Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ tưới đến hàm lượng nitơ, phốt pho dễ tiêu trong đất trồng lúa huyện phú xuyên, hà nội - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
------------***------------

Nguyễn Thị Huyền

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ ĐỘ TƯỚI ĐẾN HÀM LƯỢNG
NITƠ, PHỐT PHO DỄ TIÊU TRONG ĐẤT TRỒNG LÚA HUYỆN
PHÚ XUYÊN, HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội – 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
------------***------------

Nguyễn Thị Huyền

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ ĐỘ TƯỚI ĐẾN HÀM LƯỢNG
NITƠ, PHỐT PHO DỄ TIÊU TRONG ĐẤT TRỒNG LÚA HUYỆN
PHÚ XUYÊN, HÀ NỘI.

Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Mã số: 60440301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Ngân Hà

3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài .............................................................. 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU........................................................................... 3
1.1. Tổng quan về tình hình tưới cho lúa trên thế giới và Việt Nam ......................... 3
1.1.1. Tổng quan về tình hình tưới cho lúa trên thế giới ........................................... 3
1.1.2. Tổng quan về tình hình tưới cho lúa tại Việt Nam .......................................... 4
1.2. Khái quát về phương pháp tưới truyền thống và tưới tiết kiệm .......................... 4
1.2.1. Phương pháp tưới truyền thống ...................................................................... 4
1.2.2. Phương pháp tưới tiết kiệm – Tưới nông lộ phơi (NLP) ................................. 5
1.3. Tình hình nghiên cứu tưới tiết kiệm cho lúa trên thế giới và Việt Nam ............. 7
1.3.1. Tình hình nghiên cứu tưới tiết kiệm cho lúa trên thế giới ............................... 7
1.3.2. Tình hình nghiên cứu tưới tiết kiệm cho lúa tại Việt Nam ............................ 11
1.4. Tình hình nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ nước đến chuyển hóa N, P dễ tiêu
trên thế giới và Việt Nam ...................................................................................... 16
1.4.1. Tình hình nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ nước đến chuyển hóa N, P dễ
tiêu trên thế giới .................................................................................................... 16
1.4.2. Tình hình nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ nước đến chuyển hóa N, P dễ
tiêu tại Việt Nam ................................................................................................... 17
1.5. Nhu cầu dinh dưỡng Nitơ, Phốt pho của lúa vùng Đồng bằng sông Hồng ....... 20
1.5.1. Nhu cầu dinh dưỡng Nitơ của cây lúa .......................................................... 20
1.5.2. Nhu cầu dinh dưỡng Phốt pho của cây lúa ................................................... 21
1.6. Tổng quan về Nitơ, Phốt pho trong đất trồng lúa............................................. 22
1.6.1. Quá trình chuyển hóa của N, P trong đất lúa ................................................ 22
1.6.2. Ảnh hưởng của một số yếu tố đến quá trình chuyển hóa N, P trong đất ........ 23


1.7. Ảnh hưởng của chế độ nước đến các yếu tố chi phối sự tồn tại và chuyển hóa
Nitơ, Phốt pho trong đất ........................................................................................ 27
1.7.1. Ảnh hưởng của chế độ nước đến chất hữu cơ trong đất ................................ 27
1.7.2. Ảnh hưởng của chế độ nước đến diễn biến pH đất ....................................... 28
1.7.3. Ảnh hưởng của chế độ nước đến diễn biến thế ôxy hóa khử của đất............. 28

TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................................. 645
PHỤ LỤC


DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Giá trị trung bình bốc hơi, thấm, mức tưới yêu cầu của các biện pháp tưới
NTX và NLP ........................................................................................................... 9
Bảng 2: Tổng hợp kết quả số lần tưới và lượng nước tưới trong 5 vụ Đông Xuân và
Hè Thu từ 2006 – 2008 tại Quỳnh Lưu – Nghệ An ................................................ 12
Bảng 3: Năng suất lúa trong 5 vụ Đông Xuân và Hè Thu từ 2006 – 2008 tại Quỳnh
Lưu – Nghệ An...................................................................................................... 12
Bảng 4: Ảnh hưởng của các nhân tố thí nghiệm lên lượng lân trong đất và cây lúa
lúc thu hoạch ......................................................................................................... 19
Bảng 5: Chế độ phân bón áp dụng cho hai công thức thí nghiệm ........................... 34
Bảng 6: Thời điểm lấy mẫu đồng ruộng phân tích ................................................. 35
Bảng 7: Chỉ tiêu và phương pháp phân tích ........................................................... 36
Bảng 8: Một số tính chất đất khu vực nghiên cứu ................................................. 39
Bảng 9: Động thái pH của hai công thức tưới ...................................................... 422
Bảng 10: Động thái Eh của hai công thức tưới ....................................................... 43
Bảng 11: Hàm lượng NTS, PTS trong đất nền và sau khi kết thúc thí nghiệm......... 455
Bảng 12: Sự biến đổi hàm lượng NH4+ thông qua hai phương pháp tưới.............. 466
Bảng 13: Sự biến động hàm lượng NO3- thông qua hai phương pháp tưới ........... 488
Bảng 14: Biến động hàm lượng PDT thông qua hai phương pháp tưới ................ 5050
Bảng 15: Động thái pH đất tại thí nghiệm đồng ruộng ......................................... 522
Bảng 16: Động thái Eh đất tại thí nghiệm đồng ruộng ......................................... 544
Bảng 17: Biến động hàm lượng N, P tổng số trong đất ruộng thí nghiệm ............. 555
Bảng 18: Biến động hàm lượng NH4+ tại hai công thức thí nghiệm đồng ruộng ... 566
Bảng 19: Biến động hàm lượng NO3- tại hai công thức thí nghiệm đồng ruộng ... 588
Bảng 20: Biến động hàm lượng P dễ tiêu tại hai công thức thí nghiệm đồng ruộng....... 60
Bảng 21: Năng suất lúa vụ Hè Thu ở các chế độ tưới khác nhau .......................... 611

NTX

Ngập thường xuyên (chế độ tưới)

NLP

Nông lộ phơi (chế độ tưới)

N

Nguyên tố Nitơ ký hiệu hóa học là N

NTS

Nitơ tổng số

NDT

Nitơ dễ tiêu

P

Nguyên tố Phốt pho ký hiệu hóa học là P

PTS

Phốt pho tổng số

PDT


chiến lược trước mắt và lâu dài.
Vậy để sử dụng nước tưới như thế nào cho tiết kiệm mà không làm ảnh
hưởng đến năng suất lúa cũng như cải thiện được độ phì cho đất là một câu hỏi
được đặt ra cần có lời giải.
Đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ tưới đến hàm lượng Nitơ, Phốt
pho dễ tiêu trong đất trồng lúa huyện Phú Xuyên, Hà Nội”, là cần thiết để thấy rõ

1


hơn nữa sự khác biệt giữa chế độ tưới truyền thống và tưới tiết kiệm (tưới nông lộ
phơi) đến dinh dưỡng dễ tiêu trong đất mà ở đây là Nitơ và Phốt pho. Từ đó khẳng
định chắc chắn hơn nữa về vai trò của tưới tiết kiệm trong việc giảm lượng nước
tưới đồng thời vẫn gia tăng được năng suất lúa gạo.
2. Mục đích nghiên cứu
- Xác định ảnh hưởng của chế độ tưới tiêu bao gồm chế độ tưới theo truyền thống –
ngập thường xuyên (NTX) và chế độ tưới tiết kiệm – tưới nông lộ phơi (NLP) đến
hàm lượng N, P dễ tiêu trong đất trồng lúa huyện Phú Xuyên – Hà Nội.
- Từ kết quả so sánh giữa hai phương pháp tưới đưa ra đề xuất và khuyến cáo về kỹ
thuật tưới tiêu hợp lý nhằm làm giảm lượng nước tưới đồng thời tăng năng suất và
tăng độ phì nhiêu cho đất.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
Đề tài xác lập cơ sở khoa học về ảnh hưởng của phương pháp tưới đến hàm
lượng dinh dưỡng dễ tiêu N, P trong đất trồng lúa. Kết quả của đề tài là cơ sở đưa ra
phương pháp tưới hợp lý cho lúa nhằm tiết kiệm lượng nước tưới đồng thời làm
tăng độ phì cho đất.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu sẽ giúp các cơ quan chức năng điều chỉnh phương pháp
tưới phù hợp nhằm giảm lượng nước tưới mà vẫn duy trì năng suất và chất lượng

