Tìm hiểu độ ổn dịnh và hạn dùng của một số thuốc lưu hành - Pdf 31

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI

TÌM HlỂư ĐỘ ỔN ĐỊNH VÀ
HẠNDÙNG CỦA MỘT s ố
THUỐC LƯU HÀNH
KHOÁ LUẬN
TỐT NGHIỆPDƯỢC
s ĩ ĐẠI
HỌC





KHOÁ 1995 - 2000

Sinh viên thực hiện
Ngưòi hướng dẫn

: Trần Thị Minh Thu
: Thạc sỹ. Nguyễn Thị Song Hà
Tiến sỹ. Trịnh Văn Lẩu
: BỘ MÔN Tổ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC

Nơi thực hiện
Thời gian thực hiện

: Từ tháng 3 đến tháng 6/2000

/ '

Đồng thời em cũng vô cùng cảm ơn các Thầy, Cô trong bộ môn tổ chức quản
lý dược cùng các Thầy, Cô Trường đại học dược Hà Nội đã truyền đạt cho em
những kiến thức để em cố thể hoàn thành được đề tài này.
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn các Thầy, các Côi
Hà Nội, ngày 23 tháng 05 năm 2000
Sinh viên
Trần Thị Minh Thu


MỤC LỤC
T rang
I. ĐẶT VẤN ĐỀ

1

II. TỔNG QUAN

2

1. Một số khái niệm chung

2

2. Tổng quan về nghiên cứu độ ổn định của thuốc

3

2.1. Các mục tiêu chính của việc nghiên cứu độ ổn định của thuốc

3


3.5. Mức độ thu hổi thuốc.

9

3.6. Tinh hình kiểm tra chất lượng thuốc hiện nay.

10

III. THỰC NGHIỆM VÀ KẾT QUẢ.

11

1. Phương pháp tiến hành

11

2. Kết quả và nhận xét

15

2.1. Phân tích đánh giá độ ổn định và hạn dùng của thuốc dựa trên

15

kết quả kiểm nghiệm.
2.1.1. Kết quả chung

15


2.2.2. Phân tích theo chỉ tiêu hạn dùng.

24

2.2.3. Phân tích theo nguyên nhân bị đình chỉ lưuhành.

26

2.2.4. Phân tích theo nguồn gốc sản xuất.

27

2.2.5. Phân tích theo nhóm tác dụng vật lý.

29

2.2.6. Tỉ lệ các thuốc bị đình chỉ lưu hành theo dạngbào chế.
3. Bàn luận

31
33

IV. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT.

36

1. Kết luận

36


thông và sử dụng phải đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng nhà nước và an toàn cho người
dùng”. Nhưng đảm bảo chất lượng thuốc là một lĩnh vực rộng, bao gồm nhiều nội dung
khác nhau. Để đề cập đến một khía cạnh nhỏ, chúng tồi tiến hành đề tài “Tìm hiểu độ
ổn định và hạn dùng của một sô thuốc lưu hành” với các mục tiêu chủ yếu sau :
-

Theo dõi độ ổn định của một số thuốc có hạn dùng đang lưu hành dựa trên
các kết quả kiểm nghiệm.

-

Phân tích độ ổn định của thuốc thông qua danh mục thuốc bị đình chỉ lưu
hành trong các năm 1997, 1998, 1999.

Từ đó đưa ra các nhận xét, đánh giá và Vkiến đề xuất giúp cho công tác đảm bảo
chất lượng thuốc ngày càng hoàn thiện. Góp phần nâng cao chất lượng thuốc, để thuốc
đến tay người dùng đầy đủ, kịp thời, có hiệu lực điều trị cao, độ an toàn lớn, phục vụ tốt
hơn nữa công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân.

