Học viện tài chính Chuyên đề cuối khoá
LỜI NÓI ĐẦU
Nền kinh tế thị trường nước ta, được đánh dấu bằng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
VI (1986), đây thực sự được coi là một cú “hích” vào nền kinh tế bao cấp của nước ta.
Đó được coi như bước đệm chấm dứt thời kỳ khó khăn, kinh tế lạc hậu, quan liêu bao
cấp dưới cơ chế tập trung của nhà nước, mở ra cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà
nước.
Để đứng vững trong nền kinh tế thị trường, và để đạt được mục tiêu của quá trình
sản xuất kinh doanh đòi hỏi doanh nghiệp phải có lượng vốn sản xuất kinh doanh
nhất định.
Vốn là một phạm trù kinh tế hàng hoá, là một trong những yếu tố quan trọng nhất
quyết định tới quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá.
Muốn có một quy mô sản xuất kinh doanh ngày càng được mở rộng lớn, đáp ứng
ngày một cao hơn của nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp cần phải có lượng vốn
ngày càng nhiều. Mặt khác, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ cao diễn ra
không ngừng cũng đồng nghĩa với sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt và gay gắt trên
thị trường. Vì vậy nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh và nhất là nhu cầu
vốn dài hạn của doanh nghiệp không những phải huy động vốn cả trong và ngoài
doanh nghiệp mà còn làm sao bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh.
Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh là không thể tránh khỏi, tất nhiên trên tất cả
các phương diện nên hiệu quả của đồng vốn đầu tư phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác
nhau: Chính sách kinh tế, chế độ quản lý của nhà nước, việc bố trí cơ cấu vốn hợp lý,
trình độ năng lực quản lý của lãnh đạo doanh nghiệp… Do đó việc tổ chức, bảo toàn
và sử dụng vốn sao cho có hiệu quả là một vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó
quyết định đến sự tồn tại của doanh nghiệp, là điều kiện để doanh nghiệp khẳng định
chỗ đứng của mình trong nền kinh tế mới. Do vậy bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn
tồn tại và phát triển đều phải quan tâm tới vấn đề tạo lập, bảo toàn và sử dụng vốn sao
cho có hiệu quả nhất. Đây là vấn đề quan tâm lớn đối với mọi doanh nghiệp.
Cơ chế cũ tồn tại những khuyết điểm lớn làm cho các doanh nghiệp nhà nước làm
ăn thua lỗ, tình trạng không bảo toàn được vốn của các doanh nghiệp thường xuyên
sảy ra, tình trạng làm ăn lãi giả lỗ thật xảy ra phổ biến trong các doanh nghiệp nhà
CHƯƠNG I
VỐN SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ SỰ CẦN THIẾT NÂNG CAO
HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA DOANH
NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Vốn kinh doanh và nguồn hình thành vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Vốn kinh doanh và các thành phần của vốn kinh doanh
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp cần phải có những yếu tố
cần thiết cho quá trình sản xuất, đó là tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao
động. Quá trình sản xuất là sự kết hợp các yếu tố đó để tạo ra sản phẩm. Trong nền
kinh tế hàng hoá tiền tệ, để có những yếu tố trên đòi hỏi doanh nghiệp phải có một
lượng vốn tiền tệ nhất định. Số vốn tiền tệ này được đầu tư mua sắm máy móc thiết
bị, xây dựng nhà cửa, trang bị kỹ thuật, thuê nhân công, mua nguyên vật liệu…và các
yếu tố khác, đảm bảo cho quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Số tiền dùng để đầu
hình thành các tài sản sản xuất này được gọi là vốn sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Như vậy vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị
tài sản được đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục
đích sinh lời.
