VIỆN NGHIÊN CỨU XÃ HỘI, KINH TẾ VÀ MÔI TRƯỜNG
DIỄN NGÔN - GIỚI VÀ TÍNH DỤC TRONG CUỘC SỐNG MUÔN MÀU
Bản quyền © 2014
ISBN: 978-604-908-860-5
Thiết kế bìa: KiMi Trần
Biên tập viên Alpha Books: Nhữ Vân
Không phần nào trong xuất bản phẩm này được phép sao chép
hay phát hành dưới bất kỳ hình thức hoặc phương tiện nào
mà không có sự cho phép trước bằng văn bản của Công ty Cổ phần Sách Alpha.
Chúng tôi luôn mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp của quý vị
độc giả để sách ngày càng hoàn thiện hơn.
Góp ý về sách, liên hệ về bản thảo và bản dịch:
Liên hệ hợp tác về nội dung số:
Liên hệ hợp tác xuất bản & truyền thông trên sách:
Liên hệ dịch vụ tư vấn, đại diện & giao dịch bản quyền:
NHÀ XUẤT BẢN TRI THỨC
Lời giới thiệu
DIỄN NGÔN vốn là tên gọi được lựa chọn cho diễn
đàn trực tuyến của Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và
Môi trường (iSEE) với những hàm ý về mối quan hệ đa
chiều của ngôn ngữ, tri thức và quyền lực. Mượn ý tưởng
về diễn ngôn (discourse) của nhà triết học Pháp Michel
Foucault, chúng tôi muốn khởi lập một diễn đàn học thuật
Bỡnh ủaỳng giụựi
9
Quyen ủa daùng giụựi tớnh
Beõn kia giụựi tớnh
Hửụựng tụựi tửụng lai
73
135
59
8
Bình đẳng giới
Phần I
BÌNH ĐẲNG GIỚI
dang dở như Việt Nam. Có lẽ, ấn tượng nhất trong các
phân tích là cuộc tấn công vào quan niệm của xã hội Việt
Nam về mại dâm - tình dục, vốn là những lĩnh vực xã hội
đang xảy ra cuộc chuyển biến mạnh mẽ nhất, mặc dù đây
cũng là mấu chốt của những nguy cơ khủng hoảng xã hội từ
bên trong nền tảng của nó. Mặc dù, chính vấn đề mại dâm
cũng khiến người ta nhận ra rằng, thật đáng đau đớn, cuộc
chiến chống lại những sức ép của định kiến giới lại xảy ra
nơi người phụ nữ bị xã hội lạm dụng nhất.
Phong trào nữ quyền là một trong những phong trào
dân sự lâu đời nhất. Tuy nhiên, nó cũng là một phong trào
khó khăn nhất vì đụng chạm đến lợi ích thiết thân của
nhiều người, mà đặc biệt là nam giới. Thật đơn giản, nếu
bình đẳng giới xảy ra thực sự, ai sẽ là người vào bếp nấu
cơm, rửa bát và giặt giũ quần áo cho gia đình? Câu hỏi cụ
thể, nhưng thách thức một trong những bất công lâu đời
và phổ biến nhất của loài người. Và có lẽ, nó chính là rào
cản lớn nhất vì nó hiện hữu hàng ngày.
Quay lại khái niệm cơ bản về vai trò giới, đó là quan
niệm xã hội quy định các công việc, trách nhiệm hoặc tính
cách (nam tính, nữ tính) là chuẩn mực cho nam giới và nữ
giới. Ví dụ đơn giản, phụ nữ làm các công việc nhẹ, thuần
thục việc nội trợ gia đình, và nên ăn nói nhẹ nhàng, e thẹn.
Nam giới làm các việc nặng, là trụ cột kinh tế gia đình,
và nên giao lưu xã hội rộng rãi. Đây là các “quan niệm xã
hội” do con người quy định, được xã hội chấp nhận và trở
12
13
mạnh mẽ, quyết đoán, nóng tính và hào phóng là của nam
giới. Điều này tưởng như hiển nhiên, nhưng nó tạo ra rào
cản cho phụ nữ làm lãnh đạo vì đa số người dân coi nam
tính (mạnh mẽ, quyết đoán) là tố chất cần thiết của lãnh
đạo. Nói cách khác, “nam tính” và “lãnh đạo tính” trùng
nhau nên tạo lợi thế cho nam giới trong việc thăng tiến.
