Vốn sản xuất kinh doanh và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh tại Công ty TNHH Bao Bì Đức Lâm - Pdf 47

Báo cáo tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, điều kiện để các doanh nghiệp
có thể thực hiện được các hoạt động sản xuất kinh doanh là phải có một số
vốn nhất định. Nếu không có vốn thì không thể nói tới bất kỳ hoạt động sản
xuất kinh doanh nào. Khi đã có vốn rồi thì nhiệm vụ đặt ra cho các doanh
nghiệp là phải quản lý, sử dụng vốn sao cho có hiệu quả cao nhất.
Việc quản lý và sử dụng vốn để sản xuất kinh doanh có ý nghĩa hết sức
quan trọng, là điều kiện tiên quyết để các doanh nghiệp khẳng định được vị
trí của mình trên thương trường và có thể đứng vững trong cơ chế mới.
Chuyển sang nền kinh tế thị trường, đặc biệt là khi nước ta chính thức
gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO, các doanh nghiệp nhà nước cùng
tồn tại với các loại hình doanh nghiệp khác, có quyền tự chủ trong các hoạt
động sản xuất kinh doanh, tự tổ chức đảm bảo đủ vốn, đồng thời có trách
nhiệm bảo toàn và phát triển vốn. Nhiều doanh nghiệp đã thích nghi với tình
hình mới rất nhanh, đã phát huy được tính chủ động sáng tạo trong sản xuất
kinh doanh, chất lượng sản phẩm và dịch vụ tăng lên rõ rệt do đã có sự
chuẩn bị kĩ lưỡng. Tuy nhiên bên cạnh các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả,
không ít các doanh nghiệp còn lúng túng trong việc quản lý và sử dụng vốn.
Nhiều doanh nghiệp không thể tái sản xuất, vốn sản xuất bị mất dần đi sau
mỗi chu kỳ kinh doanh. Thực tế này do nhiều nguyên nhân, một trong số đó
là do công tác quản lý, sử dụng vốn của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế,
hiệu quả sử dụng vốn còn thấp. Vậy nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất
kinh doanh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Trong bối cảnh kinh tế hiện nay, không ít các doanh nghiệp đã gặp khó
khăn trong việc huy động vốn, quản lý và sử dụng vốn. Do đó vấn đề đặt ra
cho các doanh nghiệp là phải huy động vốn, quản lý và sử dụng vốn để đảm
bảo sản xuất kinh doanh diễn ra thuận lợi và phải sử dụng vốn sao cho có hiệu
quả ngày càng cao để doanh nghiệp đứng vững hơn trên thương trường, từ đó
Nguyễn Quyết Tiến Lớp: Quản trị 44
1

I. VỐN KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP.
1. Khái niệm đặc điểm vốn kinh doanh trong doanh nghiệp
1.1 Khái niệm vốn kinh doanh:
Để tiến hành bất cứ hoạt động sản xuất kinh doanh nào, doanh nghiệp
cũng cân phải có vốn. Vốn là điều kiện tiên quyết và có ý nghĩa quyết định
đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Cần có sự phân biệt giữa tiền và vốn. Muốn có vốn thì trước hết chúng ta
phải có tiền. Song có tiền, thậm chí có những khoản tiền rất lớn cũng không
phải là vốn. Tiền được gọi là vốn khi nó thoả mãn các điều kiện sau:
Một là: Tiền phải đại diện cho một lượng hàng hoá nhất định. Hay nói
cách khác, tiền phải được đảm bảo bằng một lượng tài sản có thực.
Hai là: Tiền phải được tập trung tích tụ đến một lượng nhất định. Sự tích
tụ và tập trung một lượng tiền đến một hạn độ nào đó mới làm cho nó đủ sức
để đầu tư cho một dự án kinh doanh, cho dù là nhỏ nhất. Nếu tiền nằm rải rác
khắp nơi, không được "thu gom" lại thành một khoản lớn thì không tiến hành
được việc gì. Vì thế một doanh nghiệp muốn khởi nghiệp thì nhất thiết phải có
một lượng vốn đủ lớn.
Ba là: Khi có đủ lượng, tiền phải được vận động nhằm mục đích sinh lời
trong đó: điều kiện 1 và 2 được coi là điều kiện ràng buộc để tiền trở thành
vốn; điều kiện 3 được coi là đặc trưng cơ bản của vốn- nếu tiền không vận
động thì đó là đồng tiền “chết”, còn nếu vận động không vì sinh lời thì cũng
không phải là vốn.
Nguyễn Quyết Tiến Lớp: Quản trị 44
3
Báo cáo tốt nghiệp
Cách vận động và phương thức vận động của vốn do phương thức đầu tư
kinh doanh quyết định. Trên thực tế có 3 phương thức vận động của vốn.
T-T’: Là phương thức vận động của vốn trong các tổ chức chu chuyển
trung gian và các hoạt động đầu tư cổ phiêú, trái phiếu.
T-H-T’: Là phương thức vận động của vốn trong các doanh nghiệp