Đối với mỗi doanh nghiệp sản xuất quá trình sản xuất diễn ra theo 3 khâu cơ bản:
Dự trữ sản xuất, sản xuất và lưu thông. Quá trình này được diễn ra một cách thường
xuyên và liên tục, do đó vốn kinh doanh cũng vận động không ngừng. Sự vận động
của vốn sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp được diễn ra theo sơ đồ sau:
Vòng tuần hoàn của vốn bắt đầu từ hình thái vốn tiền tệ (T) chuyển hoá sang hình
thái vốn vật tư hàng hoá (H) dưới dạng các TLLD và ĐTLĐ, qua quá trình sản xuất
vốn được biểu hiện dưới hình thái H’(vốn thành phẩm hàng hoá) và cuối cùng trở lại
hình thái vốn tiền tệ (T’). Do sự luân chuyển không ngừng của vốn trong hoạt động
sản xuất kinh doanh nên cùng một lúc vốn kinh doanh của doanh nghiệp thường tồn
tại dưới các hình thức khác nhau trong lĩnh vực sản xuất lưư thông. Căn cứ vào vai trò
và đặc điểm chu chuyển giá trị của vốn khi tham gia quá trình sản xuất kinh doanh thì
vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được chia làm 2 bộ phận là vốn cố định và
khi sản phẩm hàng hoá được tiêu thụ. Quỹ khấu hao dùng để tái sản xuất TSCĐ. Trên
thực tế khi chưa có nhu cầu đầu tư mua sắm TSCĐ các doanh nghiệp cững có thể sử
dụng linh hoạt quỹ này để đáp ứng nhu cầu kinh doanh của doanh nghiệp.
-Phần còn lại của vốn cố định tức là giá trị còn lại của TSCĐ ngày càng giảm đi
trong những chu kỳ sản xuất tiếp theo.
Ba là, sau mỗi chu kỳ sản xuất, phần vốn được luân chuyển vào giá trị sản phẩm
dần dần được tăng lên , song phần vốn được đầu tư ban đầu thì dần dần giảm xuống
tương ứng với mức giảm dần giá trị sử dụng của TSCĐ. Kết thúc quá trình vận
động đó cũng là lúc TSCĐ hết thời gian sử dụng, giá trị của nó được chuyển vào
giá trị sản phẩm đã sản xuất, khi đó vốn cố định mới hoàn thành một vòng luân
chuyển.
Trong các doanh nghiệp VCĐ là một bộ phận vốn quan trọng chiếm tỷ trọng tương
đối lớn trong toàn bộ vốn đầu tư nói riêng, vốn sản xuất kinh doanh nói chung. Quy
mô của vốn cố định , trình độ quản lý và sử dụng nó là nhân tố ảnh hưởng đến trình độ
Trần Quốc Tuấn D37-11.10
Học viện tài chính Chuyên đề cuối khoá
trang thiết bị kỹ thuật của sản xuất kinh doanh. Từ những đặc điểm đó của VCĐ nên
trong việc quản lý VCĐ đòi hỏi phải luôn gắn liền với việc quản lý hình thái hiện vật
của nó là các TSCĐ của doanh nghiệp. Vì điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Vốn lưu động
Vốn lưu động của doanh nghiệp là một bộ phận vốn sản xuất kinh doanh ứng trước
về tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp được tiến hành một cách thường xuyên liên tục
Trong các doanh nghiệp tài sản lưư động sản xuất bao gồm các loại:
Nguyên vật liệu, phụ tùng thay thế, bán thành phẩm…Tài sản lưu động lưu động ở
khâu lưu thông bao gồm thành phẩm chờ tiêu thụ, vốn bằng tiền, vốn trong thanh
toán…Trong quá trình sản xuất kinh doanh các tài sản lưu động sản xuất và các tài
sản lưu động lưu thông luôn vận động thay thế và đổi chỗ cho nhau đảm bảo cho
quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra một cách liên tục và thuận
đạt hiệu quả cao.
Nguồn hình thành vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế
thị trường.