vậy người nông dân phải tự chịu trách nhiệm về việc đưa nước vào đồng ruộng của
họ. Phần lớn nông dân chỉ sử dụng những thiết bị bơm nước và phương pháp tưới
tiêu lạc hậu, không hiệu quả nhưng lại có thể lấy một lượng nước không hạn chế
vào đồng ruộng khiến các nguồn nước ngày một cạn kiệt. Nếu thói quen này vẫn
tiếp diễn thì khủng hoảng lương thực sẽ bùng phát khắp Châu Á. Nếu cứ sử dụng
nước như hiện nay, khu vực Nam Á sẽ cần thêm 57% nước để tưới tiêu đồng ruộng,
còn các nước Đông Á cần thêm 70%.

3


Nguồn nước cung cấp cho nền nông nghiệp có tưới thậm chí còn bị cắt giảm
nhiều hơn do phải cạnh tranh với các ngành dùng nước khác như cấp nước sinh
hoạt, cấp nước công nghiệp...
Trong bối cảnh nhu cầu lương thực gia tăng cùng với sự gia tăng của dân số
thế giới, biến đổi khí hậu cũng như sự suy giảm nguồn nước đã dẫn tới một thách
thức lớn cho ngành nông nghiệp toàn cầu, đòi hỏi cần tìm kiếm các giải pháp nhằm
tăng hiệu quả sử dụng nước (sản xuất lượng lương thực nhiều hơn trên một đơn vị
nước tưới).
1.1.2. Tổng quan về tình hình tưới cho lúa tại Việt Nam
Cả nước hiện nay có 104.548 công trình thủy nông lớn, vừa và nhỏ phục vụ
tưới cho tổng diện tích 2.065.062 ha canh tác [1]. Trong đó hồ chứa vừa và lớn có
743 hồ, trạm bơm điện có 1796 trạm bơm, đập dâng có 1017 cái, cống lấy nước có
4716 cái [5].
Xét về tỷ lệ diện tích canh tác được tưới, Việt Nam có tỷ lệ diện tích canh tác
được tưới là 52%, cao hơn nhiều so với các nước trên thế giới và khu vực [5].
Ngoài ra theo dự đoán của các chuyên gia đến năm 2025 nhu cầu dùng nước
cho các ngành kinh tế của Việt Nam vào khoảng 90 tỷ m3, chiếm 10,8% lượng nước
chảy vào lãnh thổ Việt Nam và chiếm 27% lượng nước sản sinh ra trên lãnh thổ,
đây là tỷ lệ quá cao so với thế giới. Như vậy trước thực trạng về sự suy giảm nguồn

này nước là nhu cầu thiết yếu để cây lúa phát triển. Giữ nước trong ruộng ở giai
đoạn này sẽ hạn chế được sự mọc mầm của cỏ dại, bởi có nước làm môi trường
thành yếm khí, hạt cỏ dại sẽ không mọc được và cũng cần sử dụng thuốc trừ cỏ phù
hợp ở giai đoạn này.
- Giai đoạn 25 – 40 ngày: đây là giai đoạn lúa đẻ nhánh rộ và tối đa, phần lớn chồi
vô hiệu thường phát triển ở giai đoạn này, nên chỉ cần nước vừa đủ. Lúc này giữ
mực nước trong ruộng từ bằng mặt đến thấp hơn mặt ruộng 15 cm (đặt ống nhựa có
đục lỗ bên hông, bên trong có chia vạch 5 cm để theo dõi). Khi nước xuống thấp
hơn 15 cm thì bơm nước vào ruộng ngập tối đa 5 cm so với mặt ruộng. Khi nước hạ
từ từ xuống dưới vạch 15 cm thì tiếp tục bơm nước vào. Ở giai đoạn này lá lúa phát
triển giáp tán, hạt cỏ có nảy mầm cũng không phát triển và cạnh tranh được với cây
lúa. Đây cũng là giai đoạn cây lúa rất dễ bị bệnh khô vằn tấn công, mực nước không
quá cao làm hạch nấm khô vằn sẽ không phát tán trong ruộng, bệnh ít lây lan.
Cách điều tiết nước này sẽ làm phơi lộ mặt ruộng, vì vậy phương pháp này
được gọi là tưới nông lộ phơi. Mực nước dưới đất càng xa (nhưng không thấp hơn

5


15 cm so với mặt ruộng) sẽ giúp rễ lúa ăn sâu vào trong đất, vừa chống đổ ngã, vừa
dễ thu hoạch.