thúc một vòng tuần hoàn vốn lại quay về hình thái tiền tệ nhưng phải lớn hơn
thì sản xuất kinh doanh mới có lãi. Nếu đồng vốn bị ứ đọng, tài sản cố định
không cần dùng, tài nguyên, sức lao động không được sử dụng, tiền, vàng bỏ
vào dự trữ hoặc các khoản nợ khế đọng khó đòi...chỉ là những đồng vốn
''chết''. Mặt khác tiền có vận động nhưng lại bị thất tán, không quay về nơi
xuất phát với giá trị lớn hơn thì đồng vốn cũng không được bảo đảm, chu kỳ
vận động tiếp theo bị ảnh hưởng.
Ba là: Vốn phải gắn với chủ sở hữu nhất định: Mỗi đồng tiền vốn phải
gắn với chủ sở hữu nhất định. Trong nền kinh tế thị trường không thể có
những đồng vốn vô chủ, bởi lẽ những đồng vốn vô chủ gây ra sự chi tiêu lãng
phí kém hiệu quả. Khi xác định được chủ sở hữu thì đồng vốn mới được sử
dụng tiết kiệm có hiệu quả
Bốn là: Vốn phải được quan niệm là một loại: “Hàng hoá đặc biệt”:
Những người có vốn có thể đưa vốn vào thị trường, những người cần tới
vốn, tới thị trường vay, nghĩa là người đi vay vốn được quyền sử dụng vốn
của người chủ sở hữu hay quyền sở hữu của đồng vốn không di chuyển
nhưng quyền sử dụng vốn được di chuyển qua sự vay nợ; người vay phải trả
một tỷ lệ lãi suất thoả thuận với người cho vay.
Năm là: Vốn không chỉ được biểu hiện ở dạng hữu hình mà còn biểu
hiện ở dạng vô hình. Vì thế, các loại tài sản này cần phải được lượng hoá
bằng tiền, qui về giá trị. Trong điều kiện cơ chế thị trường phải xem xét giá
trị thời gian của tiền vốn, bởi vì do ảnh hưởng của sự biến động giá cả, lạm
phát sức mua của đồng tiền ở những thời điểm khác nhau cũng khác nhau.
Nguyễn Quyết Tiến Lớp: Quản trị 44
5
Báo cáo tốt nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, phạm trù vốn cần phải được nhận thức một
cách phù hợp. Việc nhận thức đầy đủ và đúng đắn những đặc trưng của vốn
trong điều kiện nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường sẽ góp phần giúp
doanh nghiệp quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả hơn.