Điểm xuất phát cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là vốn kinh
doanh, phải có vốn thì mới có thể đầu tư mua sắm các yếu tố cần thiết cho quá trình
sản xuất. Mỗi bộ phận tài sản được đầu tư đều có nguồn tại trợ. Trong nền kinh tế
thị trường hiện nay, doanh nghiệp có quyền tự chủ về tài chính và có những hình
thức huy động vốn khác nhau phù hợp với điều kiện sản xuất nhằm đạt được hiệu
quả cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Trên thực tế hiện nay vốn kinh doanh của doanh nghiệp được hình thành từ nhiều
nguồn khác nhau. Tuy theo tiêu thức phân loại mà nguồn vốn của doanh nghiệp
được chia thành nhiều loại khác nhau. Cụ thể có các phân loại sau :
I.1.1.1.Theo nguồn hình thành vốn
Với tiêu thức này vốn sản xuất kinh doanh chia thành 2 loại : Vốn chủ sở hữu và nợ
phải trả
Vốn chủ sở hữu là phần vốn thuộc phần sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp có
đầy đủ quyền chiếm hữu, chi phối và định đoạt. Tuỳ theo từng loại hình doanh
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau mà vốn chủ sở hữu bao gồm : Vốn
Ngân Sách Nhà nước, vốn chủ sở hữu doanh nghiệp bỏ ra, vốn góp cổ phần và lợi
nhuận để lại…Tại một thời điểm vốn chủ sở hữu có thể được xác định bằng công
thức sau :
Vốn chủ sở hữu = Tổng tài sản - Nợ phải trả
Nợ phải trả là khoản nợ phat sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh mà doanh
nghiệp phải có trách nhiệm thanh toán cho các tác nhân trong nền kinh tế (Ngân
hàng, nhà cung cấp, công nhân viên, các tổ chức kinh tế và các tác nhân khác…)
Tài sản
Nợ phải trả
Nguồn vốn
chủ sở hữu
Trần Quốc Tuấn D37-11.10
I.1.1.3.Theo phạm vi hoạt động vốn
Với cách phân loại này nguồn vốn doanh nghiệp được chia thành nguồn vốn bên
trong và nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp
Trần Quốc Tuấn D37-11.10
Học viện tài chính Chuyên đề cuối khoá
Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển
của doanh nghiệp.Được huy động trong chính doanh nghiệp như tiền khấu hao
TSCĐ, lợi nhuận để lại, các khoản dự phòng, dự trữ, thu từ thanh lý TSCĐ
Nguồn vốn từ bên ngoài doanh nghiệp là nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy
động đươc từ việc vay ngân hàng, vay tổ chức tín dụng, phát hành trái phiếu, thuê
tài chính, góp vốn liên doanh, liên kết…
Cách phân loại này giúp cho người quản lý xem xét phạm vi nguồn vốn huy động
cho doanh nghiệp. Sử dụng nguồn vốn bên trong doanh nghiệp : Doanh nghiệp có
thể chủ động sử dụng vốn đồng thời làm tăng sự vững mạnh về mặt tài chính của
doanh nghiệp. Tuy nhiên nguồn vốn vay cũng có ý nghĩa hết sức to lớn, vì doanh
nghiệp chỉ góp một lượng vốn nhất định nhưng lại sử dụng một lượng tài sản lớn,
nhờ hoạt động vay vốn mà giúp cho doanh nghiệp đáp ứng kịp thời đầy đủ nhu cầu
vốn cho hoạt động đầu tư, kinh doanh giải pháp tăng hiệu quả sử dụng vốn của
doanh nghiệp. Đặc biệt trong điều kiện kinh doanh có lãi thì phần vốn huy động
này không phải do doanh nghiệp bỏ ra song lại đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Từ việc nghiên cứu nguồn hình thành vốn kinh doanh cho thấy các doanh nghiệp
hiện nay một mặt tăng cường và quản lý và sử dụng vốn kinh doanh đạt hiệu quả,
mặt khác phải chủ động khai thác các nguồn vốn đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh
doanh đầy đủ với chi phí sử dụng vốn thấp nhất.
Tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Vốn là điều kiện vật chất đầu tiên để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Vấn
đề tổ chức huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả là một vấn đề hết sức quan
trọng, đó là yếu tố để khẳng định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, đồng
Ngoài ra, doanh nghiệp không chỉ đem lại lợi ích kinh tế cho riềng mình mà còn
góp phần tăng hiệu quả nền kinh tế. Nếu tất cả các doanh nghiệp đều phấn đấu đạt
hiệu quả sử dụng vốn cao góp phần tăng hiệu quả kinh tế kích thích đầu tư tạo ra
nhiều sản phẩn đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cho xã hội tạo công ăn việc làm cho
người lao động, tăng khoản nộp ngân sách tăng GDP của nền kinh tế.
Thứ ba xuất phát từ thực trạng nền kinh tế của nước ta hiện nay :
Nền kinh tế nước ta hiện nay tình trạng kinh doanh kém hiệu quả còn khá phổ biến.
Đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước từ khi chuyển qua nền kinh tế thị trường hầu
hết phải tự chủ về vốn đã gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Cụ thể là, trong tổng số khoảng 5 ngàn DNNN có 20,9 % doanh nghiệp có vốn trên
10 tỷ đồng ; 65,5 % doanh nghiệp còn lại có vốn 5 tỷ đồng, riêng một số doanh
nghiệp địa phương có số vốn hơn 1 tỷ đồng vốn kinh doanh đã nhỏ các doanh
nghiệp nay còn làm ăn không hiệu quả và thua lỗ là điều không tránh khỏi
Vì vậy, để thích ứng với nền kinh tế thị trường như hiện nay các doanh nghiệp nhất
là doanh nghiệp nhà nước cần phải quan tâm hơn nữa đến hiệu quả sử dụng vốn
kinh doanh.
