BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN THỊ THU HƯƠNG
Sù BIÕN CHUYÓN VÒ KINH TÕ, CHÝNH TRÞ - X· HéI
CñA V¦¥NG QUèC XI£M D¦íI THêI VUA RAMA IV
Vµ RAMA V (1851 - 1910)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
2
NGHỆ AN - 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN THỊ THU HƯƠNG
Sù BIÕN CHUYÓN VÒ KINH TÕ, CHÝNH TRÞ - X· HéI
CñA V¦¥NG QUèC XI£M D¦íI THêI VUA RAMA IV
Vµ RAMA V (1851 - 1910)
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ THẾ GIỚI
MÃ SỐ: 60.22.50
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học:
Trang
A. MỞ ĐẦU......................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài...............................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề................................................................2
3. Đối tượng và pham vi nghiên cứu....................................................5
4. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn.................................................6
5. Nguồn tư liệu....................................................................................8
6. Đóng góp của luận văn.....................................................................8
7. Bố cục của luận văn..........................................................................9
B. NỘI DUNG.................................................................................................11
Chương 1
NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TÌNH HÌNH KINH TẾ,
CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA VƯƠNG QUỐC XIÊM
VÀO CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX .............................................11
1.1.Tình hình thế giới và khu vực đầu thế kỷ XIX.............................11
1.2. Vương quốc Xiêm trước nguy cơ xâm lược của thực dân phương
Tây..............................................................................................16
Tiểu kết...............................................................................................30
Chương 2
SỰ CHUYỂN BIẾN VỀ KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
CỦA VƯƠNG QUỐC XIÊM TỪ NĂM 1851 ĐẾN 1910.............................32
2.1. Vương quốc Xiêm trong giai đoạn trị vì của Vua Mongkut Rama IV (1851 - 1868)..............................................................32
2.1.1. Tình hình kinh tế...........................................................................33
2.1.2. Tình hình chính trị.........................................................................40
2.1.3. Sự chuyển biến về xã hội...............................................................47
2.2. Vương quốc Xiêm trong giai đoạn trị vì của Vua Chulalongkorn Rama V (1868-1910).................................................................52
2.2.1. Sự biến chuyển của tình hình kinh tế............................................53
2.2.2. Tình hình chính trị.........................................................................67
phát triển hiện tại của Thái Lan có liên quan gì đến các giai đoạn lịch sử trước
đó? nhất là giai đoạn từ năm 1851 đến năm 1910, là giai đoạn dưới sự trị vì
của hai triều vua Rama IV và Rama V? Hay nói cách khác nền tảng của sự
phát triển hiện tại của Thái Lan là gì? Đây là những vấn đề đã thu hút sự quan
tâm của nhiều học giả, nhiều nhà nghiên cứu ở nhiều mức độ khác nhau. Vì
vậy, việc nghiên cứu sự biến chuyển về kinh tế, chính trị - xã hội của Vương
quốc Xiêm (Thái Lan) ở giai đoạn từ năm 1851 đến năm 1910 có ý nghĩa
khoa học và thực tiễn sâu sắc.
Trước hết về mặt khoa học: Nghiên cứu sự biến chuyển về kinh tế,
chính trị - xã hội của Vương quốc Xiêm trong giai đoạn từ năm 1851 đến năm
1910 giúp chúng ta hiểu một cách sâu sắc về các chính sách kinh tế - chính trị
- xã hội mà các vua Rama IV và Rama V đã thực hiện trong thời kỳ cai trị đất
nước của mình, cũng như hệ quả của những chính sách ấy. Từ đó góp phần lí
2
giải được: Vì sao Xiêm là nước duy nhất ở Đông Nam Á không bị mất độc
lập trước làn sóng xâm nhập và xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương
Tây. Từ đó chúng ta được hiểu thêm về đất nước, con người, lịch sử và văn
hóa của một nước láng giềng gần gũi với Việt Nam. Bên cạnh đó, việc nghiên
cứu vấn đề này giúp chúng ta có thể hình dung được những nét khái quát về
hoàn cảnh và số phận của các nước trong khu vực lúc bấy giờ. Đồng thời
cũng có thể rút ra được những bài học lịch sử quý giá cho các nước này trong
vấn đề đối ngoại đối với các nước phương Tây.