1


PHẦN I I : TỔNG QUAN
1. MỐT s ổ KHÁI NIỀM CHUNG:
1.1. Chất lượng thuốc :
Theo “Điều lệ thuốc phòng bệnh, chữa bệnh” ban hành tháng 1 năm 1991:
Chất lượng thuốc là tổng hợp các tính chất đặc trưng của thuốc thể hiện mức độ
phù hợp những yêu cầu đã được định trước trong điều kiện xác định về kinh tế, kỹ
thuật, xã hội được thể hiện bởi các yêu cầu sau :
-


-

Có chứa dược chất khác với tên dược chất đã ghi trên nhãn.

-

Nhãn, bao gói giống hay gần giống nhãn và bao gói của một số thuốc khác.
Một số thuốc được coi là giả mạo khi vi phạm một trong các điểm trên đây và có

ý đổ lừa đảo [3].
1.6. Độ ổn định của thuốc :
Là khả năng của thuốc (nguyên liệu hay thành phẩm bào chế) được bảo quản
trong đồ bao gói chuyên dụng giữ nguyên được những đặc tính vốn có về vật lý, hoá
học, vi sinh, đặc tính trị liệu và độc dược học trong những giới hạn quy định [10].
1.7. Tuổi thọ (Self-life):
Là khoảng thời gian mà trong đó thuốc vẫn đáp ứng được các yêu cầu chất lượng
như đã quy định trong tiêu chuẩn nếu bảo quản đúng.
Tuổi thọ thường được sử dụng để thiết lập hạn dùng của mỗi một lô sản
phẩm[3].
1.8. Hạn dùng (Expiry Date):
Theo hướng dẫn thực hành tốt sản xuất thuốc của các nước ASEAN : "Hạn dùng
là ngày được ấn định cho một lô sản phẩm mà trước ngày đó sản phẩm vẫn còn đảm
bảo các yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng" [5]
Theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới về thử độ ổn định của các chế phẩm
thuốc “Hạn dùng được ghi trên hộp riêng biệt (thường là trên nhãn) của một số chế
phẩm thuốc cho biết thời hạn mà trong đó thuốc vẫn duy trì được chất lượng theo tiêu
chuẩn quy định nếu được bảo quản đúng.
Đối với mỗi một lô sản phẩm, hạn dùng được thiết lập bằng cách cộng tuổi thọ
với ngày sản xuất”. [16]


testing)

- Xác định tuổi thọ và điều

- Phương pháp cấp tốc

- Phát triển sản phẩm và hồ

kiện bảo quản

hoặc phương pháp bình

sơ đăng ký

thường(Real time
stability testing)

- Chứng minh tuổi thọ đã

- Phương pháp bình

được đề xuất

thường

- Thẩm định xem có sự thay

- Phương pháp cấp tốc


Cơ quan quản lý thuốc sẽ yêu cầu nhà sản xuất đệ trình những thông tin về độ ổn
định của các chế phẩm từ các phép thử được thực hiện trên dạng phân liều cuối cùng
trong các bao gói nhỏ nhất. Số liệu này thường đưa ra kết quả từ hai phương pháp cấp
tốc và ở điều kiện bình thường.
2.1.3. Trong giai đoạn sau đăng ký:
Nhà sản xuất sẽ phải tiến hành tiếp tục các nghiên cứu độ ổn định ở điều kiện bình
thường để chứng minh hạn dùng và điều kiện bảo quản đã được dự kiến trước. Hổ sơ
nghiên cứu độ ổn định phải được đệ trình theo yêu cầu Bộ y tế ở bất cứ thời gian nào
nếu cần. Để đảm bảo an toàn về chất lượng của sản phẩm thuốc, đặc biệt chú ý đến độ
phân hủy của thuốc trong quá trình thuốc lưu hành trên thị trường. Bộ y tế sẽ theo dõi
độ ổn định và chất lượng của thuốc thông qua việc thanh tra và lấy mẫu kiểm nghiệm.
Một số sản phẩm đã được cấp số đăng ký, khi có sửa đổi chính về công thức, quy trình
đóng gói hoặc phương pháp bào chế thì cần phải nghiên cứu bổ sung độ ổn định của
thuốc. Những kết quả này phải thông báo cho cơ quan quản lý thuốc.
2.2. Những phương pháp phân tích và các kiểu thử nghiêm phục vụ cho việc
nghiên cứu độ ổn định và xác định hạn dùng của thuốc.
2.2.1. Các phương pháp phân tích để đánh giá độ ổn định của thuốc
Theo tiến sĩ Trịnh Văn Lẩu - Viện kiểm nghiệm, Bộ y tế cho biết:
Tất cả các phương pháp phân tích cần thiết có thể được áp dụng cho việc đánh giá
sự ổn định chất lượng của thuốc. Đó là những phương pháp vật lý, hoá học, hoá lý, sinh
vật và vi sinh vật. Tất cả các đặc tính liên quan đến độ ổn định của thuốc như : cảm
quan, màu sắc, hàm lượng, hoạt lực, sản phẩm phân huỷ, giá tri pH, độ cứng, độ mài
mòn, độ tan rã, kích thước tiểu phân .... đểu được tiến hành kiểm tra.
Tất cả các phương pháp sử dụng để đánh giá độ ổn định cần phải có độ chính xác,
độ nhậy và độ chọn lọc cao. Các chỉ tiêu đánh giá độ ổn định của thuốc phụ thuộc vào
từng loại thuốc nhưng nhìn chung về cơ bản vẫn phải theo các chỉ tiêu chất lượng trong