Trần Quốc Tuấn D37-11.10
Học viện tài chính Chuyên đề cuối khoá
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp
Để đánh giá tình hình tổ chức quản lý hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp, ta có các chỉ tiêu sau đây :
I.1.1.4.Các chỉ tiêu phản ánh kết cấu nguồn vốn của doanh nghiệp
- Hệ số nợ =
Chỉ tiêu này phản ánh tỷ lệ nợ trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp.
Chỉ tiêu này phản ánh phản ánh trong tổng số vốn dài hạn của doanh nghiệp thì
phần vay dài hạn là bao nhiêu.
Việc phân tích các hệ số kết cấu nguồn vốn là một vấn đề có ý nghĩa hết sức quan
giảm được VLĐ cần thiết trong sản xuất kinh doanh, giảm số lượng vốn vay hoặc có
thể mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh trên cơ sở vốn hiện có.
Hiệu suất sử dụng vốn cố định nhằm đo lường việc sử dụng VCĐ đạt như thế nào.
Nó phản ánh một đồng VCĐ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần.
Trần Quốc Tuấn D37-11.10
Giá vốn hàng bán
Hàng tồn kho bình quân
- Số vòng quay
hàng tồn kho
=
Doanh thu thuần
- Vòng quay của
các khoản phải thu
=
360
Vòng quay các khoản phải thu
- Kỳ thu tiền bình
quân
=
Doanh thu thuần
Số dư bình quân VLĐ trong kỳ
- Vòng quay vốn
lưu động
=
Doanh thu thuần
- Hiệu suất sử dụng
vốn cố định
=
Số dư bình quân các khoản phải thu
Số dư bình quân VCĐ trong kỳ
=
Lợi nhuận thuần
Vốn chủ sở hữu bình quân
- Doanh lợi vốn
chủ sở hữu
=
Học viện tài chính Chuyên đề cuối khoá
Một số phương hướng biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường hiện nay
Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất
kinh doanh
Trong quá trình sản xuất kinh doanh việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh
doanh là rất cần thiết . Song vốn kinh doanh được hình thành từ nhiều nguồn, tồn tại
dưới nhiều hình thức khác nhau và chuyển hoá lẫn nhau. Quá trình vận động đó, vốn
kinh doanh chịu tác động của nhiều nhân tố, ảnh hưởng đến nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn kinh doanh trong doanh nghiệp. Do vậy, để đạt được kết quả cao trong hoạt
động sản xuất kịnh doanh nói chung, trong sử dụng vốn nói riêng. Các doanh nghiệp
cần phải nắm bắt được các nhân tố ảnh hưởng mức độ và xu hướng tác động đến hiệu
quả sử dụng vốn và kết quả hoạt động sản xuất kinh doạnh.
Các nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh bao gồm :
• Nhóm nhân tố khách quan
Cơ chế quản lý và các chính sách Kinh tế - Tài chính của Nhà nước. Nhà nước tạo
ra môi trường và hành lang pháp lý thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất
kinh doanh và định hướng cho các hoạt động thông qua các chính sách vĩ mô. Bất kỳ
sự thay đổi nào trong cơ chế quản lý và chính sách kinh tế của nhà nước cũng có thể
gây ra những ảnh hưởng nhất định tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đặc
biệt là trong lĩnh vực tài chính. Do vậy nhà nước phải tạo ra môi trường thuận tiện cho
việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Do sự biến động của nền kinh tế nước ta trong một số năm qua lạm phát của nước
ta trong tình trạng thấp và đã có thời kỳ giảm suống mức âm, tức là hiện tượng giảm
nguồn khác nhau, doanh nghiệp sử dụng vốn cho dù từ những nguồn nào đều phải bỏ
ra chi phí sử dụng vốn. Tuỳ điều kiện của doanh nghiệp mà sử dụng phương thức huy
động vốn cho phù hợp để chi phí sử dụng vốn là thấp nhất va hiệu quả nhất. Còn nếu
doanh nghiệp sử dụng vốn không hợp lý với chi phí sử dụng vốn cao thì hiệu quả sử
dụng vốn sẽ thấp. Từ đó, ảnh hưởng tới việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của
doanh nghiệp.
