Vốn kinh doanh và một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh ở công ty Điện tử công nghiệp. - Pdf 32

Báo cáo thực tập tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tiến hành hoạt động sản xuất
kinh doanh đều phải có một lượng vốn nhất định, vốn là yếu tố không thể
thiếu. Có vốn doanh nghiệp mới có điều kiện đầu tư mua sắm máy móc
thiết bị, nguyên vật liệu, thuê nhân công…tiến hành sản xuất kinh doanh.
Nhưng chỉ có vốn thôi thì chưa đủ. Nền kinh tế thị trường với những quy
luật khắc nghiệt của nó ảnh hưởng rất lớn tới sự tồn tại và phát triển của
các doanh nghiệp. Do đó, một doanh nghiệp muốn đứng vững và khẳng
định vị trí của mình trên thị trường thì doanh nghiệp đó phải hoạt động đạt
hiệu quả cao. Muốn như vậy thì trước hết doanh nghiệp phải tổ chức quản
lý và sử dụng vốn đó sao cho hiệu quả để vừa bảo toàn được vốn, đồng thời
vừa phát triển vốn mang lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp.
Tuy nhiên, trên thực tế rất nhiều doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là
các doanh nghiệp Nhà nước đang sử dụng vốn kém hiệu quả, gây thất thoát
vốn, thậm chí dẫn đến giải thế, phá sản doanh nghiệp, làm giảm khả năng
cạnh tranh trên thị trường; từ đó ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển
chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Vì vậy, việc tổ chức quản lý và sử
dụng vốn một cách hiệu quả đang là vấn đề cấp bách đặt ra không chỉ đối
với mỗi doanh nghiệp mà còn đối với cả Nhà nước và toàn bộ nền kinh tế;
đặc biệt là khi nước ta đã trở thành một thành viên chính thức của tổ chức
WTO.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, cùng với kiến thức
thu thập được trong quá trình học tập tại trường và quá trình thực tập ở
công ty điện tử công nghiệp, em đã quyết định chọn đề tài: “Vốn kinh
doanh và một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh
doanh ở công ty Điện tử công nghiệp”
1
Kết cấu Báo cáo gồm 3 chương:
- Chương I: Vốn kinh doanh và sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.

giữa tiền và vốn. Tiền được coi là vốn phải đồng thời thỏa mãn những điều
kiện sau đây:
- Thứ nhất: Tiền phải đại diện cho một lượng hàng hóa nhất định ( tiền
phải được đảm bảo bằng một lượng tài sản có thực )
- Thứ hai: Tiền phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất
định, đủ sức để đầu tư cho một dự án kinh doanh.
- Thứ ba: Khi đã đủ về số lượng, tiền phải được vận động nhằm mục
đích sinh lời.
Sự vận động của quỹ tiền tệ này trong sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp được biểu diễn theo sơ đồ sau:

TLSX
T- H ….SX….H’ – T’
SLĐ
Doanh nghiệp sẽ dùng vốn để mua sắm các yếu tố của quá trình sản
xuất kinh doanh như sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động.
3
Do sự tác động của lao động vào đối tượng lao động thông qua tư liệu lao
động mà hàng hóa dịch vụ được tạo ra và tiêu thụ trên thị trường. Cuối
cùng các hình thái vật chất khác nhau đó được chuyển hóa về hình thái tiền
tệ ban đầu. Để đảm bảo sự tồn tại phát triển của doanh nghiệp, số tiền thu
được do tiêu thụ sản phẩm đảm bảo bù đắp toàn bộ các chi phí đã bỏ ra và
có lãi. Như vậy, số tiền đã ứng ra ban đầu không những chỉ được bảo tồn
mà nó còn được tăng thêm do hoạt động kinh doanh mang lại. Toàn bộ giá
trị ứng ra ban đầu và các quá trình tiếp theo cho sản xuất kinh doanh được
gọi là vốn. Vốn được biểu hiện cả bằng tiền lẫn cả giá trị vật tư, tài sản và
hàng hóa của doanh nghiệp, tồn tại dưới hình thái vật chất cụ thể và không
có hình thái vật chất cụ thể.
Từ sự phân tích trên, có thể đưa ra định nghĩa tổng quát về vốn kinh
doanh như sau:

nguồn vốn để đầu tư vào sản xuất kinh doanh.
Thứ năm: Vốn phải có giá trị về mặt thời gian. Điều này có ý nghĩa
khi bỏ vốn vào đầu tư phải xét tính hiệu quả của đồng vốn mang lại. Trong
nền kinh tế thị trường, do ảnh hưởng của giá cả, lạm phát và lãi suất nên
sức mua của đồng tiền ở thời điểm khác nhau cũng khác nhau.
Thứ sáu: Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định và phải được
quản lý chặt chẽ. Nếu không xác định được chủ sở hữu thì việc sử dụng
vốn và tài sản sẽ gây lãng phí, thất thoát và kém hiệu quả.
• Vai trò của vốn kinh doanh:
Vốn là điều kiện tiền đề để doanh nghiệp có thể tiến hành hoạt động
sản xuất kinh doanh của mình. Mỗi doanh nghiệp khi bắt đầu tiến hành sản
xuất đều phải cần đến vốn. Nếu không có vốn doanh nghiệp sẽ không thể
mua sắm tài sản cố định, thuê mướn nhân công để phục vụ cho hoạt động
sản xuất kinh doanh.
Vốn là điều kiện duy trì sản xuất, đổi mới thiết bị công nghệ, mở
rộng sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng việc làm cho người
lao động. Từ đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp tăng cường khả năng trên
5
thị trường, mở rộng xuất khẩu, nâng cao hiệu quả họat động sản xuất kinh
doanh. Nếu doanh nghiệp thiếu vốn quá trình sản xuất sẽ bị đình trệ, không
đảm bảo được các hợp đồng đã ký với khách hàng....dẫn đến mất thị phần,
mất khách hàng; doanh thu và lợi nhuận giảm sút và không đạt được các
mục tiêu đã đề ra.
Vốn kinh doanh có vai trò như một đòn bẩy, thúc đẩy hoạt động sản
xuất kinh doanh cuả doanh nghiệp phát triển, là điều kiện để taọ lợi thế
cạnh tranh, khẳng định vai trò cuả doanh nghiệp trên thị trường.
Vốn kinh doanh còn là công cụ phản ánh và đánh giá quá trình vận
động của tài sản, kiểm tra, giám sát quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu tài chính. Qua đó, các nhà quản trị
doanh nghiệp biết được thực trạng khâu sản xuất, đánh giá hiệu quả sản

lên.
- Hai là phải đạt giá trị tối thiểu ở mức quy định. Tiêu chuẩn này được
quy định đối với từng nước và có thể được điều chỉnh cho phù hợp với mức
giá cả của từng thời kỳ.
Ở Việt Nam hiện nay tiêu chuẩn về mặt giá trị theo QĐ206/2003 của
Bộ Tài Chính ban hành ngày 12/12/2003 là từ 10 triệu đồng trở lên.
Ngoài hai tiêu chuẩn trên thì theo QĐ206 thì tài sản là TSCĐ phải
thỏa mãn thêm hai điều kiện nữa là:
- Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài
sản đó
- Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy.
Đặc điểm chung của TSCĐ trong doanh nghiệp là tham gia vào
nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm với vai trò là tư liệu lao động. Trong quá
trình đó hình thái vật chất và đặc tính sử dụng ban đầu của TSCĐ là không
thay đổi. Song giá trị của nó lại được chuyển dịch dần từng phần vào giá trị
sản phẩm sản xuất ra. Bộ phận giá trị chuyển dịch này cấu thành một yếu tố
chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và được bù đắp mỗi khi sản
7
phẩm được tiêu thụ. Để giúp cho công tác quản lý và sử dụng có hiệu quả
TSCĐ người ta tiến hành phân loại TSCĐ.
Thông thường có 4 tiêu thức phân loại TSCĐ (xem sơ đồ)
Mỗi cách phân loại trên cho phép xem xét, đánh giá kết cấu TSCĐ
của doanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau. Đối với mỗi doanh nghiệp,
việc phân loại TSCĐ là rất cần thiết, giúp doanh nghiệp chủ động điều
chỉnh kết cấu TSCĐ hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ nói
riêng và VKD nói chung.
Từ đó có thể khái quát những nét đặc thù về sự vận động của vốn cố
định trong quá trình sản xuất kinh doanh như sau:
- Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh
- Vốn cố định được luân chuyển dần dần từng phần trong các chu kỳ

