Tiểu luận triết học: Nguyên tắc năng động và sự vận dụng trong hoạt động nhận thức, thực tiễn - Pdf 31

VIN O TO SAU I HC
Trờng đại học kinh tế quốc dân hà nội

------------

Thảo luận nhóm
môn triết học
đề tài:
Nguyên tắc năng động
và sự vận dụng vào hoạt động nhận thức và thực tiễn
Giảng viên
Lớp
Nhóm thực hiện

: TS. LÊ thị hồng

: ch 18 g
: Nhóm 6

Hà Nội, 01/2010


THẢO LUẬN NHÓM MÔN TRIẾT HỌC

Nguyên tắc năng động chủ quan

Báo cáo tư vấn
và vận dụng trong thực tiễn

LỜI MỞ ĐẦU
Trong chủ nghĩa duy vật biện chứng, ý thức là phạm trù cùng cặp với phạm

thực theo nhu cầu thực tiễn của xã hội.
Trong phạm vi bài thảo luận này, nhóm 6 trình bày về “Nguyên tắc năng
động và sự vận dụng trong hoạt động nhận thức, thực tiễn” với hai nội dung:
I. NGUYÊN TẮC NĂNG ĐỘNG CHỦ QUAN
II. VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC NĂNG ĐỘNG CHỦ QUAN VÀO
THỰC TIỄN VIỆT NAM
Nhóm 6 rất mong được Cô giáo và các thành viên trong lớp góp ý để nội
dung thảo luận được đầy đủ hơn.

Nhóm 6 – Lớp CH18G

Trang 1


THẢO LUẬN NHÓM MÔN TRIẾT HỌC

Nguyên tắc năng động chủ quan

Báo cáo tư vấn
và vận dụng trong thực tiễn

Nhóm 6 trân trọng cảm ơn Cô giáo và các bạn!
NỘI DUNG
I. NGUYÊN TẮC NĂNG ĐỘNG CHỦ QUAN
1. Khái niệm và vai trò của nguyên tắc năng động chủ quan
Trong quá trình tiến hóa của loài người, ý thức phát triển song song với khả
năng giao tiếp, ngôn ngữ. Tuy nhiên, bản chất của ý thức là gì thì đến nay vẫn là
vấn đề tồn tại cần làm sáng tỏ. Đó là tùy theo cách nhận thức vấn đề của mỗi
trường phái duy vật hay duy tâm. Nhưng từ lâu, dù thuộc trường phái nào người
ta cũng tin rằng, ý thức – cảm xúc có sức mạnh vật chất to lớn.


Nhóm 6 – Lớp CH18G

Trang 2


THẢO LUẬN NHÓM MÔN TRIẾT HỌC

Nguyên tắc năng động chủ quan

Báo cáo tư vấn
và vận dụng trong thực tiễn

mà còn do nó phản ánh những quan hệ xã hội và sáng tạo ra những sản phẩm tinh
thần theo nhu cầu, quy luật xã hội cho phép.
Ý thức là sự phản ánh năng động sáng tạo thế giới khách quan vào trong
bộ óc người thông qua lao động, ngôn ngữ và diễn ra trong các quan hệ xã hội. Ý
thức là sản phẩm của sự phát triển xã hội, phụ thuộc vào xã hội và mang tính chất
xã hội. Phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức cũng có nghĩa là phát huy
vai trò nhân tố con người, phát huy vai trò của nhân tố chủ quan - tri thức, tình
cảm, ý chí, lý trí,…trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cải tạo hiện thực
khách quan, vươn lên làm chủ thế giới.
Dù sáng tạo là một mặt rất cơ bản của bản chất ý thức, nhưng tự bản thân
mình, ý thức không thể sáng tạo ra vật chất. Bởi vì, sáng tạo của ý thức chỉ là
sáng tạo theo quy luật và trong khuôn khổ của sự phản ánh, sáng tạo ra các khách
thể tinh thần.
Sự tồn tại và phát triển của con người không thể tách rời thế giới khách
quan. Song, thế giới khách quan lại không thể luôn thích ứng với nhu cầu sinh
tồn và phát triển của con người. Vì vậy, nhằm làm cho thế giới khách quan thích
ứng với nhu cầu tồn tại và phát triển của mình, con người nhất thiết phải phát huy