Doanh nghiệp xác định nhu cầu vốn không chính xác, dẫn đến tình trạng thừa hoặc
thiếu vốn trong các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng sấu đến
hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh.
Lựa chọn tốt dự án đầu tư tạo điều kiện sử dụng vốn kinh doanh có hiệu quả cao và
ngược lại, không làm tốt công tác lựa chọn dự án đầu tư thì doanh nghiệp phải chịu
tác động lâu dài và bất lợi về tải sản lưu động lạc hậu. Thậm chí phá sản doanh
nghiệp. Để đầu tư đem lại hiệu quả cao doanh nghiệp lựa chon dự án đầu tư phải đảm
bảo tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp và tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Nhân tố con người : Đặc biệt là những người quản lý giữ vai trò quan trọng trong
việc tổ chức, quản lý của những người quản lý trong doanh nghiệp mà yếu kém,
không năng động nhạy bén, không phát huy được khả năng sinh lời của đồng vốn,
kinh doanh sẽ thua lỗ sẽ làm cho vốn kinh doanh bị thâm hụt dần, hiệu quả kém.
Ngược lại, những người quản lý có trình độ cao, nhạy bén, năng động thì họ sẽ biết
nắm bắt cơ hội kinh doanh có lợi để đầu tư đem lại hiệu quả cho doanh nghiệp, nâng
cao được hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh cho doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, trình độ tay nghề của công nhân cũng có tác động đến hiệu quả sử
dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp vì họ là những người trực tiếp vận hành máy
Trần Quốc Tuấn D37-11.10
Học viện tài chính Chuyên đề cuối khoá
móc, hay nói cách khác họ là những người trực tiếp làm ra những sản phẩm. Như vậy,
nhân tố trình độ công nhân viên cũng ảnh hưởng lớn tới việc nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
Ngoài những nhân tố kể trên còn có một số nguyên nhân khác tuỳ thuộc vào từng
hoàn cảnh cụ thể. Do vậy, doanh nghiệp cần xem xét cụ thể từng nguyên nhân, từ đó
điều chỉnh thích hợp
Trần Quốc Tuấn D37-11.10
Học viện tài chính Chuyên đề cuối khoá
- Đối với VLĐ định kỳ kiểm kê kiểm soát đánh giá lại toàn bộ vật tư hàng hoá, vốn
bằng tiền, vốn trong thanh toán để xác định số VLĐ hiện có. Thực hiện tốt công tác
thanh toán công nợ, chủ động phòng ngừa rủi ro, hạn chế tới mức thấp nhất tình
trạng bị chiếm dụng vốn, nếu số lượng vốn chiếm dụng lớn trở thành nợ khó đòi có
thể dẫn tới tình trạng vốn trong doanh nghiệp bị thất thoát. Vì vậy, doanh nghiệp
cần phải mua bảo hiểm tài sản (nếu có thể), lập quỹ dự phòng tài chính để phòng
ngừa rủi ro có thể sảy ra bất cứ lúc nào đề bù đắp lượng vốn thiếu hụt.
- Lựa chọn phương án kinh doanh phù hợp với điều kiện khả năng doanh nghiệp và
phù hợp với nhu cầu thị trường .
- Phát huy tích cực vai trò của công tác quản lý tài chính trong việc quản lý và sử
dụng vốn, các doanh nghiệp phải tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra tài chính
đối với việc sử dụng tiền vốn trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất, từ mua
sắm TSCĐ đến dự trữ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Sử dụng vốn nhàn rỗi một
cách hợp lý linh hoạt như đầu ra bên ngoài, mở rộng quy mô sản xuất.
- Một biện pháp nữa không kém phần quan trọng là những người quản lý không
ngừng nâng cao trình độ quản lý, học hỏi kinh nghiệm và nâng cao tay nghề hơn
nũa những người quản lý phải nhạy bén trong công việc và phải nhiệt huyết với
công việc của mình.
