc sử dụng TN trong quá trình dạy học. 100% GV
được khảo sát đều khẳng định không thể thiếu TN trong quá trình dạy học SH.
Theo đánh giá của giáo viên THPT, việc sử dụng các TN trong dạy học SH đảm
bảo cho HS nắm kiến thức vững chắc (72,2%), tạo được hứng thú cho HS (8.33%),
phát huy được tính tích cực, độc lập, sáng tạo của HS trong quá trình học tập (94.4%).
Từ sự phân tích trên cho thấy giáo viên THPT đã có sự nhận thức đúng đắn về
tầm quan trọng của TN trong quá trình dạy học SH. Điều đó có thể cho phép khẳng
định mức độ cần thiết và ý nghĩa của TN trong dạy học ở trường
THPT hiện nay.

4.2. Mức độ sử dụng TN của GV phổ thông trong quá trình dạy học
SH t
rong
các trường THPT hiện nay
Đánh giá mức độ sử dụng TN của GV trong các trường
THP
T hiện nay, tôi dựa
trên cơ sở tự
đ

Kết quả này phản ánh thực trạng là mặc dù giáo viên đã nhận thức đúng đắn về
sự cần thiết
của

TN
trong quá trình dạy học SH, nhưng việc sử dụng TN trong thực
tế lại rất hạn chế. Điều này tạo nên mâu thuẫn giữa nhận thức và mức độ sử dụng
TN của GV trong quá trình dạy học ở trường THPT hiện
nay.

4.3. Quá trình sử dụng TN của GV trong tiến trình dạy học SH ở trường THPT
hiện nay.
Kết quả điều tra về quá trình sử
dụng
TN của GV trong tiến trình dạy
học SH
thể hiện qua bảng 3

Bảng 3. Kết quả điều tra thực trạng sử dụng thí
nghiệm

trong tiến trình dạy học
SH.Tiêu chí

Nội
dung


66.7

0

Kết quả trên cho
thấy
: TN chủ yếu được GV sử dụng trong khâu ôn tập, củng
cố kiến thức (66.7%) với mục đích minh họa cho kiến thức lí thuyết (22.2%). Còn
các khâu khác của quá trình dạy học, giáo viên rất ít đưa nội dung thí nghiệm vào.
4.4. Việc cải tiến TN của GV trong quá trình dạy học SH ở trường
THPT hiện
nay

Việc cải tiến các TN nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng của nó trong quá trình
dạy học cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy
học. Để điều tra vấn đề này, tôi dựa trên cơ sở đánh giá của
GV, kết quả thể hiện qua bảng 4
Bảng 4. Kết quả điều tra mức độ cải tiến thí
nghiệm

trong dạy học Sinh học ở trường
THPT.Tiêu
chí
Nội dung
Số

phiếu

GV được tiến hành trên cả hai lĩnh vực cách làm và cách sử dụng TN.
4.5. Thái độ và kết quả học tập của HS trong các giờ thực hành SH
Về thái độ của HS đối với môn học, tôi đã điều tra và kết quả được thể hiện
qua bảng 5.
Bảng 5. Kết quả điều tra lí do học sinh thích học môn Sinh học

Lí do thích học môn SH Số phiếu

Tỉ lệ (%)
- Thầy, cô dạy dễ hiểu, hấp dẫn
- Được quan sát, được làm TN
- Thầy (cô) vui tính, yêu quý HS.
- Lí do khác
69

50

9

10

49,64

36,5

6,57

7,3

Qua bảng số liệu trên cho thấy, lí do hàng đầu khiến HS thích học môn


không thường xuyên, GV chưa tự giác trong việc khai thác, sử dụng TN trong giảng
dạy. Do đó, hiệu quả sử dụng TN trong quá trình giảng dạy chưa cao.
Từ
k
ết quả điều tra, khảo sát thực trạng việc sử dụng TN trong quá trình dạy
học SH ở trường THPT cho phép đi đến kết luận: việc nâng cao hiệu quả sử dụng TN
trong dạy học SH là vấn đề cấp bách, cần thiết nhằm góp
phần nâng cao chất lượng