THẢO LUẬN NHÓM MÔN TRIẾT HỌC

Nguyên tắc năng động chủ quan

Báo cáo tư vấn
và vận dụng trong thực tiễn

phát huy tính năng động thực tiễn của con người trực tiếp quyết định thành tựu
lớn hay nhỏ của hoạt động thực tiễn con người. Xây dựng xã hội xã hội chủ
nghĩa là sự nghiệp của hàng triệu con người. Trong bối cảnh Việt Nam đang xây
dựng và hiện đại hóa chủ nghĩa xã hội, việc huy động tối đa sự nỗ lực tự giác,
tính tích cực hoạt động thực tiễn của quảng đại quần chúng nhân dân, phát huy
tính năng động thực tiễn của mọi tầng lớp trong xã hội chính là sự đảm bảo cơ
bản cho việc thực hiện mục tiêu to lớn đó.
Trong phạm vi điều kiện khách quan cho phép, việc phát huy tính năng
động, đối với bất cứ sự thành công nào, đều đóng vai trò rất lớn. Để phát huy tính
năng động, nhất thiết phải dựa vào những điều kiện vật chất và các biện pháp vật
chất nhất định. Không có cơ sở hiện thực, thì bất luận có phát huy tính năng động
thực tiễn đến thế nào, cũng không thể tạo ra bất cứ thứ vật chất nào. Ngay cả khi
đã có những tiền đề vật chất cần thiết cho sự cải tạo, cũng vẫn phải dựa vào điều
kiện vật chất nhất định, lợi dụng các phương pháp kỹ thuật vật chất nhất định,
như công cụ, cơ khí, v.v. mới có thể chuyển hoá sự vật trong quan niệm thành sự
vật vật chất trong hiện thực.
2. Quan hệ giữa tính khách quan và tính năng động của thực tiễn
Tính khách quan và tính năng động thống nhất biện chứng với nhau. Tôn
trọng khách quan là tiền đề của tính năng động chủ quan, chủ thể phải biết lấy
hiện thực khách quan (thực tế) chứ không phải lấy ý muốn, tình cảm chủ quan
làm căn cứ cho mọi hoạt động cải tạo thế giới của mình. Còn trong mọi hoạt
động cải tạo thế giới của mình cần biết phát huy tính năng động sáng tạo của hiện
thực chủ quan (ý thức). Đồng thời, chủ thể thực tiễn lại là người cải tạo tự nhiên,

và vận dụng trong thực tiễn

thực tiễn đòi hỏi phải phòng, chống và khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí;
Muốn vậy, chúng ta cần tìm hiểu về khái niệm chủ quan duy ý chí, nguyên nhân
và biện pháp phòng, chống.
Chủ nghĩa chủ quan là khuynh hướng nhìn nhận, đánh giá, xét đoán về
người, sự việc hay sự vật xuất phát từ quan điểm của một người hay một số
người, đi ngược lại hoặc không tính đến thực tế khách quan. Chủ nghĩa chủ quan
coi tính tích cực của chủ thể là quyết định tất cả, không lấy thực tiễn làm xuất
phát điểm, làm cơ sở và tiêu chuẩn của nhận thức. Trong hoạt động thực tiễn, chủ
nghĩa chủ quan xem nhẹ điều tra nghiên cứu để nắm vững tình hình thực tế,
thường xuất phát từ ý kiến chủ quan của cá nhân, từ những định kiến, những
nhận định, những sự đánh giá đã có sẵn. Do đó, những kết luận của nó thường có
tính chất võ đoán, ý chí luận. Cơ sở nhận thức luận của chủ nghĩa chủ quan là
tuyệt đối hoá tính độc lập, vai trò tích cực của chủ thể trong các lĩnh vực hoạt
động khác nhau.
Thuyết duy ý chí là quan điểm duy tâm thừa nhận khởi nguyên của mọi tồn
tại và phát triển không phải là quy luật khách quan mà là ý chí. Có hai loại thuyết
duy ý chí: loại mang hình thức của chủ nghĩa duy tâm khách quan mà đại diện tiêu
biểu là Sôpenhaoơ (A. Shopenhauer) và Hacman (E. Hartmann), cho rằng khởi
nguyên của mọi tồn tại và phát triển là "ý chí thế giới"; loại mang hình thức của
chủ nghĩa duy tâm chủ quan mà đại diện tiêu biểu là Stiêcnơ (J. K. S. Stirner) và
Nitsơ (F. Nietzsche) cho rằng khởi nguyên đó là ý chí chủ quan của chủ thể. Trong
hoạt động thực tiễn chính trị - xã hội, thuyết duy ý chí thể hiện ở việc xem thường
hoặc phủ nhận quy luật khách quan của xã hội, cường điệu vai trò ý chí của cá
nhân, của lãnh tụ trong sự phát triển của lịch sử, do đó mà dẫn tới chủ nghĩa phiêu
lưu mạo hiểm hoặc độc tài cá nhân.
Bệnh chủ quan duy ý chí có nguồn gốc từ nhận thức là do sự yếu kém về
trình độ nhận thức, về tri thức khoa học nói chung và sự hạn chế trong quá trình
áp dụng tri thức lý luận vào thực tiễn nói riêng, không đáp ứng được đòi hỏi của