TSLĐ sản xuất bao gồm các loại nguyên nhiên vật liệu, phụ tùng
thay thế, bán thành phẩm, sản phẩm dở dang…đang trong quá trình dựu trữ
sản xuất hoặc sản xuất chế biến. Còn TSLĐ lưu thông bao gồm các sản
phẩm thành phẩm chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền, các khoản vốn trong
thanh tóan, các khoản chi phí chờ kết chuyển….Trong quá trình sản xuất
kinh doanh các TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông luôn vận động, thay thế
và chuyển hóa lẫn nhau, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được
tiến hành liên tục.
Phù hợp với các đặc điểm của TSLĐ, vốn lưu độngcủa doanh nghiệp
cũng không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh: Dự
trữ sản xuất, sản xuất và lưu thông. Quá trình này được diễn ra liên tục và
thường xuyên lặp lại theo chu kỳ và được gọi là quá trình tuần hoàn, chu
chuyển của vốn lưu động. Qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh vốn
lưu động lại thay đổi hình thái biểu hiện, từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu
sang hình thái vốn vật tư hàng hóa dự trữ và vốn sản xuất, rồi cuối cùng lại
trở về với hình thái vốn tiền tệ. Sau mỗi chu kỳ tái sản xuất, vốn lưu động
hoàn thành một vòng chu chuyển.
9
Vốn lưu động có những đặc trưng cơ bản sau:
- Vốn lưu động tham gia toàn bộ một lần vào một chu kỳ sản xuất,
giá trị chuyển dịch toàn bộ một lần.
- Trong quá trình tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn lưu
động thường xuyên vận động và chuyển hóa các hình thái biểu hiện qua các
giai đoạn của chu kỳ kinh doanh.
Vậy, VLĐ và TSLĐ là một cặp phạm trù không thể tách rời. VLĐ là
biểu hiện giá trị cuả TSLĐ, TSLĐ là biểu hiện về mặt hiện vật của VLĐ.
Thông thường vốn lưu động được phân loại theo 3 cách khác nhau
(theo sơ đồ)
Mỗi cách phân loại có một tác dụng khác nhau nhưng mục đích
chung đều là giúp doanh nghiệp quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn lưu

nói trên để đảm bảo nhu cầu vốn cho họat động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Sự kết hợp giữa hai nguồn vốn này được xem là hợp lý phụ
thuộc vào đặc điểm mà doanh nghiệp đang hoạt động, tình hình phát triển
của nền kinh tế cũng như tình hình thực tế của doanh nghiệp.
* Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn có thể chia nguồn
vốn của doanh nghiệp thành hai loại:
- Nguồn vốn thường xuyên: là nguồn vốn có tính chất ổn định, dài
hạn mà doanh nghiệp có thể sử dụng. Nguồn vốn này được dành cho việc
đầu tư mua sắm TSCĐ và một bộ phận TSLĐ tối thiểu thường xuyên cần
thiết cho họat động kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn thường
xuyên được xác định như sau:
Nguồn vốn thường xuyên = Nợ dài hạn + Nguồn vốn chủ sở hữu
- Nguồn vốn tạm thời: Là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới một
năm) mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu có tính chất
tạm thời, bất thường phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Nguồn vốn này bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng
và các tổ chức tín dụng, các khoản vốn chiếm dụng…
11
Việc phân loại này giúp cho người quản lý xem xét, huy động các
nguồn vốn một cách phù hợp với thời gian sử dụng, đáp ứng đầy đủ kịp
thời vốn cho sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của
doanh nghiệp.
* Căn cứ vào phạm vi huy động vốn, nguồn vốn kinh doanh của
doanh nghiệp được chia thành hai loại:
- Nguồn vốn bên trong: là nguồn vốn được huy động từ nội bộ doanh
nghiệp, bao gồm tiền khấu hao hàng năm, lợi nhuận để lại, các khoản dự
phòng…nguồn vốn này có tính chất quyết định trong hoạt động của doanh
nghiệp.
- Nguồn vốn bên ngoài: Là nguồn vốn có thể huy động từ bên ngoài
doanh nghiệp để đáp ứng nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất kinh