dạy học.
5. Biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng thí ngiệm trong dạy học sinh học tế bào (SH
10)
5.1.Cấu trúc nội dung chương trình SH 10
5.1.1. Cấu trúc chương trình SGK SH 10
SGK SH 10 được viết theo chương trình đổi mới, thể hiện tính khái quát hóa
về hệ thống sống như là một hệ thống mở có tổ chức cao theo cấp độ lệ thuộc từ tế
bào  cơ thể  quần thể  quần xã  hệ sinh thái. Điều này phù hợp với quan
điểm của SH
h
iện
đ
ại là
d
ựa trên
thu
yết về các cấp độ tổ chức của sự sống, xem
thế giới hữu cơ như là những hệ thống có cấu trúc, gồm những thành phần tương
tác với nhau và với môi trường, tạo nên khả năng t ự thân vận động, phát triển của
hệ thống. Mỗi hệ lớn gồm những hệ nhỏ, mỗi hệ nhỏ lại gồm những hệ nhỏ hơn.

học tập, tự học cho HS.
Giống như các phần học khác, trong phần SH tế bào (SH 10), các bài thực
hành cũng được bố trí ở cuối mỗi chương học nhằm giúp HS ôn tập, củng cố, khắc
sâu kiến thức.
Phần SH tế bào SH 10, SGK cơ bản có 3 bài thực hành như sau:
Trong Chương II. Cấu trúc của tế bào có “Thí nghiệm co và phản co nguyên
sinh” (Bài 12)
Trong Chương III. Chuyển hóa vật chất và năng lượng có “Một số thí
nghiệm
về enzim” (Bài 15).

Trong Chương IV. Phân bào có bài 20 thực hành: Quan sát các kì của
nguyê
n
phân trên tiêu bản rễ hành (Bài 20).

Việc đặt các TN ở cuối mỗi chương cho thấy TN được sử dụng trong chương
trình SH tế bào nhằm mục đích chủ yếu là củng cố kiến thức cho HS. Điều này
đ
ược
kiểm
ch
ứng qua điều tra thực trạng
sử

dụng
TN của các GV trong nhà trường
THPT. Kết quả cho thấy hầu hết các GV đều sử dụng TN trong khâu ôn tập, củng
cố kiến thức giúp cho HS nắm
k

tiêu bài học, tình hình cụ thể để cải tiến, sử dụng các TN sao cho hợp lí, vẫn đảm bảo
nội dung bài học mà chất lượng, hiệu quả của các bài thực hành được nâng cao.
Quan niệm phổ biến hiện nay ở các trường phổ thông là kết thúc một tiết dạy, GV
phải truyền đạt hết những nội dung
tron
g SGK. Quan niệm một cách cứng nhắc như
vậy là chưa hợp lí. Tùy nội dung bài học, GV có thể lựa chọn những nội dung then
chốt, những nội dung khó của bài để giảng giải, khắc sâu cho HS, còn những nội
dung (TN) tương tự hay những nội dung (TN) dễ, GV có thể sử dụng để giao bài tập
về nhà cho HS. Có như vậy mới phát huy đuợc năng lực tự học, năng lực tư
duy

sáng
tạo của HS đồng thời cũng hoàn thành được mục tiêu dạy học.
* Nguyên tắc 2: Phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo; bồi dưỡng hứng
thú học tập;
phát

tri ển
năng lực nhận thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo thực hành, hình
thành và phát triển tư duy kĩ thuật; phù hợp với đặc điểm tâm- sinh lí HS. Nguyên tắc
này nhằm đáp ứng yêu cầu chiến lược và cấp bách hiện nay của giáo dục nói chung,
giáo dục phổ thông nói riêng. Luật Giáo d ục
2005
, Điều 5, khoản 2
qu
i định:
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ
động, sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học; khả năng


trên lớp có ảnh hưởng quyết
định không chỉ phương pháp học tập của HS trên lớp mà còn cả đối với phương
pháp tự học khi không có mặt GV. Phương pháp dạy học có tín h nghiên cứu sẽ kích
thích phong trào học tự giác, tích cực, tự lực và sáng tạo.
SH nói chung, tế bào học nói riêng là một khoa học thực nghiệm, tri thức
được hình thành bằng các phương pháp quan sát, TN, thực hành Muốn HS tìm tòi,
phát hệin kiến thức t ế bào học thì tốt
nhất