Hình 1: Ống nhựa có đục lỗ bên hông, bên trong có chia vạch 5 cm để theo dõi
- Giai đoạn lúa 40 – 45 ngày: đây là giai đoạn bón đón đòng, lúc này cần bơm nước
vào khoảng 1– 3 cm trước khi bón phân, nhằm tránh ánh sáng làm phân hủy và
phân bị bốc hơi, nhất là phân đạm.
- Giai đoạn lúa 60 – 70 ngày: đây là giai đoạn lúa trổ nên cần giữ nước cho cây lúa
trổ và thụ phấn dễ dàng, hạt lúa không bị lép lửng.
- Giai đoạn lúa 70 ngày tới thu hoạch: là giai đoạn ngậm sữa, chắc xanh và chín nên
chỉ cần giữ mực nước từ bằng mặt ruộng đến thấp hơn mặt ruộng 15 cm (khi cần

qua việc làm giảm tổn thất do thấm trên kênh dẫn thông qua việc cải tạo, nâng cấp
hệ thống kênh dẫn nước bằng việc cứng hóa hay lát mái kênh. Hay nói cách khác là
dùng giải pháp công trình để giảm lượng nước tưới. Tuy nhiên biện pháp này
thường chỉ giảm được lượng nước từ 5 – 15%. Hơn nữa biện pháp này đòi hỏi vốn
đầu tư lớn. Ngoài ra các biện pháp khác như san phẳng đồng ruộng, sử dụng lại
nguồn nước hồi quy cũng là những biện pháp hữu hiệu trong việc giảm lượng nước
tưới của hệ thống.
Các biện pháp hứa hẹn mang lại nhiều kết quả là biện pháp giảm lượng nước
tưới tại mặt ruộng thông qua việc điều tiết lớp nước mặt ruộng nhằm nâng cao hiệu
quả sử dụng nước mưa, giảm các thành phần hao nước như thấm và bốc hơi mà
không ảnh hưởng đến năng suất lúa. Biện pháp tưới NLP là biện pháp được chú ý

7


nghiên cứu ở nhiều nước như Nhật, Trung Quốc, Philippines, Ấn Độ, Tây Ban Nha,
Mỹ...Dưới đây là một số nghiên cứu đáng chú ý:
 Các nghiên cứu ở Philippines
Trong giai đoạn từ 1968 – 1995 Viện nghiên cứu lúa quốc tế IRRI đã tiến
hành một số nghiên cứu nhằm nghiên cứu mối quan hệ giữa lượng nước tưới và
năng suất lúa [14]. Theo nghiên cứu của Bhuiyan và Tuong tiến hành năm 1995 cho
thấy, đối với lúa nước không nhất thiết phải luôn duy trì một lớp nước trên ruộng
nhằm đạt năng suất tối đa. Với biện pháp tưới NLP hợp lý áp dụng ngay từ đầu vụ
gieo cấy có thể giảm được lượng nước tưới tối đa từ 40% đến 45% so với tưới
NTX. Nếu áp dụng tưới NLP sau khi gieo cấy từ 35 – 40 ngày (khi tán lúa đã phủ
kín mặt đất) thì có thể tiết kiệm lượng nước tưới tối đa từ 25 –35% [15].
 Các nghiên cứu ở Nhật Bản
Phơi ruộng vào giữa giai đoạn sinh trưởng của lúa được công nhận là yếu tố
tăng năng suất lúa ở Nhật Bản. Biện pháp này đã được áp dụng từ những năm cuối
của thập kỷ 60 và ngày nay đã trở thành phổ biến ở Nhật Bản. Tuy nhiên việc

nghiên cứu của Mao Zhi 1996 về giá trị bốc hơi, thấm, và mức tưới yêu cầu của các
phương pháp tưới NTX và NLP.
Bảng 1: Giá trị trung bình bốc hơi, thấm, mức tưới yêu cầu của các biện pháp
tưới NTX và NLP
STT

Biện pháp tưới

Bốc hơi (mm)

Thấm (mm)

Mức tưới (mm)

