trờng Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 3B-2008 5
Cấu trúc nghĩa của các phát ngôn tục ngữ nói
về các quan hệ trong gia đình ngời Việt
Mai Thị Hồng Hà
(a)Tóm tắt. Bài báo đề cập đến cấu trúc nghĩa của các phát ngôn tục ngữ nói về hai
mối quan hệ trong gia đình ngời Việt quan hệ tơng đồng và quan hệ đối lập. Cấu
trúc tơng đồng luôn có hai vế A và B cân đối hài hoà, hai vế đợc liên kết với nhau
nhờ các từ cùng trờng nghĩa. Cấu trúc đối lập đợc thiết lập bằng mối quan hệ giữa
hai vế A và B dựa trên các từ trái nghĩa.
1. Về cấu trúc của tục ngữ Việt
Nam
Tục ngữ là một bộ phận quan trọng
của folklore, đợc nhân dân sáng tạo
lu truyền và phổ biến sâu rộng. Nó đã
trải qua nhiều thời kì lịch sử và đã đợc
nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau, nh
từ, cụm từ, câu [xem TLTK 2, 3, 4]
hoặc dới những góc nhìn khác nhau
nh: thi pháp, văn hoá, văn học dân
gian, ngôn ngữ [xem 5, 6, 7]. Tục ngữ
cứu ngữ pháp đề xuất cách phân loại
các kiểu câu tiếng Việt dựa vào cấu
trúc, cụ thể là quan hệ cú pháp của câu.
Cho nên tác giả cũng dựa vào các quan
hệ giữa phần nêu và phần báo bởi vì
mọi tổ chức câu đều lấy quan hệ cú
pháp làm nòng cốt. Ông còn cho rằng:
Đối với tục ngữ không chỉ phân tích cú
pháp đơn thuần mà còn gắn với cơ cấu
nghĩa của chúng, cơ cấu đó không chỉ
đóng khung ở bề mặt mà phải lệ thuộc
vào kết cấu nghĩa bề sâu. Vì thế sự
phân tích nghĩa bề mặt không đủ cho sự
phân loại và sự phân loại khuôn hình
tục ngữ không dừng lại ở hình thức mà
phải xuất phát từ nội dung [8, tr.73].
ở
đây, Nguyễn Thái Hoà cũng đã chọn mô
hình tam giác của V. V Bogdanov. Mô
hình đó nh sau:
Nhận bài ngày 08/9/2008. Sửa chữa xong 20/9/2008.
Mai Thị Hồng Hà Cấu trúc nghĩa của các phát ngôn tục ngữ ,TR. 5-14
Ngoại hình Hàm ngôn
(Tiền giả định)
Hình 2
Nh vậy, chính nhờ cấu trúc chặt chẽ đó mà tục ngữ đợc cô đúc trong một số khuôn
hình nhất định. Những khuôn hình bền vững ấy có tính cố định. Song các mô hình của tục
ngữ không phải khi nào cũng nhất thành bất biến mà từ những khuôn hình làm sẵn ấy,
tục ngữ đợc ngời dùng tái sinh và tái hiện một cách đầy sáng tạo. Do đó, chúng tôi không
có tham vọng mô tả hết tất cả các kiểu cấu trúc của tục ngữ mà chỉ đi sâu vào tìm hiểu một
số cấu trúc nói về mối quan hệ trong gia đình ngời Việt.
2. Cấu trúc của các phát ngôn tục ngữ nói về các mối quan hệ trong gia
đình ngời Việt
Qua khảo sát hai tập Kho tàng tục ngữ ngời Việt ( tập I, II) của các tác giả: Nguyễn
Xuân Kính (chủ biên), Nguyễn Thuý Loan, Phan Lan Hơng, Nguyễn Lân [6], chúng tôi
đã thống kê đợc 1443 phát ngôn tục ngữ nói về bốn mối quan hệ chính trong gia đình
ngời Việt đó là: quan hệ vợ- chồng; quan hệ giữa cha mẹ và con; quan hệ giữa dâu rể với
gia đình; quan hệ giữa anh chị em ruột. Cụ thể trong bảng thống kê sau:
trờng Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 3B-2008 7
Bảng 1: Những mối quan hệ chính trong gia đình ngời Việt qua tục ngữ STT
Những phát ngôn tục ngữ phản ánh các mối quan hệ trong gia đình có những
đặc điểm sau:
- Có xuất hiện cặp từ: vợ- chồng; cha (mẹ)- con; dâu- rể; anh (chị)- em.