Trong công việc cũng có sự phân định về nam tính và
nữ tính. Phụ nữ bị gắn với các nghề có thu nhập thấp hơn,
ví dụ như nhân viên văn phòng, thợ may, giáo viên tiểu
học hay phụ giúp việc. Nam giới được gắn với những việc
có thu nhập cao như quan chức chính phủ, cảnh sát và lập
trình viên. Phụ nữ thích các công việc ổn định, dành nhiều
thời gian cho gia đình, còn nam giới thích việc có thu nhập
cao và có thể chu du thiên hạ.
Đây là lát cắt cho thấy những định kiến giới vẫn đeo
bám trong giới trẻ Việt Nam. Tuy nhiên, điều gây bất ngờ
lớn nhất đó là phụ nữ lại là người đang níu kéo những giá
trị bất lợi cho vị thế của chính mình. Không có nghĩa nam
giới không còn định kiến giới, nhưng dường như họ lại
“thoáng” hơn trong việc chấp nhận những giá trị có tính
“giải phóng phụ nữ”.
Theo một nghiên cứu của viện iSEE, Trung tâm
CGFED và Quỹ châu Á, đa số phụ nữ mong đợi bạn đời
của họ kiếm được thu nhập cao trong khi chỉ chưa đến
20% nam giới mong đợi phụ nữ làm điều này. Đa số phụ
nữ muốn mình ở thế “bị động” và mong đợi nam giới phải
15
cách, là nguyên nhân của đổ vỡ gia đình, họ chịu sức ép to
lớn từ chính những người phụ nữ khác và phải chui vào vỏ
bọc chuẩn mực xã hội.
Nhưng có lẽ, một trong những nguyên nhân quan
trọng nhất chính là phong trào thúc đẩy bình đẳng giới ở
Việt Nam bị xé lẻ, thiếu thủ lĩnh và không nhận được sự
ủng hộ của quảng đại phụ nữ. Phong trào nữ quyền vẫn gói
gọn ở trong một số tổ chức xã hội dân sự, chưa trở thành
câu chuyện hàng ngày của phụ nữ và nam giới. Hơn nữa,
nhiều nhà hoạt động lại đòi hỏi các ưu tiên riêng biệt cho
phụ nữ, coi phụ nữ như một nhóm yếu thế hơn là một
nhóm phải được đối xử bình đẳng như với nam giới. Đây
chính là nguyên nhân dẫn đến tư duy và triết lý hoạt động
dựa vào sự ban phát hơn là quyền và bình đẳng.
Không ai có thể đòi quyền của mình mạnh bằng
chính bản thân mình. Người da đen không thể có quyền
bình đẳng nếu họ không dũng cảm đấu tranh và thách
thức sự phân biệt chủng tộc. Người đồng tính không thể
kết hôn nếu họ giấu mình và mong chờ sự ban ơn của
người dị tính. Đã đến lúc, phụ nữ phải thực hiện quyền
bình đẳng của mình, và bắt đầu từ một câu hỏi đơn giản
trong gia đình: Ai rửa bát sau khi ăn cơm?
16
Bình đẳng giới
Một đặc trưng nữa thường có liên hệ với quan niệm
về nam tính, cũng như quan điểm về uy quyền của đàn
ông, là người cha phải là người đóng vai trò chính trong
dạy dỗ con cái, nhất là con trai. Đặc tính này được thể
hiện theo hai cách: người cha phải quản lý việc học hành ở
trường của con, đồng thời phải biết chỉ bảo con cái trong
cuộc sống. Cha dạy con bao gồm giúp con làm bài tập ở
nhà, dạy cho con cả những bài học về xã hội, như làm
người đàn ông thì phải thế nào. Có mối quan hệ giữa uy
quyền – đặc trưng chính trong quan niệm về nam tính ở
Việt Nam – và cách nam giới thể hiện uy quyền thông qua
việc dạy bảo cả vợ lẫn con cái. Chính vì vậy, việc bị thách
thức uy quyền thường được coi là một lý do chính đáng để
nam giới sử dụng vũ lực.