Dược điển hoặc tiêu chuẩn chất lượng của nhà sản xuất. Song tuỳ theo từng trường hợp
cụ thể mà người nghiên cứu phải chọn phương pháp đánh giá thích hợp[13].



- Cần lập một chương trình thử độ ổn định để đánh giá các đặc tính ổn định của
dược phẩm, quy định các điều kiện bảo quản và thời hạn sử dụng.
- Văn bản chương trình cần phải tuân theo gồm có :
* Các khoảng cách thử nghiệm mẫu dựa trên tiêu chuẩn thống kê cho từng thuộc

tính được quan sát để đảm bảo đánh giá sự ổn định.
* Các điều kiện bảo quản.
* Thử sản phẩm trong cùng một bao bì như sản phẩm được đùng trên thị trường.
* Thử sản phẩm trước và sau khi xuất xưởng.
- Phải tiến hành nghiên cứu độ ổn định trong các hoàn cảnh sau :
* Các sản phẩm mới.
* Các bao bì mới tức là các bao bì khác với tiêu chuẩn đã mô tả.
* Thay đổi công thức, phương pháp chế biến hay nguồn gốc nguyên liệu.
* Các lô được sản xuất đặc biệt tức là các lô có tính chất khác vói tiêu chuẩn hay
các lô tái chế.
* Các sản phẩm đã lưu hành[5].
3■ MỐT VẰĨ NẾT VỂ CÔNG TÁC QUẢN LỶ CHAT LƯƠNG THUỐC ở NƯỚC TA.
3.1.

Một sô quy chê áp dụng trong công tác quản lý chất lượng thuốc.
Để phục vụ cho công tác quản lý, kiểm tra chất lượng thuốc, Bộ y tế đã ban hành
nhiều quy chế quy định, hướng dẫn, trong đó có các quy chế :
- Quy chế quản lý chất lượng thuốc. ( Ban hành ngày 15 tháng 9 năm 1998)
- Quy chế lấy mẫu thuốc để xác định chất lượng. (Ban hành ngày 23 tháng 2 nám
1995)
- Quy chế về tổ chức và hoạt động thanh tra dược ( Ban hành ngày 19 tháng 7 năm
1993)



Cơ sở pháp lý để kiểm tra chất lượng:

Theo Quy chế quản lý chất lượng thuốc, cơ sở pháp lý để kiểm tra chất lượng thuốc
gồm có :
- Các quy định của pháp luật liên quan đến đảm bảo chất lượng

thuốc.