- Có cấu trúc gồm hai vế: A, B
- Giữa hai vế A, B có quan hệ ngữ nghĩa- ngữ pháp (tơng đồng, đối lập, so sánh,
kéo theo).
- Cả phát ngôn mang nghĩa khái quát: phản ánh một kiểu quan hệ nhất định.
Sau đây, do dung lợng của bài báo, chúng tôi chỉ bàn đến hai dạng cấu trúc
nói về mối quan hệ trong gia đình ngời Việt, đó là quan hệ tơng đồng và cấu trúc
đối lập.
2.1. Cấu trúc tơng đồng của các phát ngôn tục ngữ nói về mối quan hệ trong gia
đình
2.1.1. Cấu trúc tơng đồng
Trớc hết, chúng ta cần phân biệt các khái niệm: cấu trúc, tơng đồng và cấu
trúc tơng đồng. Theo Từ điển tiếng Việt : Cấu trúc (danh từ) là tổng hoà các mối
quan hệ bên trong của một chỉnh thể, một hệ thống: Cấu trúc câu. Cấu trúc của hệ
thống điện. Cũng theo Từ điển tiếng Việt: tơng đồng là giống nhau (bên cạnh
những cái khác nhau): ý kiến tơng đồng. Những nét tơng đồng. Những đặc điểm
tơng đồng [8, tr.1044]. Còn danh ngữ cấu trúc tơng đồng trong câu đợc hiểu là
Mai Thị Hồng Hà Cấu trúc nghĩa của các phát ngôn tục ngữ ,TR. 5-14 8
mối quan hệ giữa hai vế trong một câu đợc xây dựng theo một mô hình nhất định
hoặc theo một mối quan hệ nhất định (nhng không phải là quan hệ đối lập).
Cấu trúc tơng đồng trong tục ngữ nói về mối quan hệ trong gia đình ngời Việt
là những cấu trúc thể hiện mối quan hệ tơng đồng giữa hai vế A và B, trong đó vế A
trong trờng liên tởng chung với hai đặc điểm nghĩa: 1/ không theo quy luật , 2/
hậu quả xấu. Từ đó ngời nghe suy ra điều mà ngời nói muốn nói: làm trái với quy
luật tự nhiên sẽ dẫn đến hậu quả không tốt.
2.1.2. Các tiểu nhóm cấu trúc tơng đồng về mối quan hệ trong gia đình ngời
Việt
Để đi vào tìm hiểu cấu trúc tơng đồng nói về mối quan hệ trong gia đình ngời
Việt, chúng tôi đã phân thành một số nhóm cấu trúc tơng đồng đợc thể hiện bằng
mối quan hệ giữa hai vế A và B, cụ thể qua bảng sau:
trờng Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 3B-2008 9
STT Các tiểu nhóm cấu trúc tơng đồng Tổng số câu Tỷ lệ
1 Tơng đồng về nhận thức tất yếu 148 48,7%
2 Tơng đồng về kinh nghiệm ứng xử 97 31,9%
3 Tơng đồng về tính nết của con ngời
trong gia đình
21 6,9%
4 Tơng đồng về phong tục tập quán 38 12,5%
Sau đây, chúng tôi đi vào phân tích từng nhóm cụ thể.
a. Cả hai vế A và B đều thể hiện tính tơng đồng về nhận thức tất yếu trong cuộc
sống gia đình
Ta có phát ngôn: Có chồng chẳng đợc đi đâu, có con chẳng đợc đứng lâu một
giờ (C1713) thì vế thứ nhất và vế thứ hai đều nói về sự ràng buộc của cuộc sống gia
đình đối với ngời phụ nữ. Mặc dù không ai định ra điều này thành quy tắc bằng
Mai Thị Hồng Hà Cấu trúc nghĩa của các phát ngôn tục ngữ ,TR. 5-14 10
Ta có phát ngôn: Dạy con dạy thuở còn thơ, dạy vợ dạy thuở ban sơ mới về (D65)
thì giữa hai vế đều đề cập đến cách dạy một ai đó trong gia đình thì cần dạy vào thời
điểm nào cho thích hợp. Dạy con: nên dạy từ lúc còn bé, dạy vợ: nên dạy từ lúc mới
lấy về. Hay phát ngôn tục ngữ: Mài gơm dạy vợ, giết chó khuyên chồng (M57) thì
giữa hai vế A và B của câu tục ngữ này đều đề cập đến cách thức dạy bảo hay
khuyên nhủ ai đó ên làm nh thế nào là cách tốt nhất. Cũng tơng tự, phát ngôn:
Cơm sôi bớt lửa, chồng giận bớt lời (C2522) thì ở vế thứ nhất nói về sự việc khi cơm
sôi thì nên bớt lửa, cơm mới ngon, không bị khê còn ở vế thứ hai nói về việc chồng
giận thì vợ nên bớt lời để đợc hoà thuận. Nh vậy cả hai vế đề cập đến cách thức
nên làm nh thế nào để cho sự việc không xấu đi. Trong phát ngôn tục ngữ: Làm rể
chớ nấu thịt trâu, làm dâu chớ đồ xôi lại (L187) thì giữa hai vế A và B của phát ngôn
tục ngữ này đều nói về những lời khuyên cho những ngời con dâu, con rể nên làm gì
để tránh những điều không tốt, không hay sẽ xảy ra trong mối quan hệ với gia đình.
