BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - CÔNG NGHỆ TP.HCM
KHOA: QUẢN TRỊ KINH DOANH
----------
BÀI TIỂU LUẬN
Đề tài: 7
SO SÁNH SỰ KHÁC BIỆT VỀ INCOTERMS 2000 VÀ
2010 TRONG HIỆN HÀNH TẠI VIỆT NAM Ở THỜI
ĐIỂM HIỆN TẠI.HÃY NÓI LÊN TÌNH ƯU VIỆT CỦA
INCOTERMS 2010.
SV: Đặng Thiên Thịnh
Vỏ Phước Hiển
Hoàng Văn Liêm
Trần Văn Ánh
Nguyễn Khánh Vương
Nhóm 10.Lớp : C8QQ1
GV: Ths.Phạm Thị Bích Hạnh
1
MỤC LỤC
I.
II.
III.
IV.
CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ INCOTERMS
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
Bộ qui tắc Incoterms này qui định ai có những trách nhiệm gì,ai
thanh toán khoản gì,khi nào thì rủi ro đối với hàng hóa được chuyễn từ người
bán sang người mua,khi nào thì giao hàng ,cũng như những vấn đề như bảo
hiểm ,làm thủ tục thông quan xuất nhập khẩu,và việc phân bổ các chi phí lien
quan tới việc giao hàng
4/Đối với những hợp đồng đã ký trước ngày 1/1/2011?
Đối với những hợp đồng đã ký bộ qui tắc Incoterms 2000 vẩn tiếp
tục được áp dụng (nếu được đưa vào trong hợp đồng) ngay cả khi thực hiệ hợp
đồng diễn ra vào năm 2011hoặc thậm chí sau đó.
Sau ngày 1/1/2011 ,các hợp đồng mới được ký kết ,nếu có dẫn chiếu
đến “INCOTERMS” ,thì có thể được hiểu là INCOTERMS 2010 ,nhưng việc
áp dụng phiên bản 2000 hay 2010 còn phụ thuộc vào các hợp đồng mua
bán .Bất kỳ sự không chắc chắn và tranh chấp có thể xảy ra nào đều phải được
loại trừ bằng cách đưa các điều khoản INCOTERMS 2010 một cách rõ ràng
vào trong hợp đồng mua bán
5/Có thể sử dụng Incoterms 2000 sau ngày 1/1/2011 hay không ?
Có.Incoterms (dù là phiên bản 2000 hay 2010) đều chỉ là các qui tắc
áp dụng trong hợp đồng ,cho nên tùy thuộc vào các bên tham gia hợp đồng
(người bán và người mua) sẽ quyết định sử dụng chúng như thế nào và đưa
chúng một cách rõ ràng vào trong hợp đồng mua bán.Hai bên có thể chọn áp
dụng bất kỳ phiên bản nào họ muốn .
II-LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
Từ khi ra đời đến nay có tất cả 8 Incoterms:
Năm 1936, gồm 7 điều kiện: EXW, FCA, FOR/FOT, FAS, FOB, C&F,CIF.
Năm 1953, phòng thương mại quốc tế sửa đổi bộ Incoterms trên thành 9
điều kiện cơ sở giao hàng.
Năm 1967, bổ sung thêm 2 điều kiện, trong đó gồm: DAF và DDP.
3
Incoterms 2010 là công cụ chủ yêú trong giao dịch quốc tế. Sử dụng Incoterms
2010 tạo điều kiện thuận lợi cho việc thảo các hợp đồng mua bán. Việc sử dụng điều kiện
giao hàng khác nhau thì các vấn đề phân chia về phí, dịch vụ và rủi ro cũng khác nhau
nên các bên trong hợp đồng phải đặc biệt chú ý đến việc quy định sử dụng điều kiện giao
hàng nào cho thich hợp .
III/ LÝ DO RA ĐỜI INCOTERMS 2010
1/ Incoterms 2000 còn tồn tại nhiều điểm yếu:
Sau 2,5 năm nghiên cứu trên 2000 công ty xuất khẩu lớn trên thế giới có
liên hệ chặt chẽ với ICC (International Chamber of Commerce – Phòng thương
mại quốc tế) về sử dụng Incoterms 2000, các chuyên gia rút ra:
+Nhiều điều kiện thương mại Incoterms rất ít áp dụng: DAF, DES, DEQ,
DDU.