Về ý nghĩa thực tiễn: Đối với chúng tôi là những giáo viên giảng dạy
bộ môn Lịch sử ở bậc THPT, việc nghiên cứu một vấn đề về sự biến chuyển
về kinh tế, chính trị - xã hội của Vương quốc Xiêm từ năm 1851 đến năm
1910 sẽ có thêm những tri thức mới, sâu rộng về lịch sử Thái Lan nói riêng,
lịch sử Đông Nam Á thời cận đại nói chung. Từ đó giúp chúng tôi giảng dạy
tốt hơn về giai đoạn lịch sử này.
những nét hết sức khái lược. Công trình này cho chúng ta biết về quá trình
xâm nhập của người phương Tây vào Vương quốc Xiêm từ đầu thế kỷ XVI
và những chính sách cải cách của các vua Xiêm nhằm phát triển đất nước và
giữ vững độc lập, đặc biệt là dưới hai triều vua Rama IV và Rama V.
Công trình tiêu biểu thứ hai là cuốn “Vương quốc Thái Lan” của GS.
Vũ Dương Ninh - 1994, công trình này đã trình bày một cách khái quát cao về
những nội dung cơ bản của lịch sử Vương quốc Thái Lan. Công trình này
giúp cho người nghiên cứu có cái nhìn tổng thể và định hướng khi nghiên cứu
về Thái Lan.
Công trình tiêu biểu thứ ba là cuốn “Lịch sử Thái Lan” - 1993 của
Huỳnh Văn Tòng. Trong đó đã đề cập một cách khá rõ ràng về tình hình kinh
tế - chính trị và những hiệp ước bất bình đẳng mà Thái Lan đã kí với các nước
tư bản phương Tây, những chính sách cải cách của các vua Rama IV và Rama
V nhằm giữ vững nền độc lập của mình.
4
Cuốn “Lịch sử Thái Lan” của E.O.Becdin - 1973 (do Đinh Ngọc Bảo
dịch) là công trình đã đề cập đến khá nhiều sự kiện về quá trình xâm nhập của
tư bản phương Tây vào Thái Lan và quan hệ giữa Thái Lan với các nước tư
bản phương Tây từ đầu thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XIX. Đây là một nguồn
tư liệu phong phú giúp người nghiên cứu có thể vân dụng và tham khảo khi
tiến hành nghiên cứu các vấn đề có liên quan.
Ngoài ra còn có nhiều công trình khác như “Thái Lan - một số nét về
chính trị - kinh tế - xã hội - văn hóa và lịch sử” của Nguyễn Khắc Viện, Hà
Nội - 1998, cuốn “Tìm hiểu lịch sử - văn hóa Thái Lan” của Viện nghiên cứu
Đông Nam Á, 1994. Cuốn “Lịch sử Đông Nam Á” của D.G.E - Hall, NXB
Chính trị Quốc gia - 1998. Cuốn “Lịch sử Vương quốc Thái Lan” của Lê Văn
Quang, NXB TP HCM - 1995…Đều nghiên cứu về lịch sử Thái Lan trên
nhiều phương diện khác nhau và ít nhiều có đề cập đến vấn đề mà đề tài này
nghiên cứu. Tuy nhiên, trong số các công trình nghiên cứu trên, chưa có một
công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể và chi tiết về sự chuyển biến của
tình hình kinh tế, chính trị - xã hội của Vương quốc Xiêm giai đoạn từ năm
1851 đến 1910. Vì vậy, trên cơ sở tìm hiểu lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng
tôi đã kế thừa những thành tựu của các công trình đã nói ở trên và bổ sung
vào các công trình nghiên cứu trước đây bằng việc tìm hiểu sự chuyển biến
của tình hình kinh tế, chính trị - xã hội của Vương quốc Xiêm từ năm 1851
đến 1910. Qua đó hiểu sâu sắc hơn về bức tranh kinh tế, chính trị - xã hội của
Thái Lan thời kì này, đồng thời góp phần lí giâỉ được một trong những tiền đề
dẫn đến sự phát triển của nền kinh tế Thái Lan trong giai đoạn hiện nay.