Nhìn chung những phát ngôn tục ngữ thuộc nhóm cấu trúc này đều hớng đến
mục đích gián tiếp là một lời khuyên về kinh nghiệm ứng xử trong cuộc sống gia
đình. Chúng có dấu hiệu để nhận diện là giữa hai vế A và B có thể thêm các từ: thì
nên, chớ, cần, cần phải làm gì
c. Cả hai vế A và B đều thể hiện những đặc tính gần nhau của mỗi ngời trong
gia đình
Đặc tính của con ngời đợc tục ngữ thể hiện bằng những phát ngôn có cấu trúc
tơng đồng giữa hai vế A và B nh là sự tơng hợp về một mặt nào đó trong cuộc
sống giữa các thành viên trong gia đình ngời Việt. Chẳng hạn phát ngôn: Cha anh
hùng, con hảo hán (C479) nói lên cha và con đều là những ngời có khí phách anh
hùng. Còn trái lại, phát ngôn: Cha đào ngạch, con xách nồi (C497) nói về cả hai cha
với nhau tạo nên một chỉnh thể thống nhất, mang ý nghĩa miêu tả các biểu hiện của
con ngời cũng nh những quan điểm, nhận thức của con ngời trong gia đình ngời
Việt.
2.2. Cấu trúc đối lập của các phát ngôn nói về nói về mối quan hệ trong gia đình
ngời Việt
2.2.1. Cấu trúc đối lập
Sau khi tiến hành khảo sát, chúng tôi đã phân thành một số nhóm cấu trúc đối
lập, chủ yếu là đối lập ở phần Đề và phần Thuyết, cụ thể qua bảng sau :
STT
Một số nhóm cấu trúc đối lập Tổng số câu Tỷ lệ(%)
1 Dựa trên sự đối lập ở phần Đề 62 26,7%
2 Dựa trên sự đối lập ở phầnThuyết 73 31,6%
3 Dựa trên sự đối lập ở cả hai phần Đề
và phần Thuyết
97 41,7%
Từ bảng trên, chúng tôi nhận thấy, sự đối lập dựa trên cả hai phần Đề và phần
Thuyết có số lợng nhiều nhất, tỉ lệ 41, 7%, tiếp đó là sự đối lập dựa trên phần
Thuyết, tỉ lệ là 31, 6% và thứ ba là đối lập dựa trên phần Đề, tỉ lệ là 26,7%. Sau đây,
chúng tôi đi vào phân tích và mô tả từng nhóm:
a. Cấu trúc đối lập dựa trên sự đối lập ở phần Đề
Ta có các phát ngôn tục ngữ :
Con tài lo láo lo kiêu (A), con ngu thì lại lo sao kịp ngời (B) (C2286)
Đ T Đ T
Đối lập ở phần Đề : Con tài/ con ngu
Giàu bán chó (A), khó bán con (B) (G428)
Đ T Đ T
Đối lập ở phần Đề : Giàu/ khó
Vế A : Mẹ ngoảnh đi con dại
Đ T
Vế B : Mẹ ngoảnh lại con khôn
Đ T
ở phần Đề có sự đối lập : Mẹ ngoảnh đi/ mẹ ngoảnh lại và ở phần Thuyết cũng
có sự đối lập : con dại/ con khôn
Vậy đây là một lối nói hàm ngôn tạo ra ý nghĩa trái ngợc nhau. Nếu cha mẹ
không quan tâm, để ý dạy bảo con cái thì con cái sẽ không biết cách đối nhân xử thế
(con dại). Còn nếu cha mẹ quan tâm, dạy dỗ, chỉ bảo cho con thì con sẽ nên ngời
(con khôn)
Thơng con cho roi cho vọt (A), ghét con cho ngọt cho bùi (B) (T1015)
Đ T Đ T
ở phần Đề có sự đối: Thơng con/ ghét con và ở phần Thuyết cũng có sự đối lập:
cho roi cho vọt/ cho ngọt cho bùi. Sự đối lập ở hai vế A và B của phát ngôn tục ngữ
này muốn thể hiện cách thức đối xử của những ngời làm cha, làm mẹ đối với con
của mình.