Như vậy, là người chỉ giáo, biết giữ nền nếp, kỷ cương
và có uy quyền là những đặc trưng chính trong quan niệm
thế nào là đàn ông. Đây là những quan điểm phổ biến,
được đa số nhất trí ở tất cả các đối tượng, bất kể địa vị xã
hội, vị trí địa lý. Điều này cho thấy mức độ phổ biến của
những đặc trưng này, cũng như những nếp sống liên quan,
18
trong quan niệm bá quyền ở xã hội Việt Nam. Tuy nhiên,
những đặc trưng về quan niệm nam tính có khác nhau, do
ảnh hưởng của các yếu tố xã hội, kinh tế, địa lý. Hình mẫu
đàn ông lý tưởng theo mô tả của các nam giới ở Huế, phần
lớn là những người được học hành, lớn lên trong những
gia đình trung-thượng lưu, khá khác biệt so với những nam
vì như vậy mới đủ sức “chiến đấu”, được nể sợ, và con gái
mới thích vì có khả năng bảo vệ cho họ. Nam giới ở Hà
Tây thường xuyên nhắc đến với đặc tính nóng tính, nóng
nảy nên nếu vợ “hỗn” thì bị chồng đánh là bình thường,
trừ khi có người can ngăn. Như vậy, phụ nữ phải tránh
lúc chồng “nóng tính” và phải biết “nhịn” khi chồng đang
nóng. Những ý kiến về việc nam giới nóng tính này phù
hợp với kết quả nghiên cứu hiện nay về quan niệm văn hóa
trong sự khác biệt giữa phụ nữ (âm) và nam giới (dương)
ở Việt Nam.
Những khác biệt rõ ràng giữa Huế và Hà Tây cho
thấy vai trò của những yếu tố xã hội, kinh tế, địa lý trong
việc hình thành nên một số (dù không phải là tất cả) các
quan niệm phổ biến về nam tính, đồng thời cũng cho biết
cách hiểu của nam giới về hình mẫu đàn ông lý tưởng chủ
yếu được xây dựng dựa trên các giả định về uy quyền của
nam giới so với phụ nữ. Tuy các đặc tính của nam tính có
khác nhau do yếu tố vùng miền, văn hóa mang lại, nó đều
tựu chung về một điểm: Nam giới phải nam tính và phải
dạy vợ, con để ổn định gia phong, và củng cố vị thế bá
quyền của mình.
20
Bình đẳng giới
Dịu dàng là vũ khí hay gông cùm của phụ nữ?
Mạnh Hải
thường nghiêm khắc với những người đàn ông khiêm
nhường hoặc “yếu đuối” trong khi phụ nữ lại ủng hộ
những người phụ nữ hiền lành. Như vậy, cả đàn ông và
đàn bà đều cổ súy cho chuẩn mực tự tâng của đàn ông và
hiền dịu của phụ nữ.
Các nghiên cứu về tâm lý còn cho thấy nam giới và
phụ nữ giao thiệp rất khác nhau. Phụ nữ thường nói một
cách ngập ngừng hơn đàn ông, và họ thường nói ngập
ngừng với đàn ông hơn là với phụ nữ. Nam giới lại thích
những người phụ nữ ăn nói dịu dàng, và họ bị ảnh hưởng
bởi phong cách ngập ngừng của phụ nữ hơn. Như là hậu
quả, phụ nữ thường nói nhẹ nhàng và bị giảm cơ hội của họ
có được những vị trí lãnh đạo trong quản lý, chính trị. Điều
này là do các thuộc tính của lãnh đạo thường được gắn với
“mạnh mẽ, quyết đoán”, và rõ ràng là không phù hợp với
phụ nữ hiền dịu.