đó có một số biểu hiện cơ bản của nó là: tôn trọng tri thức khoa học; Phải làm
chủ tri thức khoa học và truyền bá tri thức khoa học vào quần chúng nhân dân để
nó trở thành tri thức, niềm tin định hướng cho quần chúng nhân dân hành động.
1. Phải tôn trọng tri thức khoa học
Tri thức khoa học là tri thức chân thực về thế giới, được khái quát từ thực
tiễn và được thực tiễn kiểm nghiệm. Tri thức khoa học giữ vai trò đặc biệt trong
cuộc sống của con người vì nó là động lực phát triển của xã hội. Mọi bước tiến
trong lịch sử nhân loại dều gắn liền với những thành tựu mới của tri thức khoa
học.
Tôn trọng tri thức khoa học không chỉ chống sự tuyệt đối hóa vai trò của
kinh nghiệm, xem thường khoa học mà còn là không tuyệt đối hóa một loại khoa
học nào trong hệ thống các khoa học.
Từ đầu thế kỷ XX đến nay, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật là một
bước nhảy vọt trong lực lượng sản xuất. Thực chất của cuộc cách mạng đó là ở
chỗ nó mở ra kỷ nguyên mới của sản xuất tự động hóa với việc phát triển ứng
dụng điều khiền học và vô tuyến điện tử. Khoa học là điểm xuất phát chi những
biến đổi to lớn trong kỹ thuật sản xuấ, tạo ra những ngành mới như chế tạo vật
liệu mới, khai thác nguồn năng lượng mới…
Đặc điểm chung đòi hỏi thay đổi mối quan hệ giữa khoa học và thực tiễn,
mà trong đó tri thức khoa học được vật chất hóa kết tinh vào mọi yếu tố của lực
lượng sản xuất. Cho nên ngày nay, khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực
tiếp.
Trong thời ký quá độ lên XHCN của nước ta hiện nay, đường lối đúng đắn
của Đảng và nhà nước ta có khả năng đảm bảo kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá
nhân và lợi ích tập thể, giải quyết kịp thời những mâu thuẫn của nhân dân, tạo
điều kiện thuận lợi cho mỗi cá nhân phát triển toàn diện. Bên cạnh đó, việc xây
dựng nền kinh tế hang hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường đi
đôi với việc tăng cường vai trò quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩ luôn đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của mọi công dân: phát huy yếu tố con
người là mục đích cao nhất trong mọi hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội là một