tổ
ch
ức cho HS sử dụng các phương
pháp đó, lặp lại một cách thu gọn con đường tìm tòi của các nhà khoa học, các em sẽ
hiểu sâu,
n
h ớ lâu
đ
ồng thời nắm
đ
ược cả
ph
ương pháp nghiên cứu bộ môn.
Quá trình thực hành TN phải được rút gọn nhưng diễn ra theo đúng lôgic
của các TN Sinh
học
, đồng thời đảm bảo đủ lượng thông tin được truyền đạt, tập
trung vào các dấu hiệu bản chất mà qua đó HS có đ ủ tư liệu cho hoạt động gia công
trí tuệ, giải quyết được vấn đề học tập.
* Nguyên tắc 4: Đảm bảo tính khả thi của hoạt động TN trong nhiều hoàn

có thể có lúc HS thực hiện, tìm hiểu nguyên nhân thất bại để không lúng túng, b ị
động khi giải đáp cho HS.
- Phải có kế hoạch dành thời gian nhận xét, đánh giá kết quả thực hành của
HS. Khi nhận xét, đánh giá kết quả thực hành của HS. Khi nhận xét cần
chú ý
những nội dung sau:

+ Kết quả của TN và quan sát: cách tiến hành có ưu, nhược điểm gì?
+ Ý thức tổ chức, kỉ luật, trật tự, vệ
sin
h, an toàn của HS trong quá trình tiến

nh TN.
Để động viên HS cần nêu một số nhóm, cá nhân làm tốt, những em tìm tòi,
phát hiện ra cái
mới,

kể
cả những thắc mắc, chứng tỏ HS có sự đào sâu, suy nghĩ.
Sau đó
n
hận xét về
kết quả cụ thể đã đạt
được qua quá trình tiến hành công
việc
.
5.2.3. Qui trình cải tiến cách làm TN.

Bước 1. Xác định mục tiêu thí nghiệm


2: Phân tích nội dung TN trong SGK
GV tiến hành các TN theo đúng hướng dẫn trong SGK, tác gi ả tiến hành l ặp
đi, lặp lại một số lần (3 đến 5 lần). Sau đó căn cứ vào toàn bộ qui trình thực
h
iện
TN để phân tích các yếu tố trong
TN:

điều
kiện, phương pháp, kết quả. Trong khâu
này, GV cần phải phân tích tất cả các yếu tố của TN, từ khâu chuẩn bị (mẫu vật,
dụng cụ, hóa chất); đến phân tích thực hiện TN và cuối cùng là phân tích kết quả
TN (có đúng với mục tiêu đề ra không? Mức độ chính xác là bao nhiêu? Thời gian
thực hiện TN là bao nhiêu?)
Bước
3: Phát hiện khó khăn, đề xuất các biện pháp khắc phục các TN trong
SGK
Trên cơ sở phân tích TN ở bước 2, tác giả phát hiện những mâu thuẫn khi thực
hiện TN, những khó khăn gặp phải khi thực hiện TN như: chuẩn bị mẫu vật, hóa
chất, dụng cụ, các thao tác tiến
hành,

mức
độ khó thực hiện của TN… Từ đó đ ề ra
ph
ương án khắc
ph
ục, cải tiến các yếu tố gây khó
khăn trong
TN.

- HS có th ể làm
đ
ược TN
đ
ơn
g
iản để quan sát hi ện tượng co và phản co
nguyên
sinh
ở tế bào thực vật.

- Rèn cho SH tính cẩn thận, tỉ mỉ trong thao tác TN.
* Thực hiện TN theo SGK
a. Chuẩn bị TN
- Mẫu vật: 2 lá thài lài tía sạch.
- Dụng cụ, hóa chất:
+ KHV quang học vật kính 10, 40 và thị kính 10, 15: 01
cái
+ Lưỡi dao cạo râu 01 cái (hoặc kim mũi mác).
+ Phiến kính (lam kính) sạch, khô : 02 cái.
+ Lá kính (lamen) sạch, khô: 02 cái.
+ Ống nhỏ giọt: 01 ống.
+ Giấy thấm: 02 tờ.
+ Nước cất: 10 đến 20 ml.
+ Dung dị c h muối hoặc đường loãng: 10 – 20ml (trong thí
nghiệm chúng
tôi sử dụng nồng độ muối 5%, 10%, 15% hoặc nồng độ đường 5%, 10%, 15%, 20%)
b. Tiến hành TN
- Bước 1. Làm tiêu bản
(1) Nhỏ lên lam kính một giọt nước cất: Dùng ống nhỏ giọt hút lấy một ít nước