22
Như vậy, các chuẩn mực và khuôn mẫu giới được cổ
súy bởi xã hội, đặc biệt bởi đàn ông. Nếu những chuẩn
mực và khuôn mẫu này không được đánh đổ thì bất bình
đẳng giới sẽ chỉ càng trở nên nghiêm trọng. Một chiến
lược hiệu quả có thể đóng góp giải quyết vấn đề này đó là
“cấy những thông điệp chuẩn mực” tích cực để thay đổi
diễn ngôn về giới.
Trong cuộc sống, người ta thường làm những gì
mà được xã hội chấp nhận hoặc coi là phổ biến. Ví dụ ở
Singapore, đường phố sạch sẽ nên không ai vứt rác ra đường
hành vi tốt, mọi người sẽ tuân thủ một cách tốt hơn. Cùng
với các chiến lược về giáo dục và kinh tế, phương pháp tiếp
cận tâm lý sẽ bổ sung và đóng góp vào việc xóa bỏ định kiến
giới và bất bình đẳng giới, đặc biệt trong các chiến dịch
truyền thông.
24
Bình đẳng giới
Tình dục, mại dâm và sự thiệt thòi của phụ nữ
Thu Hiền
“Nam nữ thụ thụ bất thân” là một giá trị “lâu đời”
của nhiều người Kinh. Cho đến ngày nay nó vẫn được duy
trì ở cả nông thôn và thành thị. Trên thực tế, nó được sử
dụng để “quản lý” hành vi tình dục của phụ nữ nhiều hơn
là đàn ông. Điều này được thể hiện qua các hình phạt như
“cạo đầu bôi vôi” ngày xưa, hoặc những câu châm ngôn cay
độc “gái không chồng mà chửa” được dùng ngày nay nhằm
lên án và ngăn cản các hành vi quan hệ tình dục trước hôn
nhân, hoặc ngoài hôn nhân của phụ nữ. Trong những vụ
việc này, người đàn ông dường như vô can và không chịu
hình phạt nào của xã hội.
Tương tự như vậy, gần đây rộ lên những bàn luận về
chuyện mại dâm nam mà khách hàng là những người phụ
nữ trung niên. Do những hoàn cảnh khác nhau như độc
thân, không thỏa mãn nhu cầu tình dục với chồng, hoặc
đơn giản muốn tìm cảm giác lạ mà những người phụ nữ
26
nữ. Mà làm vợ, có nghĩa là thực hành chức năng của “giống
cái” – thỏa mãn nhu cầu tình dục của giống đực và sinh
con đẻ cái. Chính vì vậy, khi nam giới phải phục vụ nữ giới
trong tình dục đã đi ngược lại vai trò giới trong quan hệ
tình dục. Nó đe dọa vị thế và nam tính của người đàn ông.
Đây là lý do để nhiều người chĩa mũi dùi vào người phụ
nữ đi mua dâm.
Nhưng có lẽ, nguyên nhân quan trọng nhất đó là
quan niệm về tình dục vẫn tồn tại trong xã hội: tình dục
phải gắn với hôn nhân và duy trì nòi giống. Đối với nhiều
người, tình dục phải gắn với “tính loài” nên tình dục ngoài
hôn nhân và không gắn với sinh sản là vi phạm đạo đức
nghiêm trọng. Nó đi ngược lại thuần phong phong mỹ
tục. Để duy trì đức hạnh, người phụ nữ phải kìm nén và
hy sinh nhu cầu tình dục của mình.
Rõ ràng người phụ nữ đi mua dâm đang bị lên án
nhiều hơn người đàn ông đi mua dâm. Xét trên khía cạnh
quyền bình đẳng, phụ nữ cũng như người đàn ông đều có
quyền có cuộc sống tình dục an toàn và thỏa mãn. Nếu quan
hệ tình dục của người phụ nữ không vi phạm những giá trị
đạo đức (như ngoại tình hoặc quan hệ cận huyết) hoặc sức
khỏe (như lây nhiễm bệnh tật) thì cũng cần phải được tôn
trọng. Chính vì vậy, việc người phụ nữ đi mua dâm (nếu
mại dâm được hợp pháp hóa) cũng cần coi là bình thường
và được tôn trọng như người đàn ông đi mua dâm.