Trên đây là một vài phương hướng biện pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn của doanh nghiệp. Tuy vậy trên thực tế cần áp dụng những biện pháp trên
một cách linh hoạt và tuỳ thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể của doanh nghiệp để có
thể áp dụng tích cực vào việc tổ chức và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Trần Quốc Tuấn D37-11.10
Học viện tài chính Chuyên đề cuối khoá
CHƯƠNG II
TÌNH HÌNH TỔ CHỨC QUẢN LÝ VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CHI NHÁNH VIỆT NAM KỸ
cuốn chả giò, tổ làm nhân, tổ bánh đa, tổ làm tôm bao bột. Là một đơn vị chuyên sản
xuất kinh doanh thịt gia súc tươi sống đông lạnh và các mặt hàng chế biến từ thịt vì
Trần Quốc Tuấn D37-11.10
Học viện tài chính Chuyên đề cuối khoá
vậy hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị khá phong phú. Ngoài những sản phẩm
do công ty Vissan thành Phố HCM sản xuất ra như, xúc xích tiệt trùng, jăm bông, lạp
xườn..chi nhánh còn tiến hành sản xuất một số sản phẩm như, há cảo, chả giò tôm bao
bột, đặc biệt của chả giò thịt, sản phẩm sản xuất ra đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của
người tiêu dùng. Do sản phẩm của chi nhánh được sản xuất theo kiểu giản đơn, chế
biến liên tục, khép kín sản xuất với mẻ lớn và công tác sản xuất tiến hành theo hướng
cơ giới hoá kết hợp với thủ công. Do chu kỳ sản xuất sản phẩm là đồ nguội nên khi
kết thúc làm việc cũng là khi sản phẩm hoàn thành nên không có sản phẩm dở dang.
II.1.1.2.Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý
Tình hình tổ chức bộ máy quản lý của chi nhánh Vissan được thể hiện qua sơ đồ
sau :
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ CỦA CHINH NHÁNH VISSAN
Việc tổ chức bộ máy quản lý của chi nhánh với mô hình quản lý khá gọn nhẹ bao
gồm, 1 giám đốc, và các phòng ban :
- Giám đốc là người chịu trách nhiệm chung về toàn bộ hoạt động sản xuất kinh
doanh, đời sống vật chất của cán bộ công nhân viên chi nhánh.
Các bộ phận giúp việc cho giám đốc.
- Phòng kế toán : Có nhiệm vụ lập và quản lý kế hoạch tài chính tín dụng cho mọi
hoạt động sản xuất kinh doanh của chi nhánh theo đúng chế độ chính sách của Nhà
nước và Công ty quy định. Đồng thời thông qua các bộ phận chức năng , xây dựng
phương án kinh doanh cho hiệu quả, tổ chức theo dõi các khoản thu chi, công nợ,
thực hiện báo cáo quyết toán và phân tích hiệu quả hoạt động trong từng tháng, quý
Trần Quốc Tuấn D37-11.10
Giám đốc
Phòng
kinh
phòng kiểm tra đã đề ra.
Với cách sắp xếp như trên ta thấy được bộ máy của chi nhánh hết sức gọn nhẹ
nhưng vẫn đảm bảo được công tác hành chính và công tác tổ chức quản lý, cũng
một phần chi nhánh cũng thuộc vào loại hình sản xuất kinh doanh tương đối nhỏ.
II.1.1.3.Tổ chức công tác kế toán của chi nhánh
Xuất phát từ đặc điểm tổ chức sản xuất của chi nhánh phù hợp với điều kiện và
trình độ quản lý, trình độ cán bộ kế toán việc tổ chức bộ máy kế toán của chi nhánh
Vissan theo kiểu tập trung. Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh hàng ngày được tổ chức
hạch toán tại phòng kế toán tài vụ của chi nhánh, phòng kế toán tài vụ gồm 4 nhân
viên phụ trách một khâu kế toán chi tiết như sau :
- Kế toán trưởng : Là người điều hành chung phòng kế toán và chịu trách nhiệm về
tình hình công nợ, theo dõi tài sản cố định, kế toán tổng hợp, trưởng phòng còn có
nhiệm vụ tổ chức công tác kế toán cho phù hợp với quy trình công nghệ và tổ chức
sản xuất của chi nhánh đồng thời là người giúp việc trực tiếp cho giám đốc phân tích
hoạt động kinh tế tài chính xây dựng phương án sản xuất.
- Kế toán nguyên vật liệu - công cụ dụng cụ là người trực tiếp theo dõi, tổng hợp
tình hình nhập xuất tồn kho nguyên vật liệu - công cụ dụng cụ phản ánh đầy đủ các
nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong ngày vào sổ chi tiết liên quan.