đắp hết các khoản chi phí bỏ ra cho hoạt động kinh doanh. Do đó, nhiệm vụ
của các doanh nghiệp là phải phân bổ, sử dụng nguồn vốn của doanh
nghiệp vào quá trình sản xuất kinh doanh sao cho hợp lý và có hiệu quả.
Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh có ảnh hưởng quyết định đến sự
tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp. Hiệu quả sử dụng vốn là chỉ
tiêu biểu hiện một mặt về hiệu quả kinh doanh. Phản ánh trình độ quản lý
và sử dụng vốn của doanh nghiệp trong việc tối đa hóa kết quả, lợi ích hoặc
tối thiểu hóa lượng vốn và thời gian sử dụng theo các điều kiện về nguồn
lực xác định phù hợp với mục tiêu kinh doanh.
Như vậy có thể hiểu là với một lượng vốn nhất định bỏ vào họat
động sản xuất kinh doanh sẽ đem lại lợi nhuận cao nhất và làm cho đồng
vốn không ngừng sinh sôi nảy nở, tức là hiệu quả sử dụng vốn thể hiện ở
hai mặt: bảo toàn được vốn và tạo ra được các kết quả theo mục tiêu kinh
doanh, trong đó đặc biệt là kết quả về sức sinh lời của đồng vốn. Bên cạnh
đó, phải chú ý cả mặt tối thiểu hóa lượng vốn và thời gian sử dụng vốn của
doanh nghiệp. Kết quả sử dụng vốn phải thỏa mãn được lợi ích của doanh
13
nghiệp và các nhà đầu ở mức độ mong muốn cao nhất, đồng thời nâng cao
được lợi ích của toàn bộ nền kinh tế.
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề hiệu quả sử dụng VKD
của doanh nghiệp. Nhưng dù đứng trên quan điểm nào, thì về bản chất hiệu
quả sử dụng vốn kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử
dụng các nguồn nhân tài lực của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất
trong quá trình sản xuất kinh doanh với chi phí bỏ ra thấp nhất.
1.2.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong
doanh nghiệp:
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn kinh doanh vận động liên
tục và nhu cầu vốn ở mỗi thời điểm khác nhau là khác nhau. Đồng vốn bỏ
ra có khả năng sinh lời có liên quan trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển
của doanh nghiệp. Nếu sử dụng đồng vốn không có hiệu quả, không bảo

việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Đó cũng chính là mục tiêu cần đạt tới
của việc sử dụng vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
* Xuất phát từ tình hình quản lý và sử dụng vốn kinh doanh của
doanh nghiệp:
Trong cơ chế bao cấp, hầu hết các doanh nghiệp Nhà nước được Nhà
nước bao cấp toàn bộ vốn sản xuất kinh doanh hoặc là được ưu tiên vay
vốn với lãi suất thấp. Việc khai thác thu hút vốn không được đặt ra như một
yêu cầu cấp bách, có tính sống còn đối với doanh nghiệp. Điều này đã vô
tình “triệt tiêu” tính chủ động, sáng tạo và tính linh hoạt của các doanh
nghiệp.
Chuyển sang nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế
cùng đan xen hoạt động, các doanh nghiệp Nhà nước chỉ còn là một bộ
phận song song cùng tồn tại với các doanh nghiệp thuộc các thành phần
kinh tế khác. Các doanh nghiệp phải tự trang trải mọi chi phí và đảm bảo
kinh doanh có lãi, phải tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả.Nếu
không thực hiện được các yêu cầu trên, các doanh nghiệp rất dễ lâm vào
15
tình trạng phá sản. Hơn nữa để tồn tại và phát triển trong cơ chế mới đòi
hỏi các doanh nghiệp phải năng động, nắm bắt nhu cầu thị trường, đầu tư
đổi mới máy móc thiết bị, cải tiến quy trình công nghệ, đa dạng hóa sản
phẩm. Những đòi hỏi đó buộc các doanh nghiệp phải quản lý đồng vốn một
cách chặt chẽ hơn. Mặt khác, việc quản lý và sử dụng vốn của doanh
nghiệp Nhà nước hiện nay còn khác trước, là các doanh nghiệp phải bảo
toàn được số vốn được giao, kể cả khi trượt giá và phải đầu tư mở rộng
phát triển quy mô sản xuất kinh doanh. Do đó, vấn đề nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn kinh doanh càng trở nên cấp bách.
* Xuất phát từ tầm quan trọng của việc tổ chức đảm bảo vốn và ý
nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho sản xuất kinh doanh:
Tất cả các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ở bất kỳ quy