+Nhiều điều kiện thương mại không rõ, dễ nhầm lẫn dẫn tới khó lựa chọn;
tranh chấp trong trả các loại phí liên quan đến giao nhận.
2/ Sự kiện khủng bố diễn ra tại Hoa Kỳ 11/9/2001
+ Nghĩa vụ thông tin về hàng hóa
+ Từ 01/07/2012: Tất cả hàng hóa container vận chuyển vào Hoa Kỳ phải
được soi chiếu
Năm 2008, Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua một đạo luật mới quy định
100% container hàng hóa chở vào Hoa Kỳ phải được soi chiếu. Biện pháp an ninh
mới này sẽ là một thách thức rất lớn cả về công việc lẫn tài chính
Từ 01/07/2012, các container chở hàng đến Hoa Kỳ dù là được chuyên chở
trực tiếp hoặc gián tiếp (chuyển tải qua một cảng biển thứ 3) đều phải được soi
5
chiếu trước. Quy định nhằm đảm bảo an ninh dây chuyền logistics toàn cầu này
của Hoa Kỳ sẽ đặt ra cho Hải quan các nước phải trang bị máy soi container tại
-Năng lực và tính minh bạch: khả năng giải quyết bồi thường của công ty
bảo hiểm trong nước.
-Thế mạnh giữa bên mua và bên bán trên bàn đàm phán
-Yêu cầu về điều kiện giao hàng của khách hàng: chẳng hạn sự phân chia
chi phí làm hàng ở cảng như phí THC. Phí THC (Terminal Handing Charge-chi
phí dịch vụ xếp dỡ container) kể từ 1/6/2007 mỗi container chủ hàng phải trả theo
quy định của IADA (Intra Asia Disasion Agreement- hiệp hội thương mại các chủ
tàu châu Á) 60 USD-50 USD/20’ hoặc 90 USD-75 USD/40’. Thực chất THC là
tách chi phí bốc dỡ ra khỏi cước phí vận tải. Nguyên nhân do người thuê tàu
không muốn trả 2 lần phí xếp dỡ container nơi đi và đến nhằm chuyên môn hóa
các nhiệm vụ giao nhận logictics mang tính minh bạch và công khai các chi phí
của hãng tàu.
-Các điều kiện cơ sở giao hàng có tính chất tự nguyện đối với các bên,
nhưng khi dẫn chiếu nó vào trong hợp đồng thì nó có giá trị bắt buộc đối với các
bên.
-Hầu hết các điều kiện cơ sở giao hàng được xây dựng trên nguyên tắc
trách nhiệm tối thiểu của người bán. Do đó khi sử dụng các bên cần bổ sung thêm
trách nhiệm của người bán, miễn là không làm trái bản chất của Incoterms.
-Những điều kiện cơ sở giao hàng hoàn toàn mang tính chất kỹ thuật
thương mại, nhưng việc sử dụng nó lại có tính chất chính trị phụ thuộc vào quan
điểm của người sử dụng, không phải là mục đích của Incoterms.
7
-Áp dụng đối với những hàng hóa hữu hình.
-Chuyển quyền sỡ hữu hàng hóa gắn với chuyển giao rủi ro.
-Incoterms cho thấy cơ cấu giá hàng hóa nhập khẩu.
-Đối với mỗi nghĩa vụ, nếu người bán thực hiện thì người mua không thực
hiện hoặc thực hiện một nghĩa vụ đối ứng.
phần hay cả lô hàng vì không thể ra lệnh cho hãng tàu ngừng giao hàng cho người
mua vì người bán không phải người thuê tàu
4/ Quy tắc giao hàng.
Trong Incoterms 2010, các quy tắc giao hàng cũng được chia làm hai nhóm
so với bốn nhóm trong Incoterm 2000. Nhóm một được áp dụng cho bất kỳ
phương thức vận tải nào, gồm các điều kiện như EXW – giao tại xưởng; FCA –
giao cho người chuyên chở; CPT – cước phí trả tới; CIP – cước phí và phí bảo
hiểm trả tới; DAT – hàng đến đích đã dỡ xuống; DDP – giao hàng đã nộp thuế.