cố định bị hao mòn, hư hỏng hoàn toàn hoặc xét thấy không có lợi về mặt
kinh tế thì nó mới được thay thế đổi mới. Tài sản cố định là một phạm trù
kinh tế, tài sản cố định phải là sản phẩm của lao động xã hội (tức là có giá
trị) và tham gia vào quá trình sản xuất với chức năng của tư liệu lao động
(giá trị sử dụng). Điều này cho thấy tài sản cố định phải có đầy đủ các thuộc
tính của một hàng hoá (giá trị và giá trị sử dụng) như mọi hàng hoá thông
thường khác. Do đó những lực lượng tự nhiên như thác nước, dòng sông, đất
đai...có trường hợp làm tư liệu lao động của xã hội chế tạo máy chỉ được coi
là sản phẩm đang lưu thông; nhà xưởng, thiết bị máy móc đang xây dựng và
lắp đặt chỉ được coi là đối tượng lao động. Tư liệu lao động chỉ được coi là
tài sản cố định khi thoả mãn 2 điều kiện sau.
- Có thời gian sử dụng trên 1 năm
- Có giá trị ≥ 5 triệu đồng
Có thể nói, quá trình vận động của tài sản cố định được cụ thể hoá như sau:
Về mặt hiện vật, tài sản cố định gồm những tư liệu lao động chủ yếu
tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, bị hao mòn, biểu hiện ở giá trị sử dụng
ngày càng giảm bớt nhưng vẫn giữ nguyên hình thái hiện vật cho đến khi hư
hỏng hoàn toàn phải loại ra khỏi quá trình sản xuất.
Nguyễn Quyết Tiến Lớp: Quản trị 44
7
Báo cáo tốt nghiệp
Về mặt giá trị, vốn để mua sắm tài sản cố định phải ứng toàn bộ 1 lần khi
bắt đầu tham gia vào quá trình sản xuất, số vốn đó chỉ được hoàn lại từng
phần nhỏ do được rút ra từ lưu thông sau khi kết thúc mỗi chu kỳ sản xuất.
Như vậy, trong quá trình sản xuất, giá trị tài sản cố định luôn luôn tồn tại
dưới 3 hình thái: hình thái ban đầu gắn liền với hiện vật tài sản cố định, một
bộ phận giá trị chuyển vào sản phẩm sản xuất ra và một bộ phận chuyển hoá
thành tiền khi sản phẩm hàng hoá bán được. Bộ phận ban đầu ngày càng
giảm bớt, bộ phận tiền tệ ngày càng tăng lên cho đến khi bộ phận này vừa
đúng bằng giá trị ban đầu của tài sản cố định thì cũng là lúc kết thúc một

nhuận của doanh nghiệp. Ngược lại, việc xác định nhu cầu vốn lưu động quá
cao sẽ gây ra ứ đọng vốn, vật tư, hàng hoá, vốn lưu động chậm luân chuyển.
Do đó vấn đề tổ chức, bảo toàn và sử dụng vốn lưu động hợp lý có vai trò rất
quan trọng, doanh nghiệp sử dụng vốn lưu động càng có hiệu quả thì càng
sản xuất được nhiều sản phẩm, tiết kiệm được vốn lưu động và mang lại hiệu
quả cao, giúp doanh nghiệp đạt đuợc mục đích kinh doanh của mình.
3. Nguồn hình thành vốn kinh doanh:
Trong nền kinh tế thị trường, vốn kinh doanh của doanh nghiệp được
hình thành từ nhiều nguồn khác nhau. Mỗi nguồn vốn đều có những ưu,
nhược điểm nhất định. Để lựa chọn và tổ chức hình thức huy động vốn thích
hợp, có hiệu quả, cần phải có sự phân loại nguồn vốn. Việc phân loại nguồn
vốn được thực hiện, dựa vào nhiều tiêu thức khác nhau. Dưới đây là 3 cách
phân loại chủ yếu:
3.1. Căn cứ vào quan hệ sở hữu
3.1.1.Nguồn vốn chủ sở hữu:
Nguyễn Quyết Tiến Lớp: Quản trị 44
9
Báo cáo tốt nghiệp
Là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp, doanh nghiệp có
quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt bao gồm: vốn điều lệ, vốn tự bổ sung,
vốn do nhà nước tài trợ(nếu có).
Nguồn vốn chủ sở hữu là một nguồn vốn quan trọng và có tính ổn định
cao, thể hiện quyền tự chủ về tài chính của doanh nghiệp. Tỷ trọng của
nguồn vốn này trong cơ cấu nguồn vốn càng lớn, sự độc lập về tài chính của
doanh nghiệp càng cao và ngượi lại tỷ trọng của nguồn vốn này trong cơ cấu
tài chính càng nhỏ thì độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng nhỏ.
Vốn chủ sở hữu
tại một thời điểm = Tổng nguồn vốn - Nợ phải trả
3.1.2. Nợ phải trả
Là các khoản nợ phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh mà

Nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời.
+ Nguồn vốn thường xuyên: là nguồn vốn có tính chất ổn định và có thể
sử dụg trong một thời gian dài gồm: Vốn chủ sở hữu, khoản vay trung và dài
hạn. Nguồn vốn này được dùng để mua sắm tài sản cố định và một bộ phận tư
liệu lao động tối thiểu thường xuyên cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Nguyễn Quyết Tiến Lớp: Quản trị 44
11
Báo cáo tốt nghiệp
+ Nguồn vốn tạm thời: là nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể dụng mang
tính chất tạm thời trong một thời gian ngắn (dưới 1 năm) như: Nguồn vốn
chiếm dụng hợp lý vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các
khoản nợ ngắn hạn khác.
Phân loại nguồn vốn kinh doanh thành nguồn vốn thường xuyên và
nguồn vốn tạm thời, giúp cho người quản lý xem xét, huy động các nguồn
vốn một cách phù hợp với thời gian sử dụng, lập kế hoạch tài chính, hình
thành nên những dự định về tổ chức vốn trong tương lai trên cơ sở xác định
quy mô, số lượng cần thiết, lựa chọn nguồn vốn và quy mô thích hợp cho
từng nguồn vốn đó, tổ chức sử dụng vốn có hiệu quả cao.
Thông thường, một doanh nghiệp phải phối hợp cả hai nguồn vốn chủ sở
hữu và nợ phải trả để đảm bảo nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh
doanh. Sự kết hợp giữa hai nguồn này phụ thuộc vào đặc điểm của ngành mà
doanh nghiệp đang hoạt động cũng như quyết định tài chính của người quản
lý trên cơ sở điều kiện thực tế của doanh nghiệp. Làm thế nào để lựa chọn
được một cơ cấu tài chính tối ưu? Đó là câu hỏi luôn làm trăn trở các nhà
quản lý tài chính doanh nghiệp bởi sự thành công hay thất bại của mỗi doanh
nghiệp phụ thuộc vào sự lựa chọn cơ cấu tài chính. Từ việc nghiên cứu các
phương pháp phân loại nguồn vốn sản xuất kinh doanh chúng ta rút ra những
ý nghĩa quan trọng.
Nguyễn Quyết Tiến Lớp: Quản trị 44

13
Báo cáo tốt nghiệp
và doanh nghiệp có quy mô nhỏ. Ngoài ra vốn kinh doanh của doanh nghiệp
nhiều hay ít còn là điều kiện để doanh nghiệp có thể phân phối và sử dụng các
nguồn tiềm năng hiện có như sức lao động, nguồn hàng hóa, và các nguồn lực
khác một cách tốt nhất nhằm phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp
III. HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH VÀ BIỆN PHÁP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA DOANH
NGHIỆP.
Nguyễn Quyết Tiến Lớp: Quản trị 44
14
Báo cáo tốt nghiệp
1. Hiệu quả vốn kinh doanh
1.1. Khái niệm hiệu quả vốn kinh doanh.
Mục đích của hoạt động sản xuất kinh doanh đều hướng tới hiệu quả
kinh tế trên cơ sở khai thác và sử dụng một cách triệt để mọi nguồn lực sẵn
có. Chính vì thế các nguồn lực kinh tế, đặc biệt là nguồn vốn kinh doanh của
doanh nghiệp có tác động mạnh mẽ tới hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doanh, tạo lập, khai thác và sử dụng các tiềm lực về vốn hợp lý hay không
hợp lý sẽ có tác động tích cực hay tiêu cực tới hiệu quả sử dụng vốn nói
riêng, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung của doanh nghiệp.
Hiệu quả vốn kinh doanh là một chỉ tiêu phản ánh chất lượng sử dụng
vốn kinh doanh của một doanh nghiệp, là một phạm trù kinh tế phản ánh
trình độ sử dụng các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực của doanh nghiệp để đạt
kết quả cao nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh với chi phí thấp nhất.
Nếu nhìn nhận tổng quát thì hiệu quả vốn kinh doanh của 1 doanh
nghiệp được xác định bằng cách so sánh kết quả đầu ra với chi phí đầu vào.
Hiệu quả kinh doanh =
Hoặc:

Chỉ tiêu này phản ánh mức độ huy động vốn cố định vào hoạt động vốn
cố định vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Tỷ suất lợi nhuận Lợi nhuận thuần HĐKD
vốn cố định
=
Vốn cố định bình quân sử dụng trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn cố định sử dụng trong kỳ có thể
tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế (sau thuế)
* Các chỉ tiêu phân tích:
- Hệ số hao mòn Số tiền KH luỹ kế TSCĐ ở thời điểm đánh giá
tài sản cố định
=
Nguyên giá TSCĐ ở thời điểm đánh giá
Chỉ tiêu nầy phản ánh mức độ hao mòn TSCĐ so với thời điểm ban đầu
hay năng lực còn lại của TSCĐ.
1.1.2: Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động:
Σ mức luân chuyển VLĐ trong kỳ
-
Số lần luân chuyển VLĐ