3. Đối tượng và pham vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu sự chuyển biến về kinh tế, chính trị - xã hội của
Vương quốc Xiêm từ năm 1851 đến 1910. Nếu tìm hiểu về lịch sử nghiên cứu
vấn đề này, chúng ta thấy các học giả thường chú ý nhiều đến chính sách đối
6
ngoại của Thái Lan đối với các nước phương Tây và những cải cách của các
triều đại phong kiến Thái Lan nhằm giữ vững nền độc lập…còn bức tranh
tổng thể về tình hình kinh tế, chính trị - xã hội của Vương quốc Xiêm trong
giai đoạn lịch sử này thì còn chưa được quan tâm nhiều.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian mà đề tài bao quát là giai đoạn từ năm 1851 đến năm 1910,
đây là giai đoạn dưới sự trị vì liên tiếp của hai triều vua Rama IV và Rama V,
tức là từ khi vua Rama IV lên nắm quyền (1851) cho đến khi vua Rama V qua
đời (1910). Đây được đánh giá là những vị vua kiệt xuất và vĩ đại bậc nhất
trong lịch sử phong kiến Thái Lan.
Ngoài ra, chúng tôi còn bước đầu đưa ra những nhận xét, đánh giá về
vai trò của các cuộc cải cách kinh tế của Rama IV và Rama V đối với sự phát
thức tương tự nhau, nhưng trong khi giai cấp phong kiến nhiều nước Đông
Nam Á khác đang chìm đắm trong bóng đen của chế độ phong kiến lạc hậu,
bảo thủ, thì giai cấp phong kiến Xiêm lại thức thời, biết lựa chon hướng đi
khác đó là cải cách, và hệ quả là Thái Lan đã tránh được sự thôn tính của các
nước tư bản phương Tây. Trong khi các nước Đông Nam Á khác lại không
thoát khỏi số phận này.
- Từ việc làm sáng tỏ những vấn đề trên, chúng tôi còn bước đầu đưa ra
những nhận xét và đánh giá của bản thân, dựa trên những luận cứ khoa học,
những ý kiến đánh giá của các học giả, các nhà nghiên cứu về lịch sử Thái
Lan trong giai đoạn này.
4.2. Nhiệm vụ của Luận văn
Trong luận văn này chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu các vấn đề sau:
Thứ nhất: Bối cảnh lịch sử của thế giới, khu vực và Vương quốc Xiêm
trong những năm đầu thế kỷ XIX.
Thứ hai: Các chính sách của nhà nước đối với kinh tế, chính trị - xã hội
từ năm 1851 đến năm 1910 và hệ quả của những chính sách đó. So sánh với
Việt Nam trong cùng thời điểm lịch sử.
8
Thứ ba: Đưa ra một số nhận xét về sự chuyển biến của tình hình kinh
tế, chính trị - xã hội của vương quốc Xiêm từ năm 1851 đến 1910. Trong đó
đặc biệt đánh giá về vai trò của các cuộc cải cách của các vua Rama IV và
Rama V đối với sự phát triển kinh tế của vương quốc Xiêm trong giai đoạn
cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
5. Nguồn tư liệu
Để hoàn thành luận văn, chúng tôi dựa trên các nguồn tài liệu chủ yếu
sau:
- Tư liệu gốc, bao gồm các văn bản như: Các sắc lệnh đạo luật cải cách,
bài phát biểu các vua Rama về cải cách, các bảng thống kê số liệu phát triển
- Từ việc nghiên cứu về những cải cách kinh tế của Rama IV và Rama
V, luận văn đã rút ra được một số bài học kinh nghiệm thiết thực và bổ ích đối
với công cuộc đổi mới của nước ta trong giai đoạn hiện nay.