nước dư thừa.
- Bước 2: Chuẩn bị lên tiêu bản
(6) Chuẩn bị KHV: Lắp vật kính, thị kính vào KHV, chỉnh nguồn sáng.
(7) Đưa mẫu lên KHV: Đặt phiến kính có mẫu lên bàn
kính
, điều chỉnh v
ùng

có nhi ều tế bào sáng rõ nằm giữa thị trường.
- Bước 3: Quan sát tiêu bản
(8) Cố định mẫu trên KHV: Dùng kẹp cố định phiến kính lên bàn kính.
(9) Quan sát mẫu vật ở vật kính ×10: Tìm vùng có tế bào quan sát thấy được
rõ, đẹp, đều, mỏng (chỉ có một lớp tế bào), phân biệt được các tế bào với nhau, để
cho vùng này nằm giữa vi trường của kính. Chỉnh ốc thứ cấp để thấy
được tế bào rõ
nét.

(10) Quan sát mẫu vật ở vật kính ×40: Điều chỉnh sang vật kính ×40, chỉnh ốc
thứ cấp để thấy được tế bào rõ nét nhất.
- Bước 4: Phân biệt các tế bào dưới KHV
(11) Quan sát k ĩ các tế bào , quan sát được tế bào khí khổng với tế bào biểu bì.
Xem lúc này
tế

bào
khí khổng đóng hay mở? Vẽ lại hình dạng tế bào ra giấy.
- Bước 5: Gây co và phản co nguyên sinh
(12) Nhỏ dung dịch gây co nguyên sinh: Phiến kính được giữ nguyên trên
bàn KHV. Dùng ống nhỏ giọt hút lấy một vài giọt nước muối hoặc đường, đặt
ống hút ở mép cạnh rìa của lá kính, nhỏ từ từ và nhẹ nhàng một giọt muối hoặc

- Hiện tượng phản co nguyên sinh thường chậm, tỉ lệ các tế bào phản co nguyên
sinh thấp.
- Thời gian thực hiện thí nghiệm thường trong khoảng thời gian từ 20- 25 phút.
* Các khó khăn gặp phải khi thực hiện TN - Việc sử dụng mẫu vật bằng lá thài lài tía có một số nhược điểm:
+ Độ phổ không rộng.
+ Lá mỏng nên khó khăn trong việc thực hiện thao tác bước (2).
+ Sự phân bố màu của tế bào trong lá không đều do đó khó quan sát.
+ Sự phân bố tế bào biểu bì và tế bào khí khổng trên bề mặt lá không đều dẫn
tới khó quan sát hai loại tế bào cùng một lúc.
- Việc pha chế dung dịch đường, muối không được hướng dẫn cụ thể. Nên có
thể sử dụng
nồng

độ
quá cao hoặc quá thấp dẫn đến khó quan sát hoặc hỏng mẫu.
- Thao tác (13); (14): Lấy lam kính ra, nhỏ dung dịch muối hoặc nước cất rồi
lại đặt mẫu lên bàn kính, gây mất thời gian, xê dịch mẫu, rơi mẫu.
* Đề xuất cách khắc phục khó khăn của TN
Căn cứ vào những phân tích trên, chúng tôi đã đưa ra cách khắc phục để TN
được thực hiện dễ dàng như sau:
- Bổ sung mẫu vật:
+ Củ hành tía: 01 củ.
+ Củ hành tây: 01 củ.
- Hóa chất:
+ Xanh mêtylen thay thao tác (1).
+ Dung dịch muối: 5% (10ml), 10% (10ml).
+ Dung dịch đường: 5% (10ml), 20% (10ml).

sát hiện tượng co và phản co nguyên sinh.

+ Mẫu vật là củ hành tía: Dễ tách mẫu: quan sát rõ các tế bào biểu bì; tế bào
lớn, có màu hơi tím nên dễ quan sát trong quá trình co nguyên sinh, quá trình phản
co nguyên sinh diễn ra mạnh.
+ Mẫu vật là củ hành tây: dễ tách mẫu; tế bào lớn nên dễ quan sát trong quá
trình co nguyên sinh, quá trình phản co nguyên sinh diễn ra mạnh.
+ Nhuộm tế bào bằng xanh mêtylen sẽ quan sát tế bào tốt hơn.
+ Nồng độ đường và muối xác định giúp cho kết quả chính xác, dễ quan sát.
Đồng thời có sự so sánh về tác động khác nhau của cùng một dung dịch nhưng khác
nhau về nồng độ và cùng một nồng độ nhưng khác nhau về
dung
dịch.