1

Tưới NTX

765,4

514,9

1280,3

2

Tưới NLP

688,8


đạt tới 40% so với tưới NTX mà không làm giảm năng suất lúa [15].
Các kết quả tương tự cũng được ghi nhận thông qua nghiên cứu của Kijne
năm 1994 [17] như sau:
- Tưới không liên tục: Ruộng được tưới khi độ ẩm đất xuống thấp hơn độ ẩm đồng
ruộng. Lượng nước duy trì ở mức ngập nông. Phương pháp này có thể tiết kiệm
20% lượng nước tưới so với tưới ngập liên tục.
- Tưới ngập giai đoạn đầu: Áp dụng phương pháp này thì lượng nước tiết kiệm đến
40% nhưng năng suất cây trồng giảm 25%.
- Tưới NLP được thực hiện như sau: trước khi kết thúc thời kỳ trỗ bông 30 ngày
ruộng được tưới ngập nông, các giai đoạn khác luôn duy trì độ ẩm không nhỏ hơn
75% độ ẩm bão hòa. Phương pháp này có thể tiết kiệm được nước tưới là 25% mà
không làm giảm năng suất.
Một nghiên khác của Mishra và cộng sự cho thấy để đạt được sự tối ưu trong
năng suất lúa và hiệu quả sử dụng nước cần áp dụng kỹ thuật tưới NLP với thời gian
lộ tùy thuộc vào mực nước ngầm nông hay sâu. Với mực nước ngầm nông (dao
động từ 7 – 92 cm) thời gian lộ từ 3 – 5 ngày. Với mực nước ngầm trung bình (dao
động từ 13 – 126 cm) thời gian lộ từ 1-3 ngày [20].

10


1.3.2. Tình hình nghiên cứu tưới tiết kiệm cho lúa tại Việt Nam
Theo PGS.TS Nguyễn Văn Tỉnh – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy Lợi
thì kỹ thuật tưới tiết kiệm đã có mặt tại Việt Nam từ thập niên 60 của thế kỷ 20. Tuy
nhiên do thời điểm ấy hạn hán ít xảy ra nên phương pháp này không được chú trọng
[10]. Ngày nay khi biến đổi khí hậu diễn ra ngày một phức tạp cùng với sự không
ổn định về nguồn nước do 2/3 lượng nước hình thành hàng năm bên ngoài lãnh thổ
làm cho Việt Nam chúng ta phụ thuộc vào tỷ lệ khai thác, sử dụng nước của các
quốc gia vùng thượng nguồn. Mặt khác trong số gần 300 tỷ m3 nước hình thành
trong nội địa sự phân bố rất không đồng đều cả theo không gian và thời gian làm

nước tưới

Số lần Tổng lượng Số lần Tổng lượng

giảm nhờ

nước tưới tưới tiết kiệm

tưới

nước tưới

tưới

(lần)

(m3/ha)

(lần)

(m3/ha)

(%)

Vụ Đông Xuân

9

5262


Vụ Hè Thu

8

3250

14

4667

43,6

9

4937

15

5879

19,1

Năm 2006

Năm 2007
Năm 2008 Vụ Đông Xuân

Dựa vào bảng 3 có thể thấy phương pháp tưới tiết kiệm giúp tổng lượng
nước tưới cho lúa giảm từ 19,1% đến 43,6% so với quy trình tưới truyền thống. Số
lần tưới giảm từ 35% đến 45% (giảm từ 5 – 6 đợt tưới).

- 1,97

Vụ Hè Thu

65,0

63,0

+ 3,17

Vụ Đông Xuân

62,0

59,5

+ 4,20

Vụ Hè Thu

58,5

60,0

- 2,50

Vụ Đông Xuân

72,5


bị oxy hóa, các chất có hại cho lúa như H2S, CH4, FeS,… sản sinh ra trong quá trình
ngập nước được giảm trừ.
- Trên ruộng bón nhiều phân hữu cơ hoặc ruộng giàu mùn, bị ngập nước thường
xuyên, rút nước phơi mặt ruộng tạo điều kiện thuận lợi cho các quá trình phân giải
của vi sinh vật háo khí. Sau khi ngập nước trở lại, đất trở nên giàu chất dinh dưỡng
dễ tiêu để cung cấp cho cây lúa ở thời kỳ làm đòng, trổ bông. Vì vậy, có thể xem rút
nước phơi ruộng là một biện pháp bón phân thúc đòng cho lúa.
- Khống chế đốt lúa vươn dài và tăng độ cứng của gốc, tăng khả năng chống đổ của
cây lúa.
- Tích lũy thêm chất dinh dưỡng trong đất. Khi tháo cạn, các chất dinh dưỡng trong
đất như đạm, lân dễ tiêu đều giảm nhưng khi tưới lại thì lại tăng lên so với trước lúc
tháo cạn.
- Nâng cao tỷ lệ thành bông và hạn chế đẻ nhánh vô hiệu của cây lúa.