động dựa trên hợp đồng (thường là bằng miệng) giữa hai
người trưởng thành, theo nguyên tắc “có đi có lại”. Người
bán dâm có trách nhiệm cung cấp dịch vụ, đó là cơ thể và
kỹ năng của mình để cho người mua dâm thỏa mãn nhu
cầu tình dục. Người mua dâm có nghĩa vụ trả tiền cho
người bán dâm theo thỏa thuận hợp đồng. Vì người bán
dâm sở hữu cơ thể của mình, nên họ hoàn toàn có quyền
làm điều đó. Còn người mua dâm là công dân nên có tư
cách pháp nhân thực hiện giao dịch dân sự này.
Tranh cãi về mại dâm thường xuất phát từ giá trị đạo
đức của việc mua bán dâm. Nếu xét về đạo đức, chúng ta có
thể xem xét từ hai khía cạnh: bản chất của việc bán dâm và
ảnh hưởng/hậu quả của việc mua bán dâm. Như thảo luận ở
trên, việc mua bán dâm là một việc tự nguyện, người bán dâm
đối xử tốt với khách hàng của mình, còn người mua dâm tôn
trọng người cung cấp dịch vụ cho mình. Cả hai đều đạt được
mục đích, một người có thu nhập một người được thỏa mãn.
Chính vì vậy, bản thân hoạt động mua bán dâm không vi
phạm đạo đức vì hai người liên quan không bị lợi dụng hoặc
tổn hại gì.
Nhiều người cho rằng cho phép mại dâm sẽ hạ thấp giá
trị của người phụ nữ vì đa số người bán dâm là phụ nữ. Ở
đây, có hai vấn đề cần phải làm rõ. Thứ nhất, những người
Bình đẳng giới
29
bán dâm có thể là cả nam giới và nữ giới vì cả phụ nữ và đàn
ông đều có nhu cầu mua dâm. Thứ hai, những người phụ
hệ như thế nào, với ai thì là quyền của mỗi người, tùy vào
giá trị đạo đức, tôn giáo cũng như điều kiện kinh tế, xã hội
của họ. Rõ ràng, nhu cầu này là độc lập với gia đình vì họ
là những người trưởng thành, chưa lập gia đình.
Như vậy, hoạt động mua bán dâm không vi phạm
quyền con người của ai, không làm thấp giá trị của ai,
không làm tổn hại giá trị đạo đức tốt đẹp nào, và không
phải là nguyên nhân phá vỡ gia đình. Ngược lại, việc cấm
hoặc tội phạm hóa mại dâm lại có những vấn đề về công
bằng và đạo lý mà chúng ta cần phải phân tích.
Thứ nhất, như đã nói ở phần đầu, con người là tự do
và bình đẳng, có quyền sở hữu cơ thể của mình, sử dụng
sức lao động của mình vào những việc không làm tổn hại
đến quyền của người khác. Cấm mại dâm, có nghĩa là tước
đi quyền sở hữu cơ thể và sức lao động của những người
phụ nữ và nam giới bán dâm. Điều này cũng có nghĩa là
họ bị đối xử không bình đẳng như những con người khác
trong việc lựa chọn nghề nghiệp của mình.
Thứ hai, những người vẫn thực hiện hoạt động bán
dâm vô hình chung trở thành yếu thế trong giao dịch hợp
đồng mua bán dâm với khách hàng của mình. Khi hoạt
động của họ là phi pháp, có nghĩa họ không được bảo
vệ, không có quyền lực để đàm phán và bắt khách hàng
thực thi nghĩa vụ trả tiền theo hợp đồng. Điều này dẫn tới
Bình đẳng giới
31
những chèn ép, quỵt tiền, hoặc hành hung, đánh đập họ
đình và xã hội để cho mọi người tự quyết định cho hành vi
đúng sai của mình.