1.2.3.1. Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn:
* Vòng quay toàn bộ vốn kinh doanh trong kỳ:
Là chỉ tiêu phản ánh vốn của doanh nghiệp trong một kỳ quay được
bao nhiêu vòng.
Doanh thu thuần
Vòng quay toàn bộ VKD =
VKD bình quân trong kỳ
Qua chỉ tiêu này ta có thể đánh giá được khả năng sử dụng tài sản
của doanh nghiệp hoặc doanh thu thuần được sinh ra từ tài sản mà doanh
nghiệp đã đầu tư.
* Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh:
Phản ánh khả năng sinh lời của mỗi đồng vốn đầu tư vào hoạt động
kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp.
Lợi nhuận trước hoặc sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận VKD =
VKD bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn bình quân được sử dụng
trong kỳ tạo ra mấy đồng lợi nhuận.
17
* Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu:
Mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận ròng cho
các chủ nhân của doanh nghiệp đó. Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu là chỉ
tiêu đánh giá mức độ thực hiện mục tiêu này.
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận VCSH =
Vốn chủ sở hữu bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu, đó là
trong kỳ cứ đầu tư một đồng vốn chủ sở hữu thì sẽ thu được bao nhiêu
đồng lợi nhuận sau thuế.
1.2.3.2. Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định:

Nguyên giá TSCĐ ở thời điểm đánh giá
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ hao mòn của TSCĐ trong doanh
nghiệp so với thời điểm đầu tư ban đầu. Hệ số càng lớn chứng tỏ mức độ
hao mòn TSCĐ càng cao và ngược lại.
* Hiệu suất sử dụng TSCĐ:
Doanh thu thuần
Hiệu suất sử dụng TSCĐ =
Nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng TSCĐ trong kỳ tạo được bao nhiêu
đồng doanh thu thuần. Hiệu suất càng lớn chứng tỏ hiệu suất sử dụng
TSCĐ càng cao.
* Hệ số trang bị TSCĐ cho một công nhân trực tiếp sản xuất: phản
ánh giá trị TSCĐ bình quân trang bị cho một công nhân trực tiếp sản xuất.
Hệ số này càng lớn phản ánh mức độ trang bị TSCĐ cho sản xuất của
doanh nghiệp càng cao.
Nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ
19
Hệ số trang bị TSCĐ =
Số lượng công nhân trực tiếp sản xuất
1.2.3.3 . Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động:
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong các doanh nghiệp
có thể sử dụng các chỉ tiêu chủ yếu sau đây:
* Tốc độ luân chuyển vốn lưu động: có thể đo bằng hai chỉ tiêu là số
lần luân chuyển (số vòng quay vốn) và kỳ luân chuyển vốn (số ngày của
một vòng quay vốn).
- Số vòng quay vốn lưu động:
Doanh thu thuần trong kỳ
Số vòng quay VLĐ =
VLĐ bình quân
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn lưu động bình quân bỏ ra có thể

0
)
(Mtk) 360
Trong đó : K
1
là số ngày một vòng quay vốn lưu động hiện tại
K
0
là số ngày một vòng quay vốn lưu động năm trước
Mtk > 0 là lãng phí
Mtk < 0 là tiết kiệm
Mức tiết kiệm vốn lưu động có được là do tăng tốc độ luân chuyển
vốn. Do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động nên có thể tăng tổng mức
luân chuyển song không cần tăng thêm hoặc tăng không đáng kể quy mô
VLĐ.
* Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động:
Lợi nhuận trước hoặc sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận VLĐ =
Vốn lưu động bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lưu động trong kỳ có thể tạo ra
bao nhiêu đồng lợi nhuận trước hoặc sau thuế. Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu
động càng cao thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao.
3. Các biện pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh
doanh của doanh nghiệp:
21
3.1. Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn kinh
doanh của doanh nghiệp:
Vốn sản xuất kinh doanh chịu tác động của nhiều nhân tố; trong đó
có cả những nhân tố tích cực và nhân tố tiêu cực làm ảnh hưởng tới hiệu
quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Để phát huy được những nhân tố tích