=
Số dư bình quân VLĐ trong kỳ
Trong đó:
Nguyễn Quyết Tiến Lớp: Quản trị 44
16
Báo cáo tốt nghiệp
- Σ mức luân chuyên VLĐ trong kỳ = doanh thu thuần
- Số dư VLĐ bình quân ( VLĐ ) được tính như sau:
Số ngày trong kỳ (360 ngày)
-

Chỉ tiêu này cho biết toàn bộ vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
trong kỳ luân chuyển được bao nhiêu vòng.
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
-
Tỷ suất lợi nhuận VKD

=
VKD bình quân sử dụng trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh (1 đồng) VKD sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu
đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay.
Lợi nhuận thuần HĐKD
-
Tỷ suất lợi nhuận thuần VKD=
VKD bình quân
Nguyễn Quyết Tiến Lớp: Quản trị 44
17
Báo cáo tốt nghiệp
Đây là chỉ tiêu đo lường mức độ sinh lời của đồng vốn sản xuất kinh
doanh, nó phản ánh 1 đồng vốn kinh doanh tham gia luân chuyển trong kỳ
mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận thuần hoạt động kinh doanh.
Lợi nhuận thuần HĐKD
-
Tỷ suất lợi nhuận vốn CSH

=
Vốn CSH bình quân
Chỉ tiêu này cho thấy vốn CSH sử dụng trong kỳ có thể tạo ra bao nhiêu

hiệu quả kinh tế vốn đầu tư là mức tăng thu nhập quốc dân. Đối với doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả của vốn đầu tư là
lợi nhuận do đầu tư mang lại. Chỉ tiêu lợi nhuận là một điểm quan trọng
đảm bảo cho tình hình tài chính của doanh nghiệp vững chắc. Để dạt được
điều đó thì doanh nghiệp phải tăng cường nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
kinh doanh có kết quả mới thu được lợi nhuận cao, thúc đẩy doanh nghiệp
ngày càng phát triển.
2.2. Xuất phát từ vị trí, vai trò của vốn trong quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Nguyễn Quyết Tiến Lớp: Quản trị 44
19
Báo cáo tốt nghiệp
Vốn là phạm trù kinh tế quan trọng trong doanh nghiệp. Trong điều kiện
sản xuất hàng hoá cạnh tranh xã hội chủ nghĩa, doanh nghiệp không thể tồn
tại nếu quá trình sản xuất kinh doanh luôn ở tình trạng thua lỗ. Vì vậy vai trò
của vốn đầu tư là phải khai thác tốt nhất mọi tiềm năng và lợi thế của doanh
nghiệp, thay đổi và bổ sung máy móc thiết bị, tăng cường sản xuất.
Với vai trò quan trọng như vậy đòi hỏi doanh nghiệp luôn phải quan tâm đến
việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, đó cũng là mục tiêu cần đạt tới của các
nhà quản lý vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH TẠI
CÔNG TY TNHH BAO BÌ ĐỨC LÂM
I. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY TNHH
BAO BÌ ĐỨC LÂM.
1. Quá trình hình thành phát triển của Công ty TNHH Bao Bì Đức Lâm.
- Tên công ty : CÔNG TY TNHH BAO BÌ ĐỨC LÂM.
- Tên giao dịch quốc tế: DUC LAM PACKAGE COMPANY LIMITED.
- Tên viết tắt: DUC LAM CO.,LTD.
- Địa chỉ trụ sở chính: Số 9 - C7 Trương Định - Phường Tương Mai -