- Những nội dung mà luận văn đã nghiên cứu còn có thể được sử dụng
tham khảo khi giảng dạy về lịch sử Thái Lan nói riêng, lịch sử Đông Nam Á
nói chung ở bậc THCS và THPT, cũng như phục vụ cho nhu cầu tham khảo
của đông đảo bạn đọc quan tâm tới lịch sử Thái Lan và Đông Nam Á.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn
được trình bày trong 3 chương:
Chương 1. Những nhân tố tác động đến hinh hình kinh tế, chính trị
- xã hội của Vương quốc Xiêm trong những năm đầu thế
kỷ XIX
Chương 2. Những chuyển biến của tình hình kinh tế, chính trị - xã hội
của Vương quốc Xiêm từ năm 1851 đến năm 1910
Chương 3. Một số nhận xét về sự chuyển biến kinh tế, chính trị - xã hội
của Vương quốc Xiêm từ nửa sau thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
10
11
B. NỘI DUNG
Chương 1
NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TÌNH HÌNH KINH TẾ,
CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA VƯƠNG QUỐC XIÊM
VÀO CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX
1.1. Tình hình thế giới và khu vực đầu thế kỷ XIX
Từ giữa thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII, giai cấp tư sản Tây Âu và
Thái Bình Thiên Quốc đã diễn ra trong vòng 14 năm (1851 - 1864) lan rộng
khắp 18 tỉnh thành. Tiếp đó là phong trào Nghĩa Hòa Đoàn (1890 - 1900), vừa
chống phong kiến vừa chống đế quốc. Tại Việt Nam, thời điểm này cũng diễn
ra các cuộc khởi nghĩa của Phan Bá Vành, Lê Văn Khôi, Nông Văn Vân, Cao
Bá Quát...
Với thực trạng kinh tế, chính trị, xã hội như trên, cùng với nguồn tài
nguyên phong phú, các nước phương Đông thực sự trở thành những miếng
mồi ngon cho các nước thực dân phương Tây.
Ở châu Á, Bồ Đào Nha sau khi chiếm Malắcca năm 1511, tiếp tục
chiếm Đông Timor, Anboa năm 1521. Tây Ban Nha sau cuộc thám hiểm của
Magenlan đến Philíppin năm 1821, năm 1563 thực dân Tây Ban Nha đã
chiếm đóng quần đảo này và thống trị ở đây cho đến năm 1898.
Tiếp theo người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, người Hà Lan, Anh,
Pháp, Mĩ... cũng lần lượt xâm nhập và bành trướng ngày càng sâu rộng sang
phương Đông và Đông Nam Á. Đó cũng là thời kì hình thành, phát triển và
bành trướng của các công ti Đông Ấn khét tiếng của Anh, Hà Lan, Pháp. Cuối
thế kỷ XVI, Hà Lan đã đánh chiếm Inđônêxia rồi thống trị ở đây cho đến hết
Chiến tranh thế giới thứ hai. Thực dân Anh sau khi chiếm hầu hết Ấn Độ, bắt
đầu đánh chiếm Mã Lai, Miến Điện, tiến hành Chiến tranh thuốc phiện lần
thứ I (1840 - 1842) để “mở cửa” vào Trung Quốc. Tư bản Mỹ cũng đến “gõ
13
cửa” Nhật Bản (1853) buộc Mạc Phủ Tôcưgaoa phải mở cửa. Thực dân Pháp
muộn hơn thì năm 1858 cũng bắt đầu nổ súng xâm lược Việt Nam, sau đó là
Cămpuchia và Lào.