việc đính hướng nền kinh tế, một nền kinh tế đang chuyển mình đi lên.
Nhận thức được vai trò của tri thức khoa học, Đảng và nhà nước đã khẳng
định “ giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hang
đầu” nhằm đào tạo những con người toàn diện có đạo đức, tri thức, sức khỏe,
thẩm mỹ và nghề nghiệp trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp
ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Đối với khoa học, Đảng và nhà nước chủ trương “ thực hiện cơ chế kết
hợp chặt chẽ giữa khoa học xã hội và nhân văn với khoa học tự nhiên, khoa học
công nghệ… Phát huy tính sáng tạo, tính dân chủ trong hoạt động khoa học và
công nghệ. Đổi mới chính sách đào tạo, sử dụng và đãi ngộ tri thức, trọng dụng
và tôn vinh nhân tài kể cả người Việt Nam ở nước ngoài. Khuyến khích và tạo
điều kiện thuận lợi cho mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế về khoa học công
nghệ, thu hút chuyển gia giỏi của thế giới đóng góp vào sự phát triển đất nước
bằng nhiều hình thức thích hợp”.
2. Phải làm chủ tri thức khoa học và truyền bá tri thức khoa học vào quần
chúng để nó trở thành tri thức, niềm tin định hướng cho quần chúng nhân
dân hành động.
Từ tôn trọng tri thức khoa học đến làm chủ được tri thức khoa học là cả
một quá trình. Việc vươn lên làm chủ tri thức khoa học không chỉ liên quan đến
quan niệm của con người về khoa học mà còn liên quan đến năng lực, nghị lực,
quyết tâm của con người và những điều kiện vật chất để thực hiện nó. Mặt khác,
sức mạnh và hiệu quả của tri thức phụ thuộc vào sự thâm nhập của nó vào quần
chúng nhân dân, và đây là điều kiện trực tiếp để phát huy vai trò nhân tố con
người trong hoạt động vật chất hóa tri thức.
Vươn lên làm chủ tri thức khoa học là quá trình vừa mang tính cá nhân
vừa mang tính xã hội và liên quan đến tất cả mọi lĩnh vực trong cuộc sống.
Khơi dậy trong nhân dân long yêu nước, ý chí quật cường, phát huy tài trí
của người Việt Nam, quyết tâm đưa nước nhà ra khỏi nghèo nàn và lạc hậu”….
Việc đầu tư có trọng điểm trong hệ thống giáo dục và nghiên cứu khoa học, việc

nhiều thành phần, muốn sau khi cải tạo XHCN chỉ còn lại hai thành phần kinh tế
quốc doanh và tập thể hay có lúc đẩy mạnh quá mức việc xây dựng công nghiệp
nặng mà không chú ý phát triển công nghiệp nhẹ, chúng ta đã duy trì quá lâu cơ
chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, cơ chế xin cho, có nhiều chủ trương sai
trong việc cải cách giá cả, tiền lương, tiền tệ.
Trên thực tế có rất nhiếu quốc gia trong đó có Việt Nam đã tìm ra con
đường đi cho mình từ lý luận trên. Chính sự nhận thức đúng đắn về mối liên hệ
giữa vật chất và ý thức mà Đảng và nhà nước ta đã có hướng đi đúng đắn. Hiện
nay tôn chỉ của ĐCSVN là :"Mọi đường lối chủ trương của Đảng phải xuất phát
từ thực tế, tôn trọng kỷ luật khách quan."
*

*
*

Nhóm 6 – Lớp CH18G

Trang 8


THẢO LUẬN NHÓM MÔN TRIẾT HỌC

Nguyên tắc năng động chủ quan

Báo cáo tư vấn
và vận dụng trong thực tiễn

KẾT LUẬN
CNDV biện chứng khẳng định bản chất của thế giới là vật chất, vật chất
quyết định ý thức, vật chất sinh ra ý thức, ý thức chỉ là sự phản ánh vật chất

Trong khuôn khổ bài thảo luận này, Nhóm 6 hi vọng có được những gạch
đầu dòng cơ bản, nhóm mong Cô giáo và các thành viêu trong lớp trao đổi sâu
hơn về đề tài này, cùng góp ý với nhóm để nội dung của đề tài được đầy đủ hơn.

Nhóm 6 – Lớp CH18G

Trang 9


THẢO LUẬN NHÓM MÔN TRIẾT HỌC

Nguyên tắc năng động chủ quan

Báo cáo tư vấn
và vận dụng trong thực tiễn

Nhóm 6 – Lớp CH18G

Trang 10




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status