- Kế toán công nợ mua : Với nhiệm vụ theo dõi về tình hình thanh toán với người
bán, kiêm kế toán thu chi tiền mặt.
- Kế toán công nợ bán : Theo dõi tình hình công nợ phải thu của khách hàng kiêm
kế toán doanh thu và thủ quỹ kiêm kế toán về thuế, tiền lương và bảo hiểm. Mỗi nhân
Trần Quốc Tuấn D37-11.10
Học viện tài chính Chuyên đề cuối khoá
viên kế toán đều có cụ thể công việc nhưng lại có mối quan hệ với nhau trong quá
trình thực hiện hạch toán sản xuất kinh doanh của chi nhánh.
SƠ ĐỒ BỘ MÁY KẾ TOÁN TẠI CHI NHÁNH VISSAN- HÀ NỘI
Ghi chú :
Quan hệ chỉ đạo trực tiếp
Quan hệ tác nghiệp giữa các nhân viên kế toán
gần đây
Chi nhánh là mô hình doanh nghiệp Nhà nước có vai trò lớn mạnh trong nền CN
chế biến thực phẩm ở nước ta, góp phần thúc đẩy ngành thực phẩm nói riêng và ngành
công nghiệp chăn nuôi, trồng trọt của nước ta nói chung đưa đất nước ngày một hoà
nhập với nền kinh tế trong khu vực và thế giới.
Trần Quốc Tuấn D37-11.10
Ngâm miến
mộc nhĩ
Cắt tay
Xay thit Ướp hương
Nhào trộn Cuốn tay Làm lạnh
Ủ bột Trộn bột
Làm tôm Ướp tôm
Nhúng tôm Chiên tôm Đóng hộp
Xay bột Pha bột Nhúng phim Hấp Phơi điện
Học viện tài chính Chuyên đề cuối khoá
Nhìn vào bảng 1 ta thấy rằng sự tăng trưởng của chi nhánh khá ổn định và tăng dần
và thu nhập của cán bộ công nhân viên cũng tăng theo chiều hướng ổn định. Đây là
vấn đề mà ban Giám đốc chi nhánh hết sức quan tâm nhằm nâng cao đời sống của cán
bộ công nhân viên để họ yên tâm làm việc nâng cao tay nghề, gắn bó hơn với chi
nhánh.Tuy nhiên do đặc điểm của ngành nghề chế biến và kinh doanh trong lĩnh vực
thực phẩm nên cần hết sức chú trọng vào biện pháp tích cực nhất nhằm giảm được
lượng hàng tồn kho,và cần chú trọng khâu tiêu thụ sản phẩm để thu hồi vốn nhanh,
tăng vòng quay của vốn lưu động, tăng năng xuất.
Chỉ tiêu Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003
Doanh thu thuần 39849680962 43104964611 46269572434
Lợi nhuận ròng 441694612 605204673 786492046
Nộp ngân sách 561338357 646289613 812356324
Thu nhập bình quân 1000000 1200000 1300000
B ảng 01 . TỔNG HỢP KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 2001-2003
viên : Cán bộ kỹ thuật chiếm 7%, cán bộ có trình độ đại học chiếm 39%, cán bộ có
trình độ cao đảng chiếm 30%, trung cấp chiếm 27%, lao động phổ thông chiếm 4%.
Qua các số liệu trên ta thấy trình độ cán bộ công nhân viên phần lớn là đại học và
cao đẳng vì vậy luôn đảm bảo việc năng động, hiệu quả trong công việc,thúc đẩy chi
nhánh ngày một đi lên.
- Từ khi tách ra thành một chi nhánh riêng, nên chi nhánh tự chủ được trong hoạt
động sản xuất kinh doanh, tự chủ về mặt tài chính, chi nhánh có quyền tự chủ trong
kinh doanh có quyền lựa chọn phương án sản xuất, nhằm tạo ra những sản phẩm
đem lại lợi nhuận cao nhất. Cùng với sự thay đổi chế độ trích nộp khấu hao của nhà
nước, toàn bộ quỹ khấu hao của chi nhánh được giữ lại cho hạot động sản xuất kinh
doanh của mình. Đây là một điều kiện hết sức thuận lợi của chi nhánh giúp chi
nhánh có nguồn vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh đầu tư mua sắm máy móc
thiết bị nâng cao chất lượng lẫn số lượng sản phẩm.