Ở châu Phi, từ những năm 50 đến những năm 70, 80 của thế kỷ XIX,
sau khi kênh đào Xuyê được hoàn thành, các nước tư bản phương Tây đua
tranh quyết liệt để xâu xé lục địa đen. Đến đầu thế kỷ XX, việc phân chia
thuộc địa ở châu Phi giữa các nước Anh, Pháp, Đức, Ý, Bỉ, Bồ Đào Nha, Tây
phương Tây, các quốc gia phương Đông nói chung, các nước Đông Nam Á
nói riêng đã bị lôi cuốn vào cơn lốc xoáy của chủ nghĩa tư bản, đó là một tất
yếu lịch sử. Thời cận đại, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là phương
thức sản xuất tiến bộ và ưu việt hơn hẳn phương thức sản xuất phong kiến. Do
đó, sự xâm nhập của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa vào các nước Á,
Phi, Mĩ Latinh đã đặt các quốc gia dân tộc này trước những cơ hội và thách
thức to lớn để hòa nhập vào dòng chảy chung của nền văn minh nhân loại. Sự
hội nhập là một quy luật, nhưng vấn đề là các quốc gia dân tộc phải hội nhập
như thế nào? Hội nhập tự nguyện hay hội nhập cưỡng bức?
Bị cuốn vào “cơn lốc kinh tế tư bản chủ nghĩa” bằng những cách thức
khác nhau, nhưng trước các quốc gia dân tộc đều có những thời cơ và thách
thức to lớn. Chủ nghĩa thực dân bên cạnh việc bóc lột và vơ vét tàn bạo nguồn
tài nguyên và nhân công của các dân tộc thuộc địa thì đồng thời cũng mang
lại những hệ quả ngoài ý muốn của mình, đó chính là xây dựng nền tảng cơ sở
vật chất của nền văn minh phương Tây ở các nước thuộc địa. Do vậy, các
nước thuộc địa nói chung và các quốc gia dân tộc Á châu nói riêng đều đứng
trước cơ hội to lớn để hòa nhập vào dòng chảy của nền văn minh nhân loại.
Nền văn minh công nghiệp cơ khí hiện đại sẽ đem đến những khả năng to lớn
để các quốc gia phong kiến phương Đông thoát khỏi tình trạng bảo thủ, lạc
hậu trì trệ. Tư tưởng tiến bộ, dân chủ, nhân văn tư sản sẽ đẩy lùi những định
15
kiến cổ hủ ràng buộc con người. Tiến bộ khoa học kỹ thuật, nền sản xuất máy
móc sẽ thay thế cho lao động thủ công nặng nhọc của con người dưới chế độ
phong kiến. Con người được giải phóng về tư tưởng, thân phận, đời sống vật
chất, tinh thần của xã hội được nâng lên, hơn hẳn dưới chế độ phong kiến.
Bên cạnh những cơ hội nói trên, chủ nghĩa tư bản cũng đem lại nhiều
thách thức đối với các dân tộc phương Đông. Đó là sự phá hoại những nền
tảng văn hóa vật chất, tinh thần và tiến đến nô dịch, thống trị các quốc gia dân
nước phong kiến lớn ở bán đảo Trung Ấn và chế độ phong kiến đạt đến đỉnh
cao nhất. Nhưng sau đó, sự tranh giành quyền lợi trong giai cấp thống trị đã
làm cho Xiêm bị suy yếu và đến năm 1767 bị Miến Điện chinh phục. Năm
1768, Pia Tăc-xin lên ngôi vua đã khôi phục lại được nền độc lập của Xiêm
sau một thời kì loạn lạc và chiến tranh liên miên. Tuy nhiên, sau đó Pia Tăcxin lại thực hiện những chính sách đi ngược lại xu thế của lịch sử và nguyện
vọng của nhân dân, do đó khởi nghĩa lan tràn khắp nơi. Trong bối cảnh đó,
Chaopia Chakri được đa số tầng lớp phong kiến ủng hộ. Ngày 20/4/1782, ông
cùng quân đội tiến về Buri giải phóng thành phố trong cơn hỗn loạn và lên
ngôi vua, với niên hiệu là Rama I, chính thức khởi đầu cho triều đại Rama tồn
tại cho đến ngày nay ở Thái Lan.