Việc hợp pháp hóa mại dâm là việc đúng nên làm, vì
rõ ràng nó không vi phạm giá trị đạo đức cũng như quyền
của bất kỳ ai. Ngược lại, việc cấm mại dâm đang vi phạm
quyền sở hữu thân thể và sức lao động của những người
bán dâm. Nó tạo ra sự bất bình đẳng và yếu thế cho những
người bán dâm. Đây chính là vấn đề đạo đức của việc cấm
mại dâm cần được gỡ bỏ. Khi đó, việc hợp pháp hóa mại
dâm cũng giúp cho nhà nước quản lý tốt hơn, minh bạch
hơn và nhân văn hơn.
Bình đẳng giới
33
Đàn ông Việt Nam: bạo lực và ngoại tình?
Vũ Hồng Phong
Scott và Trương Thị Kim Chuyên (2007) đã nêu lên
rằng hình ảnh bạo lực của đàn ông người Kinh nổi lên rất
rõ trong các nghiên cứu xuất bản trong nước. Đó là người
đàn ông có gia đình, chịu ảnh hưởng của đạo đức Khổng
giáo: là người trụ cột trong gia đình, coi trọng dòng họ cha
và việc thờ cúng, coi trọng việc có con trai, cũng như coi
sử dụng bạo lực như một cách để thể hiện vai trò làm chủ
trong gia đình. Người đàn ông đó sẽ bị xem là kém cỏi, mất
mặt, hay mất danh dự nếu không phải hay không thể là trụ
cột gia đình, không coi trọng việc thờ tự và quan hệ dòng
họ, không có con trai, và không “biết” dạy vợ.
tế, xã hội mạnh mẽ ở nông thôn Việt Nam trong những
thập kỷ gần đây đối với những hình mẫu nam tính và nữ
tính theo truyền thống Khổng giáo đó.
Khi trào lưu nghiên cứu về tính dục trở nên nở rộ
vào giữa những năm 1980s, thời điểm mà người ta tìm
thấy mối liên hệ giữa sự truyền nhiễm HIV và quan hệ
Bình đẳng giới
35
tình dục, thì người đàn ông ngoại tình bỗng trở thành đối
tượng giám sát của ngành y tế công cộng (Choi et al., 1994;
Mitsunaga et al., 2005). Ở Việt Nam, từ giữa những năm
1990 trở lại đây, do ảnh hưởng của trào lưu này, nhiều
nghiên cứu đã tập trung vào chủ đề quan hệ tình dục ngoài
hôn nhân của nam giới, và gần đây hơn, thì đã tập trung
vào quan hệ tình dục trước hôn nhân của nam giới. Hầu
hết các nghiên cứu này đều gắn hành vi quan hệ ngoài hôn
nhân với các nguy cơ mắc bệnh lây truyền qua đường tình
dục, và việc làm lây lan các bệnh đó cho những người ‘bình
thường’ khác.
Một ví dụ tiêu biểu cho loại nghiên cứu này là công
trình của Phinney (2008). Khi nghiên cứu những biến đổi
về kinh tế, xã hội thời kỳ sau Đổi Mới ở Hà Nội, Phinney
nhận thấy rằng những biến đổi này, như là sự dư dả về tiền
mặt, sự bùng nổ của các dịch vụ giải trí, quảng cáo hướng
đến nam giới và nam tính, và sự sẵn có của các cơ hội ngoại
tình khác, đã góp phần hình thành và thúc đẩy sự ngoại
tình ở nam giới. Phinney đã rất giỏi trong việc vận dụng
cho những người này che giấu hành vi của mình hơn để đối
phó lại sự kỳ thị chống lại họ.
Rõ ràng việc tập trung vào người đàn ông bạo lực và
người đàn ông ngoại tình mà các nghiên cứu về nam tính
ở Việt Nam trình bày trong bài viết chưa thể hiện được sự
đa dạng của các loại nam tính. Hơn nữa, việc một số học
giả cố gắng định nghĩa nhóm nam giới bạo lực hay ngoại
Bình đẳng giới
37
tình là các nhóm ‘có nguy cơ’ phản ánh sự vượt trội của
các chương trình nghiên cứu được tài trợ bởi các quỹ hay
các tổ chức có mục đích chính là nâng cao sự bình đẳng
giới cho phụ nữ, hay phòng chống sự lan truyền của HIV/
AIDS ở Việt Nam.