Trong khi đó, nhóm còn lại chủ yếu được áp dụng khi có vận tải biển hay nội thủy
gồm các điều kiện như FAS – giao dọc mạn tàu; FOB – giao lên tàu; CFR – tiền
hàng và cước phí; CIF – tiền hàng, bảo hiểm và cước phí.
Như vậy, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cần lưu ý đến những thay đổi của
Incoterms 2010 so với Incoterms 2000, và lưu ý khi lựa chọn điều khoản giao nhận để
phòng tránh rủi ro, tránh phát sinh chi phí khi thực hiện giao dịch trong Thương mại quốc
tế.
V/ SO SÁNH INCOTERMS 2000 VÀ INCOTERMS 2010.
1/ Điểm giống nhau của Incoterms 2000 và Incoterms 2010.
9
-
Có 07 điều kiện thương mại: EXW, FAS, FOB, CFR, CIF, CPT, CIP
- Khuyến cáo áp dụng phương tiện thủy đối với các điều kiện: FAS, FOB, CFR,
CIF
- Áp dụng với các loại phương tiện vận tải và vận tải đa phương thức đối với các
điều kiện: CPT, CIP, DDP
- Cả Incoterms 2000 và Incoterms 2010 đều không phải là luật. Các bên có thể áp
dụng hoàn toàn, hoặc có thể áp dụng một phần, nhưng khi áp dụng ghi rõ trong
Cách thức phân nhóm
Theo chi phí vận tải và
Theo hình thức vận tải:
địa điểm chuyển rủi ro thủy và các loại phương
tiện vận tải
4
Nghĩa vụ liên quan đến đảm bảo an
Không quy định
ninh hàng hóa
5
Khuyến cáo nơi áp dụng Incoterms
Có qui định A2/B2;
A10/B10
Thương mại quốc tế
Thương mại quốc tế và
nội địa; sử dụng trong
các khu ngoại quan
6
Không
Có
DAP
9
Nơi chuyển rủi ro của điều kiện FOB,
CFR, CIF
10
Quy định phân chia chi phí khi kinh
doanh theo chuỗi (bán hàng trong
quy trình vận chuyển)
VI/ MỘT SỐ THAY ĐỔI CHÍNH CỦA INCOTERMS 2000 SO VỚI
INCOTERMS 2010.
1/ Thay đổi về số nhóm và các điều điện về giao hàng.
● Incoterm 2000 gồm 4 nhóm E,F,C,D với 13 điều kiện cơ sở giao hàng:
E: EXW
F: FAS, FOB, FCA
C: CFR, CPT, CIF, CIP
D: DES, DEQ, DAF, DDU, DDP
● Incoterm 2010 có 2 nhóm điều kiện:
Nhóm 1: Áp dụng cho mọi phương thức vận tải: EXW, FCA, CPT, CIP, DAT, DAP,DDP
Nhóm 2: áp dụng cho vận tải đường thủy: FAS, FOB, CFR,CIF.
Nhóm thứ nhất gồm bảy điều kiện có thể sử dụng mà không phụ thuộc vào
phương thức vận tải lựa chọn và cũng không phụ thuộc vào việc sử dụng một hay
11
thực tế thời gian vừa qua có nhiều trường hợp tại nơi đến người mua bị buộc phải
trả khoản phí THC này tại nơi đến. Như vậy người mua đã phải thanh toán tiền hai
lần cho một khoản phí. Chính vì vậy người mua hiện nay rất quan tâm đến các
thỏa thuận giữa người bán và người chuyên chở. Do đó trong Incoterms 2010 đã
làm rõ hơn về trách nhiệm trả các khoản phí này, Incoterms 2010 quy định người
bán phải thông báo cho người mua về những khoản phí nào đã bao gồm trong
cước phí chuyên chở khi thỏa thuận với người chuyên chở. Nếu trong trường hợp
theo thông lệ cước phí đã bao gồm phí THC tại nơi đến, người bán không có
quyền tính thêm khoản phí này cho người mua nữa.
3/ Liên quan đến an ninh hàng hóa.