Với sự ra đời của triều đại Rama, vương quốc Xiêm trở thành một
quốc gia hùng mạnh, lãnh thổ được mở rộng và có nhiều quốc gia thần phục
xung quanh.
Rama I là một người có tài về quân sự và chính trị, khi lên làm vua ông
đã có nhiều kinh nghiệm và uy tín đối với giai cấp thống trị và quần chúng.
Nguyện vọng cao nhất của ông là khôi phục lại vương quốc Ayuthaya đã một
thời thịnh vượng và huy hoàng trước kia. Ngay sau khi lên ngôi vua, ông bắt
tay ngay vào xây dựng kinh đô Băng Cốc để tỏ rõ quyết tâm đó. Sau 3 năm
xây dựng, kinh đô mới được hoàn thành, có đầy đủ cung điện, đền đài chùa
tháp, thành quách cùng với các khu thương mại của các cộng đồng ngoại kiều
như người Hoa, người Ấn Độ... chạy dọc bên bờ sông Chao Phraya.
17
Về mặt chính trị, bộ máy nhà nước được xây dựng lại như thời kỳ
Ayutthaya, nhưng mang tính chất trung ương tập quyền nhiều hơn. Quyền lực
của triều đình đứng đầu là nhà vua đối với các địa phương chủ yếu thông qua
6 bộ, trong đó 4 bộ có chức năng quản lý địa phương. Bao gồm bộ Mahatthai
quản lý các địa phương phía Bắc và phía Đông kinh đô; Kalahom quản lý các
địa phương từ Thôn Buri trở về nam; Phakhlan quản lý các địa phương ở phía
với quy mô ngày càng lớn và mang lại nguồn lợi khổng lồ. Hàng hóa xuất
khẩu của Xiêm ngày càng nhiều và phong phú. Trong 20 năm đầu của thế kỷ
XIX, lượng gạo xuất khẩu của Xiêm đứng thứ hai ở châu Á (chỉ sau Bengan Ấn Độ). Thời kì này thương nhân Xiêm buôn bán với nhiều nước châu Á như
Trung Quốc, Mã Lai, Inđônêxia, Việt Nam, Lào....”Năm 1821, tổng khối
lượng hàng hóa trao đổi Xiêm - Trung là gần 60.000 tấn. Lợi nhuận trung
bình lên tới 300%......Bên cạnh Trung Quốc, các tiểu vương quốc trên bán
đảo Malacca và quần đảo Inđônêxia cũng là đối tác buôn bán quan trọng với
Xiêm...” [35,122].
Về mặt xã hội vẫn không có gì thay đổi, chế độ nô lệ vẫn được duy trì,
đa số dân vẫn sống bằng nghề nông, bị phụ thuộc vào quý tộc và quan lại theo
quan hệ chủ tớ (Nai - Prai) và bị bóc lột nghĩa vụ lao dịch, sức lao động của
nông dân chưa trở thành hàng hóa. Giai cấp thống trị là những người có nhiều
ruộng đất nhất, song về pháp lý họ chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền
sở hữu. Để ngăn chặn việc quý tộc và quan lại thao túng nhân lực, Rama I ra
sắc lệnh bắt tất cả nông dân tự do (Prai) phải xăm trên người tên của chủ, nơi
ở để dễ bề quản lý. Tất cả nông dân tự do, kể cả của nhà nước và của quý tộc,
quan lại đều phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ lao dịch với thời gian là 3 tháng
trên một năm, nhà nước không trả công trong thời gian thực hiện nghĩa vụ lao
dịch và người dân có thể nộp tiền để thay thế ngày công.
Chế độ thuế khóa cũng được chấn chỉnh để tăng thu nhập cho nhà
nước. Trước đây nông dân phải nộp thuế bằng thóc và phải tự chuyên chở đến
nơi nộp thuế, bây giờ có thể thay bằng tiền, cứ 1 rai nộp 1/4 bath. Ngoài ra