- Đối với thuốc có số đăng ký là các tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký và được Bộ y
tế (Cục quản lý dược Việt Nam) xét duvệt.
- Đối với các thuốc xuất khẩu, nhập khẩu mà chưa có số đăng ký, căn cứ vào các tiêu

chuẩn chất lượng đã được ký kết trong hợp đồng kinh tế. Các tiêu chuẩn chất lượng
này không được thấp hơn tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam hay Dược điển các nước

8


tiên tiến khác lần in mới nhất: Dược điển Anh (BP), Dược điển Mỹ (USP), Dược
điển Châu Âu (E.P)....
3.4.

Mức độ vi phạm về chất lượng thuốc.
Quy chế quản lý chất lượng thuốc nêu rõ :
Phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của sai sót và phản ứng không mong muốn

của thuốc; mức độ vi phạm về chất lượng thuốc được phân loại như sau.
Mức 1 : Thuốc bị vi phạm chất lượng gày nguy hiểm có thể ảnh hưởng đến tính
mạng của người dùng thuốc, gây tổn thương nghiêm trọng hoặc gây chết người.

hiện đại hoá, đủ sức kiểm tra, giám sát chất lượng thuốc. Với nguồn kinh phí do nhà
nước cấp, kết hợp với sự hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế như WHO, SIDA, các cơ sở kiểm
nghiệm từ trung ương đến địa phương đã được nâng cấp cơ sở làm việc, trang bị thêm
nhiều phương tiện phân tích hiện đại. Đồng thời nhiều lớp tập huấn nâng cao kiến thức,
kỹ năng phân tích cho cán bộ làm công tác kiểm tra chất lượng thuốc được thực hiện.
Nhờ vậy đã ngăn chặn và kịp thời phát hiện nhiều thuốc không đạt tiêu chuẩn chất
lượng đã đăng kv, thuốc chưa được cấp số đăng ký, thuốc giả lưu thông trên thị trường.
Tuy nhiên phải thừa nhận rằng, tình hình thuốc kém chất lượng lưu hành trên thị trường
vẫn còn. Số thuốc bị đình chỉ lưu hành trong những năm gần đây giảm không đáng kể.
VI vậv chúng tôi hy vọng đề tài "Tìm hiểu độ ổn định và hạn dùng của một số thuốc
lưu hành" sẽ góp phần vào việc nâng cao chất lượng thuốc, để đi đến mục đích cuối
cùng là đảm bảo thuốc đến tay người sử dụng không những kịp thời, đầy đủ, an toàn mà
còn có chất lượng cao.

10


PHẦN III: THựC NGHIỆM VÀ KẾT QUẢ
1. PHƯONG PHÁP TIẾN HÀNH.
1.1. Thời gian tiến hành : Đề tài được tiến hành từ tháng 3 đến tháng 6 năm

2000.
1.2. Đôi tượng nghiên cứu :
-

Các mẫu thuốc được lấy trên thị trường trong các năm 1998, 1999 và được
phân tích đánh giá tại Viện kiểm nghiệm - Bộ y tế.

-


- p là tỉ lệ ước tính dựa trên các nghiên cứu trước đó, hoặc là
các nghiên cứu thử.
Trong phạm vi đề tài này chúng tôi chọn khoảng sai lệch d bằng 5%. Mức tin
cậy là 95%. Vậy hệ sô' tin cậy là 1,96. Theo các nghiên cứu trước đó của Viện kiểm
nghiệm tỉ lệ p là 10%.
Thay số vào công thức (1) :
n = 1,962. 0,1(1 ~ Q,1) = 138,29
0,05
Chúng tôi chọn cỡ mẫu nghiên cứu là 140 thuốc có hạn dùng.


Kiểu mẫu nghiên cứu:
Chúng tôi chọn kiểu mẫu nghiên cứu phân tầng trong đó các tầng được hình
thành dựa trên :
-

Nguồn gốc sản xuất.

-

Tác dụng dược lý.

-

Dạng bào chế.

12





35%

49

Dạng

Viên nang

12%......