Theo mạch này, ngày càng nhiều ‘nhóm nguy cơ’ mới
sẽ được phát hiện. Ví dụ, gần đây đã có một số người nói
đến sự cần thiết phải nghiên cứu nguy cơ nhiễm HIV/
AIDS trong nhóm nam quan hệ tình dục cùng giới (MSM)
hoặc nam thành phố lao động tự do. Đặc điểm chung của
những người bị gán mác ‘có nguy cơ’ là họ là nhóm yếu thế
hơn, hay nói cách khác là cách làm đàn ông của họ không
được những nhóm khác có nhiều quyền lực hơn ủng hộ.
Những người càng yếu thế thì càng khó có khả năng kháng
cự lại cái nhãn ‘có nguy cơ’ mà người ta gán cho họ. Việc
này dẫn đến định kiến kỳ thị, tạo ra hình ảnh xấu xí của
người đàn ông Việt Nam. Hơn nữa, nó có thể dẫn đến tự
định kiến và gây ra những khó khăn cho việc tham gia của
Chính quan niệm Nho giáo này đã đẩy người phụ nữ
vào thế bị động, như hạt mưa sa vào trong giếng nước, gặp
giếng trong thì hạnh phúc, gặp giếng đục thì tủi hờn. Vị thế
“yếu và phụ thuộc”, do quan niệm xã hội tạo ra, làm người
phụ nữ không dám phản kháng lại những bất công, bạo lực
đối với mình. Có người cũng muốn thoát ra, nhưng ngay lập
tức bị bủa vây bởi định kiến xã hội, cho rằng gia đình tan vỡ
là do người phụ nữ không biết nhường nhịn, “chín bỏ làm
mười”. Họ bị đổ lỗi là nguyên nhân thất bại trong việc giữ
lửa cho gia đình. Điều này một lần nữa đẩy người phụ nữ
quay lại với cuộc sống địa ngục có tên là bạo lực gia đình.
Có những người phụ nữ vượt qua được lễ giáo, và sẵn
sàng bỏ qua dư luận để giải thoát mình. Tuy nhiên, họ lại
bị ràng buộc bởi suy nghĩ “hy sinh đời mẹ vì hạnh phúc của
đời con”. Họ bị thuyết phục rằng ly dị có nghĩa là tạo ra
một gia đình tan vỡ, con sẽ phải sống với mẹ, hoặc với cha.
Một gia đình không “tròn trịa”, thiếu cha hoặc thiếu mẹ,
sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của con cái. Chính vì vậy,
việc chạy trốn khỏi bạo lực gia đình bị xem như là hành vi
ích kỷ, chỉ nghĩ đến bản thân, không quan tâm đến con
cái. Người mẹ nào cũng thương con, và vì con, họ lại chịu
đựng cuộc sống tủi nhục của mình.
Nhiều nghiên cứu khác nhau, ví dụ của Judith S.
Wallerstein, cho thấy ly hôn có tác động đến sự phát triển
của trẻ. Sự chia tay của cha mẹ, có thể để lại một vết sẹo
tiêu cực, làm cho trẻ khó khăn hơn trong quá trình trưởng
40
41
Sự bất công, dường như đã được định sẵn khi họ ký vào
tờ giấy kết hôn. Khi họ muốn từ bỏ sự bất công, thì xã hội
lại thuyết phục họ hy sinh mình vì cái gọi là “gia đình” hay
“tương lai con cái” để sống chung với bạo lực. Đây là lý do
làm nhiều người phụ nữ bị đánh đến tàn phế, hoặc bức tử
vì không còn lối thoát nào.
Ngày nay, có nhiều nỗ lực trong luật pháp và hoạt
động của các tổ chức phi chính phủ để đảm bảo quyền
bình đẳng của phụ nữ, như việc ban hành các luật Hôn
nhân gia đình, Luật bình đẳng giới, và Luật phòng chống
bạo lực gia đình. Tuy nhiên, các nỗ lực này chỉ có tác dụng
nếu nó thực sự coi gia đình là kết hợp dân sự bình đẳng, là
môi trường yêu thương và chăm sóc lẫn nhau. Nếu vẫn coi
gia đình là nơi duy trì nòi giống (cho dòng họ nhà chồng),
là tế bào của xã hội nên phải giữ gìn và “hoàn thiện”, nghĩa
là có một vợ, một chồng và các con, thì các nỗ lực này còn
lâu mới có kết quả.