13


- Trong thời gian phơi ruộng, nước mao quản dâng cao có thể cung cấp nước cho bộ
rễ cây lúa sử dụng nên thời gian phơi ruộng hoàn toàn không ảnh hưởng đến quá
trình sinh trưởng của cây trồng.
Ngoài nghiên cứu trên thì còn một nghiên cứu đáng chú ý đó là đề tài
“Nghiên cứu quy trình công nghệ tưới tiết kiệm cho lúa và cà phê” [12] được tiến
hành nghiên cứu trên phạm vi ô thí nghiệm có kích thước 1,5 x 1,5m, bố trí 32 ô thí
nghiệm tại Trung tâm Nghiên cứu thủy nông Thường Tín thuộc Viện Khoa Học
Thủy Lợi Việt Nam trên nền đất sét pha với giống lúa Khang Dân. Thời gian nghiên
cứu được tiến hành trong 5 vụ từ 2006 – 2008. Trong thời kỳ đẻ nhánh và trổ bông,
ruộng lúa luôn được giữ ở chế độ tưới ngay sau khi ruộng cạn nước, các thời kỳ
khác thí nghiệm được tiến hành theo 10 công thức sau:
- Tưới nông thường xuyên với lớp nước mặt ruộng từ 30 – 50 mm.
- Tưới sâu thường xuyên với lớp nước mặt ruộng từ 50 – 100 mm.

tăng lên đáng kể. Tùy theo mức độ nứt nẻ mà lượng nước bị mất do thẩm lậu theo
chiều thẳng đứng có khác nhau. Song nhìn chung áp dụng tưới NLP hợp lý có thể
giảm được số lần tưới từ 2 – 4 lần.
Các kết quả từ nghiên cứu trên còn giúp đưa đến một số nhận xét sau đây:
- Không kể các loại hình đất có vấn đề như đất mặn, đất phèn...trên nền các loại đất
trung tính thì việc áp dụng chế độ phơi ruộng cho thấy các quá trình xảy ra trong đất
có lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của lúa. Khi phơi ruộng Eh tăng, tăng cường
ôxy trong đất điều này có lợi cho sự phát triển của rễ lúa, tăng cường hoạt động của
nhóm vi khuẩn có lợi tại vùng rễ lúa. Mặt khác phơi ruộng làm giảm các chất có hại
như Fe2+, H2S trong đất lúa.
- Cây lúa rất nhạy cảm với việc thiếu nước. Đặc biệt là trong một số thời kỳ như đẻ
nhánh, trổ bông, nếu thiếu nước giai đoạn này năng suất giảm rõ rệt. Các giai đoạn
khác cây lúa có thể sinh trưởng và phát triển tốt khi trên ruộng duy trì độ ẩm không
nhỏ hơn 80% độ ẩm đồng ruộng. Nếu áp dụng chế độ tưới hợp lý thì sẽ không làm
giảm năng suất lúa.
- Cây lúa ưa ẩm nhưng nếu trong ruộng nước ngập sâu thì cũng hạn chế sự sinh
trưởng nên năng suất giảm. Vì vậy cần khống chế mức nước ở trong ruộng hợp lý.

15


1.4. Tình hình nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ nước đến chuyển hóa N, P dễ
tiêu trên thế giới và Việt Nam
1.4.1. Tình hình nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ nước đến chuyển hóa N, P
dễ tiêu trên thế giới
Theo nghiên cứu của Chang và Chu (1959) và Turner và Gilliam (1976)
nhận thấy rằng sau khi đưa nước vào ruộng lân hòa tan tăng lên do FePO4.2H2O bị
khử thành Fe3(PO4)2 dễ hòa tan hơn [21].
Islam (1973) chỉ ra rằng khi đưa nước vào ruộng, lân được giải phóng từ lân
hữu cơ, đặc biệt là phytat sắt [8]. Trong đất cacbonat việc tích lũy CO2 sẽ dẫn đến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status