10.981,6 9.300,9 9.970,9 9.975,9
4 Lao động bình quân
463 448 413 411
Nguyễn Quyết Tiến Lớp: Quản trị 44
21
Báo cáo tốt nghiệp
5 Lợi nhuận trước thuế
179.903 -17.953 147.420 179.903
6 Thu nhập bình quân một người
820 770 910 1.150
(Nguồn: Phòng Kế Toán – Tài Chính Công ty TNHH Bao Bì Đức Lâm)
Dựa vào bảng số liệu trên, ta thấy hầu hết các chỉ tiêu đều có các xu
hướng giảm từ năm 2007 đến 2010. Năm 2010 tuy tình hình sản xuất kinh
doanh có phục hồi nhưng vẫn chưa đạt được như năm 2008.
Tổng vốn kinh doanh năm 2009 bằng 100,1% so với năm 2008.
Doanh thu năm 2009 bằng 140,8% so với năm 2008 nhưng chỉ bằng
94,9% so với năm 2006.
Lợi tức năm 2009 bằng 147,4 triệu đồng, tuy lớn hơn năm 2008 (-17,9
triệu đồng) nhưng vẫn thấp hơn năm 2006 (232,8 triệu đồng). Như vậy Công
ty vừa trải qua thời kỳ thua lỗ và đang trong quá trình phục hồi sản xuất cần
tiếp tục có những giải pháp hợp lý để sản xuất phát triển trong những năm
tiếp theo.
2. Đặc điểm về tổ chức bộ máy của Công ty TNHH Bao Bì Đức Lâm:
2.1. Mô hình tổ chức bộ máy của Công ty:
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty là cơ cấu hỗn hợp. Theo
kiểu cơ cấu này thì quản lý lãnh đạo phục tùng theo trực tuyến và theo chức
năng, vẫn tuân thủ theo chế độ một thủ trưởng mà tận dụng được sự tham gia
của các bộ phận chức năng, giảm bớt gánh nặng cho các cấp lãnh đạo cao
nhất của Công
Sơ đồ tổ chức quản lý của Công ty TNHH Bao Bì Đức Lâm

KỸ THUẬT
PHÓ
GIÁM ĐỐC
CÁC BỘ PHẬN TRỰ CTIẾP
SẢN XUẤT
23
Báo cáo tốt nghiệp
phòng ban chức năng khác làm tham mưu cho ban Giám đốc và chịu sự chỉ
đạo của các Phó giám đốc theo các chức năng, các lĩnh vực hoạt động tương
ứng.
2.2. Cơ chế hoạt động và chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận :
Bộ máy quản lý của Công ty hoạt động theo chế độ một thủ trưởng
quyền quyết định cao nhất thuộc về Giám đốc, mỗi cấp dưới chỉ nhận lệnh từ
một cấp trên trực tiếp, các phòng chức năng chỉ làm công tác tham mưu cho
các lãnh đạo trực tuyến. Các Phó giám đốc, quản đốc sử dụng quyền mà
Giám đốc giao cho để thống nhất quản lý mọi hoạt động trong lĩnh vực công
việc được phân công hoặc trong đơn vị mình phụ trách.
- Giám đốc: Là người có quyền ra quyết định cao nhất đối với mọi
hoạt động của Công ty, giám đốc là người giữ vai trò chỉ huy với chức trách
quản lý, sử dụng toàn bộ vốn, đất đai, nhân lực và các nguồn lực của Công
ty. Trong khi thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn được giao, các Phó giám đốc
chủ động giải quyết công việc theo đúng chức năng và trong giới hạn về
quyền hành.
- Phó Giám đốc: Giúp Giám đốc điều hành, tổ chức quản lý quá trình
sản xuất của Công ty, lập kế hoạch sản xuất, phụ trách lĩnh vực công tác
kinh doanh, hành chính, quản trị, đời sống. Tiến hành triển khai thực hiện
thông qua sự chỉ đạo của các quản đốc đối với các phân xưởng, tổ, ca…
Chỉ huy thống nhất kỹ thuật sản xuất hàng ngày, điều phối lao động và
duy trì kỹ thuật lao động cho toàn Công ty. Cho từng phân xưởng, đảm
bảo cho quá trình sản xuất được diễn ra liên tục, nhịp nhàng. Đồng thời tổ

sản xuất, đồng thời có trách nhiệm tìm thị trường tiêu thụ, tìm bạn hàng,
Nguyễn Quyết Tiến Lớp: Quản trị 44
25

Trích đoạn Đánh giá chung về hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Những hiệu quả đạt đựơc: Những hạn chế: Thực hiện tốt công tác hoạch định tài chính Đẩy mạnh kiểm tra tài chính
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status