Bố mẹ giàu con có (A), bố mẹ khó con không (B) (B585)
Đ T Đ T
Sự đối lập ở phần Đề : Bố mẹ giàu/ bố mẹ khó và sự đối lập ở phần Thuyết : con
có/ con không
2.2.2. Các tiểu nhóm cấu trúc đối lập của các phát ngôn nói về mối quan hệ trong
gia đình ngời Việt
Trong hai phần Đề và Thuyết lại có chung những nhóm đối lập dựa trên mặt
nghĩa:
a. Cấu trúc đối lập dựa trên trờng nghĩa tồn tại- không tồn tại
Những phát ngôn tục ngữ thuộc nhóm này gồm hai vế A và B đợc xây dựng dựa
trên sự có tồn tại và không tồn tại sự việc, hiện tợng hay một biểu hiện nào đó của
các thành viên trong gia đình để nói lên một chân lý có tính khái quát mang đặc thù
của ngời Việt :
Có cha nhờ cha (A), không cha nhờ chú (B) (C1700)
quan hệ cha- con và quan hệ mẹ- con, ta thấy có nhiều điểm giống nhau nhng cũng
có những điểm khác nhau nh sau:
Về trách nhiệm nuôi dạy con, vai trò của ngời mẹ đợc nhấn mạnh hơn, thể
hiện số phát ngôn tục ngữ nói về trách nhiệm của mẹ khi con h nhiều gấp 3 lần số
phát ngôn tơng tự đối với ngời cha. Về nội dung cụ thể, tục ngữ cũng đề cập đến
trách nhiệm của ngời mẹ ở nhiều khía cạnh hơn (con h tại mẹ, mẹ ngoảnh đi con
dại, con dại cái mang) còn đối với ngời cha, tục ngữ không quy trách nhiệm, mà chỉ
tìm ra nguyên nhân (con h là do cha). Điều này cho thấy, trong việc dạy con, ngời
cha chỉ cầm cơng, còn ngời mẹ thì có trách nhiệm chỉ bảo chi tiết cụ thể cho con.
Về ảnh hởng, sự chi phối, tục ngữ khẳng định con cái đều phải dựa vào cha mẹ, phụ
thuộc vào cha mẹ.
3.2. Những biểu hiện tiêu cực trong quan hệ giữa cha mẹ và con
Bên cạnh mặt tích cực, tục ngữ còn đề cập đến những yếu tố tiêu cực đã chi phối
quan hệ cha mẹ và con, trong đó sự bất hiếu của con đối với cha mẹ thể hiện khá phổ
biến, trên khá nhiều phơng diện- từ ăn uống, vui chơi con giành phần hơn, để việc
nặng nhọc cho cha mẹ, tới việc thiếu trách nhiệm phụng dỡng cha mẹ khi cha mẹ
về già, thậm chí còn ngăn cản việc đi bớc nữa tìm hạnh phúc của mẹ goá. Ngoài ra
tục ngữ cũng phê phán tính cục bộ do quan hệ mật thiết giữa cha mẹ và con cái. Từ
quan hệ máu thịt dễ nảy sinh t tởng cục bộ, dẫn đến kìm hãm sự phát triển. Đây
là phát hiện quan trọng của tục ngữ, chứng tỏ từ xa, ngời Việt đã nhìn ra sự hạn
chế của lối quan hệ khép kín, thiếu cởi mở của kiểu gia đình tiểu nông và mong
muốn có sự mở rộng quan hệ ra ngoài xã hội, khách quan hơn, tạo điều kiện cho sự
phát triển xã hội.
Mai Thị Hồng Hà Cấu trúc nghĩa của các phát ngôn tục ngữ ,TR. 5-14 14
Summary
Semantic structure of proverb-utterances saying about
relations in Vietnamese family
This article deeply studies Semantic structure of proverb-utterances saying
about relations in Vietnamese family: equivalent relations and opposite relations.
The equivalent relations usualy have two proporsional phrases A and B. They are
connected together by words, which belongs to one semantic field. The opposite
strutures are established by two phrases A and B, which belong to antonyms.
(a)
Cao học 14 - Lý luận Ngôn ngữ, Trờng Đại học Vinh.