hiệu quả.
* Nhóm nhân tố chủ quan:
- Do xác định nhu cầu vốn kinh doanh: Nếu các doanh nghiệp xác
định nhu cầu vốn kinh doanh thiếu chính xác thì sẽ dẫn đến tình trạng thừa
hoặc thiếu vốn, làm cho quá trình sản xuất kinh doanh bị gián đoạn không
liên tục, từ đó làm giảm hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh
nghiệp.
- Do lựa chọn phương án đầu tư: Lựa chọn phương án đầu tư là một
nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Nếu doanh nghiệp đầu tư sản xuất ra các sản phẩm, dịch vụ có chất
lượng tốt, mẫu mã đẹp, giá thành hạ, được thị trường chấp nhận thì tất yếu
sẽ mang lại hiệu quả kinh tế lớn.
- Cơ cấu vốn đầu tư cũng là nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng
vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Chẳng hạn, nếu doanh nghiệp đầu tư
vốn vào các tài sản không dùng hoặc chưa dùng chiếm tỷ trọng lớn thì
không những không phát huy được tác dụng trong quá trình sản xuất mà
còn bị hao hụt, mất mát vốn, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng
vốn kinh doanh.
- Trình độ tổ chức quản lý và sản xuất:
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp có được sử dụng hợp lý, tiết kiệm,
hiệu quả và đúng mục đích hay không là phụ thuộc phần lớn vào trình độ
của những người quản lý doanh nghiệp. Nếu trình độ quản lý và tổ chức sử
dụng vốn yếu kém thì hoạt động sản xuất kinh doanh bị thua lỗ kéo dài làm
cho vốn bị thất thoát, dẫn tới mất vốn. Ngược lại, nếu nhà quản lý có trình
độ cao và nhạy bén, biết nắm bắt cơ hội kinh doanh để đầu tư có lời thì sẽ
23
đem lại hiệu quả cho doanh nghiệp, nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn
kinh doanh.
Trên đây là những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn kinh
doanh của doanh nghiệp. Để phát huy những ảnh hưởng tích cực của các

doanh
- Thứ tư: Có biện pháp quản lý và sử dụng vốn thích hợp. Thực hiện
biện pháp này đòi hỏi doanh nghiệp phải tăng cường công tác kiểm tra tài
chính đối với việc sử dụng tiền vốn trong tất cả các khâu.
Với vốn cố định phải đánh giá đúng giá trị, tạo điều kiện phản ánh
chính xác tình hình biến động của vốn cố định, điều chỉnh kịp thời giá trị
của tài sản cố định. Lựa chọn phương pháp khấu hao và xác định mức khấu
hao thích hợp. Chú trọng đổi mới trang thiết bị, phương pháp công nghệ
sản xuất, kịp thời thanh lý các tài sản cố định không cần dùng hoặc đã hư
hỏng. Thực hiện tốt chế độ bảo dưỡng, sửa chữa dự phòng các tài sản cố
định, không để xảy ra tình trạng tài sản cố định bị hư hỏng trước thời hạn
hoặc hư hỏng bất thường gây thiệt hại ngừng sản xuất.
Đối với tài sản lưu động cần có những biện pháp đẩy mạnh tốc độ
luân chuyển vốn trong khâu sản xuất, sử dụng tiết kiệm nguyên vật liệu,
đồng thời quản lý các khoản phải thu, không để vốn bị chiếm dụng quá lâu,
đưa ra các chính sách tín dụng đúng đắn đối với từng khách hàng, hạn chế
tình trạng bán hàng không thu được tiền…
- Thứ năm: Tổ chức tốt quá trình sản xuất và đẩy mạnh công tác tiêu
thụ sản phẩm. Doanh nghiệp cần phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận sản
xuất, không ngừng nâng cao năng suất lao động nhằm sản xuất ra sản phẩm
chất lượng tốt, giá thành hạ, tiết kiệm được nguyên vật liệu, khai thác tối đa
công suấ máy móc thiết bị hiện có. Mở rộng thị trường tiêu thụ, tăng cường
công tác tiếp thị….tăng khối lượng sản phẩm tiêu thụ, hạn chế đến mức
thấp nhất sản phẩm tồn kho, tăng nhanh vòng quay của vốn.
- Thứ sáu: Chủ động thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro bất
thường bằng cách đa dạng hóa hình thức đầu tư, đa dạng hóa sản phẩm,
mua bảo hiểm, trích lập các quỹ dự phòng tài chính….để có nguồn bù đắp
khi vốn kinh doanh bị thiếu hụt.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status