Ví dụ 2, “Một số thí nghiệm về enzim - TN với enzim catalaza”(Bài 15)
* Mục tiêu
Sau khi thực hành bài này, HS phải:
- Biết cách bố trí TN và tự đánh giá, giải thích được các mức độ ảnh hưởng
của nhiệt độ môi trường lên hoạt tính của enzim.
- Rèn luyện tư duy phân tích - tổng hợp, kĩ năng làm TN, hợp tác nhóm và làm
việc độc lập của HS.
- Tự tiến hành TN theo qui trình đã cho trong SGK.
* Thực hiện TN theo SGK
a. Chuẩn bị TN
- Mẫu vật:
+ Củ khoai tây sống (φ≈5 cm): 2 củ.
+ Củ khoai tây đã luộc chín (φ≈5 cm): 1 củ.
* Dụng cụ và hóa chất
+ Dao, miếng lót để cắt: 1 cái.

O
2
nhỏ lên mỗi lát một
g
iọt. Có thể
n
h ỏ thêm một vài
g
iọt nữa nếu kết quả
quan sát không rõ.
(5) Quan sát xem có hiện tượng gì xảy ra trên các lát khoai tây và giải thích
nguyên nhân.
c. Kết quả và nhận xét
- Lát khoai tây s ống ướp đá có bọt khí trắng nhưng xuất hiện chậm và ít, nếu
lạnh quá có khi không có hiện tượng sủi bọt ngay.
- Lát khoai tây sống để trong nhiệt độ phòng, có bọt khí ngay khi cho H
2
O
2
lên,
sủi bọt mạnh và nhanh.
- Lát khoai tây chín: không có hi ện tượng sủi bọt.
- Thời gian tiến hành thí nghiệm khoảng 5 phút.
- Đây là kết quả dễ thực hiện, kết quả thí nghiệm dễ nhận thấy.
* Các khó khăn g ặp phải
- Tính thuyết phục không cao vì khoảng cách nhiệt độ giữa các lát khoai
lớn lại phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện nhiệt độ thời tiết nơi tiến hành thí nghiệm.
* Đề xuất cách khắc phục khó khăn
Để khắc phục khó khăn nêu trên, GV sẽ thực hiện TN trên các lát khoai tây ở
nhiệt độ xác định. Như vậy thì phần chuẩn bị dụng cụ cần bổ sung:

- Cho vào 3 cốc thủy tinh, mỗi cốc 2 lát sao cho 2 lát này không chồng trực tiếp

lờn nhau.
- 3 cc thy tinh cũn li: 1 cc un nc sụi, 1 cc nc ỏ, 1 cc nc
nhit phũng.
- Tin hnh ngõm mu cỏc nhit khỏc nhau.
Vớ d: Ngõm mu nhit 30
0
C
Ly mt cc ng 02 lỏt khoai tõy ra, nc nhit phũng vo sao cho
gn ngp khoai tõy. Dựng nhit k o nhit hin ti trong cc. Nu nhit di
30
0
C thỡ thờm nc sụi vo cho
n

30
0
C hoc hn mt chỳt. Nu nhit nc
trờn 30
0
C thỡ thờm n c ỏ vo n
30

0
C thỡ dng li
ho
c thp hn mt chỳt. Nu
nhit thay i thỡ b sung thờm nc ỏ hoc nc un sụi tựy thu c vo
mc

- Quan sát đợc các hiện tợng xẩy ra trong thí nghiệm và giải thích đợc hiện
tợng.
- Củng cố thêm vai trò xúc tác của enzim và ảnh hởng của các nhân tố môi
trờng tới hoạt tính của enzim.
- Quan sát đợc ADN trong tế bào ( Nếu có).
2, Kỹ năng.
- Rèn luyện đợc t duy hệ thống, phân tích, so sánh.
- Hình thành đợc kĩ năng sử dụng kính hiển vi .

Trích đoạn Củng cố 1.Củng cố.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status