- Trong nền kinh tế thị trường hiện nay nhu cầu về mặt hàng thực phẩm chế biến
sẵn của cả nước nói chung, Hà nội và miền bắc nói riêng là rất lớn.Tạo môi trường
sản xuất kinh doanh sản phẩm cho chi nhánh rất thuận lợi từng bước là những
người bạn thân thiết trong bữa ăn hàng ngày với tất cả mọi người.
Với những thuận lợi trên chi nhánh có thể yên tâm sản xuất kinh doanh đẩy mạnh
tiêu thụ sản phẩm, hạ giá thành sản xuất nhằm tăng thêm lợi nhuận và giữ được uy
tín với khách hàng. Nhưng không phải con đường sản xuất kinh doanh của chi
nhánh đang đi là bằng phẳng, chi nhánh còn có những mặt khó khăn tồn tại làm cản
trở đến sự phát triển đi lên của chi nhánh.
II.1.1.5.Khó khăn tồn tại của chi nhánh
- Là ngành chế biến kinh doanh thực phẩm, sản phẩm của chi nhánh đòi hỏi phải
tuyệt đối đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm một cách tối đa, một số máy móc sản
xuất hiện đại còn một số thiết bị sản xuất sản phẩm của nhà máy còn lạc hậu chưa đổi
Trần Quốc Tuấn D37-11.10
Học viện tài chính Chuyên đề cuối khoá
mới và chưa đồng bộ, làm hạn chế về chất lượng cũng như sản lượng sản phẩm của
chi nhánh.
nhánh được thường xuyên liên tục.
Trần Quốc Tuấn D37-11.10
Học viện tài chính Chuyên đề cuối khoá
II.1.1.6.Vốn và nguồn vốn của doanh nghiệp.
Qua bảng 2 chúng ta có thể đánh giá khái quát tình hình tổ chức vốn sản xuất kinh
doanh và nguồn hình thành vốn của chi nhánh Vissan-Hà nội, như sau :
* Cơ cấu vốn
Năm 2003 tổng số vốn sản xuất kinh doanh của chi nhánh là 11.685.163.895đ tăng
hơn so với năm 2002 bằng 809.078.632đ tương ứng với tỷ lệ tăng 7,44 %. Số vốn này
tăng phản ánh quy mô sản xuất sản phẩm của chi nhánh tăng, trong đó bao gồm VCĐ
bằng : 4.898.215.084đ chiếm 41,92 % trong tổng số vốn kinh doanh, tương ứng với tỷ
lệ tăng VCĐ so với 2002 là 205.840.068đ tăng 4,39 %.
Vốn lưu động của chi nhánh năm 2003 là : 6.786.948.811đ tăng 603.238.564đ
tương ứng với tỷ lệ tăng 9,76 %.
Số vốn chi nhánh được hình thành từ hai nguồn chính sau :
- Nguồn vốn chủ sở hữu : Nguồn vốn chủ sở hữu bằng 4.640.332.475đ tăng
505.204.662đ tương ứng với tỷ lệ tăng 12,22 % ,chiếm 39,71 % trong tổng số vốn
kinh doanh chủ yếu được bổ sung từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, có thể nói
rằng hoật động sản xuất của chi nhánh rất phát triển và rất chú trọng vào việc đầu tư
mở rộng sản xuất kinh doanh. Trong nguồn vốn chủ sở hữu thì nguồn vốn quỹ chiếm
100 % còn nguồn do ngân sách cấp hàng năm không có, tuy là một doanh nghiệp nhà
nước nhưng thể hiện lãnh đạo chi nhánh quyết tâm tự đứng vững trong nền kinh tế thị
trường.
- Nợ phải trả của chi nhánh là 7.044.831.420đ chiếm 60,29 % trong tổng số vốn
kinh doanh của chi nhánh. Trong đó : Nợ ngắn hạn bằng 6.157.210.592đ , Nợ dài hạn
bằng 886.381.375đ , Nợ khác chiếm tỷ lệ nhỏ 1.239453đ, ta thấy rằng nguồn tài trợ
vốn sản xuất kinh doanh của chi nhánh chủ yếu là vốn vay trong đó chủ yếu vay ngắn
hạn và dài hạn, cũng dễ hiểu rằng chi nhánh mới được thành lập chưa tròn mười năm
nên tiềm lúc vốn tự có và vốn chủ sở hữu chưa cao là vậy, chi nhánh chấp nhận chịu
một khoản chi phí phải trả cho sử dụng vốn là rất lớn.