17

bào

Thuốc tiêm

20%

28

chế

Các dạng khác

33%

46

Kháng sinh


Tác

Vitamin và chất khoáng

dụng

Hạ nhiệt,

dược

chống viêm



giảm

đau,

1.4.2.Quá trình lấy mẫu: Các mẫu thuốc được lấy trên thị trường Hà Nội trong
các năm 1998,1999, theo đúng quy chế lấy mẫu và được phân tích ,đánh giá tại
Viện kiểm nghiệm - Bộ y tế.

13


1.4.3. Thu thập các phiếu kiểm nghiệm của 140 mẫu thuốc đã được kiểm nghiệm
tại Viện kiểm nghiệm - Bộ y tế.
1.4.4. Dựa trên kết quả kiểm nghiệm, tiến hành phân tích đánh giá độ ổn định và
hạn dùng của thuốc dựa trên các chỉ tiêu:




Phân tích đánh giá độ ổn định và hạn đừng của thuốc dựa trên kết quả kiểm nghiệm.

2.1.1. Kết quả chung :
Bảng 2: Bảng kết quả chung.
Số mẫu có

Số mẫu không
o
II
u

Toàn bộ mẫu

c 0 ,5

0 < c < 0,5

SL

TL%

SL


6

4,3

10

7,1

100

71,4

Nhân x é t:
- Trong toàn bộ mẫu, tỉ lệ thuốc không đạt tiêu chuẩn chất lượng là 10,7%. Riêng tỉ lệ
thuốc không đạt chỉ tiêu hàm lượng là 7,1% (Các thuốc có c < 0).
- Các thuốc có nguy cơ không đạt tiêu chuẩn chất lượng chiếm ll,4%.Trong đó các
thuốc thuộc nhóm 2 (C=0) có tỉ lệ 4,3%,các thuốc thuộc nhóm 3 (0 0,5 - nhóm 4).
- Trong toàn bộ mẫu, không có thuốc nào có hàm lượng vượt quá giới hạn trên của chỉ
tiêu hàm lượng.
2.1.2 Phân tích độ ổn định của các thuốc theo nơi sản xuất.
Bảng 3 : Phân tích độ ổri định của các thuốc t leo nơi sản xu
Trong nước Nhập ngoại
Toàn bộ mẫu
Số mẫu không đạt TCCL

c< 0
Số

5%
51
63,8%

15

60
100%
4
6,7%
3
5,0%
1
1,7%
6
10%
49
81,7%


Nhận xét:

Có đến 13,5% thuốc sản xuất trong nước khổng đạt tiêu chuẩn chất lượng, trong khi
thuốc nhập ngoại là §7^ Rõ ràng thuốc sản xuất trong nước vẫn có độ ổn định chất
lượng kém hơn thuốc nhập ngoại.
Tỉ lệ thuốc sản xuất trong nước không đạt tiêu chuẩn chất lượng về hàm lượng là
8,8%, đối với thuốc nhập ngoại tỉ lệ này là 5%. Như vậy không đủ hàm lượng vẫn là
nguyên nhân chủ yếu dẫn đến vi phạm tiêu chuẩn chất lượng thuốc.
Tỉ lệ các thuốc có nguy cơ không đạt tiêu chuẩn chất lượng của nhóm thuốc nhập
ngoại và của nhóm thuốc sản xuất trong nước đều xấp xỉ bằng 11%. Một điều đáng

5
TL%
10,2
! SL
3
! TL% ị 6,1
SL :
6
TL%
12,2
SL 1 35
TL%
71,4

16

Viên
nang
! 17
100
2
11,8
2
11,8
1
5,9
1
5,9
13
76,5



Nhân xét:

Trong các dạng bào chế, thuốc tiêm vẫn là dạng có độ ổn định chất lượng cao nhất.
Hơn 80% thuốc tiêm có hàm lượng ở mức “an toàn” so với giới hạn dưới của TCCL
(C>0,5). Chỉ có 3,6% thuốc tiêm không đạt tiêu chuẩn chất lượng, các thuốc có 0 < c


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status