Hiện nay sau sự kiện 11/9 tại Mỹ, vấn đề an ninh hàng hóa và phương tiện
vận tải được đặt lên hàng đầu. Nhiều quốc gia hiện nay gia tăng kiểm tra an ninh
về hàng hóa, phương tiện vận tải, các nước quy định các bên có liên quan đến
hàng hóa phải có nghĩa vụ cung cấp các thông tin cần thiết về an ninh hàng hóa để
được phép xuất khẩu, nhập khẩu. Như vậy có sự khác biệt giữa “các thủ tục hải
quan” và “các chức năng liên quan đến an ninh”. Một số quốc gia có sự phân biệt
về luật giữa hai hoạt động này. Tuy nhiên trong các phiên bản Incoterms trước đây
không đề cập rõ ràng về trách nhiệm và sự phối hợp giữa người mua và người bán
liên quan đến việc cung cấp thông tin liên quan đến hàng hóa. Do đó, Incoterms
2010 quy định cả hai bên (người mua và người bán) có nghĩa vụ phải cung cấp các
thông tin về hàng hóa cho các bên thứ ba có liên quan nếu họ yêu cầu để có thể
thông quan về mặt an ninh cho lô hàng.
4/ Bảo hiểm.
Bảo hiểm chỉ liên quan đến điều khoản CIP và CIF, theo đó người bán phải
mua bảo hiểm cho người mua. Theo Incoterms 2000, người bán chỉ phải tuân thủ
theo đúng nghĩa vụ được quy định trong Incoterms mà không tính đến sự thay đổi
của bộ điều khoản bảo hiểm mới ra đời sau khi Incoterms 2000 được ban hành. Do
13
tải( EXW,FCA,CPT,CIP,DAT,DAP,DDP) điều này giúp cho các doanh nghiệp dễ dàng
hơn khi lựa chọn Incoterms phù hợp với loại phương tiện vận tải sử dụng;
Incoterms 2010 cũng đưa ra những chỉ dẫn và khuyến cáo khi sử dụng các chứng
từ điện tử khi giao dịch giao nhận hàng hóa; Chỉ dẫn rõ ràng nghĩa vụ của các Bên có liên
quan đến thủ tục và thuế thông quan xuất khẩu, nhập khẩu. Chi phí có liên quan đến giao
nhận ngoại thương.
Incoterms 2010 cũng hướng dẫn sử dụng các Incoterms trong kinh doanh thương
mại nội địa .
Thuận lợi trong đàm phán hợp đồng: thực tế các doanh nghiệp hoạt động trong
lĩnh vực xuất nhập khẩu ngày càng phát triển , mở rộng hơn quy mô và tầm vóc cho nên
càng nảy sinh nhiều vấn đề vướng mắc , tranh chấp trong hợp đồng kinh doanh xuất nhập
khẩu .Hiện các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam mới chỉ biết và áp dụng năm
Incoterms 2000, trong khi đó Incoterms 2010 đã có hiệu lực 2011. Việc am hiểu và thực
hiện hiệu quả các điều khoản thương mại quốc tế Incoterms 2010 của ICC sẽ thuận lợi
hơn nhiều cho các doanh nghiệp .Trước tiên , khi Incoterms 2010 bắt đầu có hiệu lực thì
các doanh nghiệp đối tác doanh nghiệp Việt Nam sẽ áp dụng bộ quy tắc này.Bộ nguyên
tắc mới này đã sửa đổi và cập nhật những quy tắc trong thương mại quốc tế và trở thành
những kỹ năng cần thiết không thể thiếu của các nhà xuất , nhập khẩu , người làm thương
mại, giao nhận vận tải , bộ phận tín dụng thu hồi nợ trong các ngân hàng , các chuyên gia
tài chính và luật sư.
Đảm bào quyền lợi cho cả bên xuất khẩu và bên nhập khẩu : Incoterms 2010 chỉ
được áp dụng khi nó trở thành một điều khoản trong các hợp đồng thương mại. Tuy nhiên
vì Incotrems 2010 là sự chọn lọc qua hơn 70 năm từ những chuyên gia hàng đầu về
thương mại quốc tế soạn thảo . Do đó ,hầu hết các hợp đồng thương mại lớn của các quốc
gia phát triển đều sẽ áp dụng Incoterms 2010. Đây là bộ quy tắc chuẩn hay nói cách khác
là bên bán và bên mua.Công đoạn đàm phán hợp đồng thương mại của các doanh nghiệp
sẽ được đơn giản hóa hơn khi sử dụng Incoterms 2010 là điều khoản trong hợp đồng.
15