Và cuối cùng, người phụ nữ là tự do và bình đẳng.
Họ lập gia đình để mưu cầu hạnh phúc. Nếu gia đình
không đảm bảo hạnh phúc cho họ, họ không nên khư khư
giữ nó, các đoàn thể và cơ quan hòa giải không nên ép họ
giữ nó. Đây là lý lẽ đơn giản để ly dị là một giải pháp, chứ
không phải là một điều tồi tệ cho những người phụ nữ bị
bạo hành.
42
Không nhất thiết. Nhiều quốc gia đi theo mô hình
không hình sự hoá hành vi mua và bán dâm, nhưng cấm
các hành vi tổ chức xung quanh như dẫn khách, mở nhà
thổ v.v… với mục đích đánh vào những kẻ ăn bám trên
lưng người phụ nữ. Nói cách khác, ở đây làm “gái gọi” độc
lập thì hợp pháp, nhưng làm má mì thì không.
3. Mại dâm không phải là một ngành kinh tế đáng mong đợi
Vì sao ngành đánh bốc lại đáng mong đợi hơn? Ở đó
thiên hạ trả tiền xem hai người đánh nhau bật máu, gãy
răng. Đau đớn lắm.
4. Không thể tách rời giữa buôn nguời và mại dâm, chúng
liên quan rất mật thiết với nhau
Tách rời được. Mại dâm hay được chia ra làm ba loại:
Đứng đường, trong nhà chứa, và làm việc độc lập (call girl).
Ở các nước Tây Âu, mại dâm đứng đường là nguy hiểm
nhất cho người bán dâm vì nguy cơ gặp khách bạo lực, côn
đồ lớn hơn ở các dạng kia. Ở Việt Nam, các nhà chứa là nơi
tiềm ẩn nạn buôn người lớn nhất. Mô hình cấm nhà thổ
nói trên đánh vào vấn đề này, chuyển nhu cầu mua dâm
sang gặp phần cung khác.
5. Mại dâm đi liền với ma tuý
44
Ca sĩ và người mẫu cũng đi liền với hút, chích, lắc. Ta
cấm luôn cả hai nghề này cho tiện.
6. Mại dâm phá hoại phẩm giá của phụ nữ, không thể dùng
tiền để mua phụ nữ
Ta nên lập luôn một hội đồng xét duyệt các trường
sinh hoạt tình dục với nhau trong khi không còn yêu nhau
nữa? Bởi vì không còn yêu nhau nữa mà vẫn làm tình với
nhau thì còn gì là thiêng liêng? Tiện thể cấm luôn cả thủ
dâm, vì thủ dâm thì thiêng liêng với ai?
10. Tôi không muốn Việt Nam nổi tiếng vì công nghệ tình
dục.
Hà Lan nổi tiếng vì công nghiệp tình dục, 5% tổng
thu nhập quốc dân của họ tới từ ngành công nghiệp này.
May quá, chúng ta không phải là người Hà Lan.
11. Người Việt Nam vốn đã lười, hợp pháp hoá mại dâm thì
các cô gái sẽ làm gì?
Hoá ra các cô gái Việt Nam vốn lười biếng, chỉ chăm
chăm đi vào con đường mại dâm. Lại may quá, ta có pháp
luật ngăn lại!
Vậy khi quy kết mại dâm là tội phạm không phải là
biện pháp hữu hiệu để giảm thiểu nó thì có cách nào khác
không? Theo các nhà nghiên cứu kinh tế và xã hội, có ba nỗ
lực chúng ta có thể làm để giảm thiểu mại dâm:
Tăng thu nhập của phụ nữ ở những ngành khác:
Khi cơ hội thu nhập cao ở những lĩnh vực khác nhiều
lên, sẽ ít phụ nữ chọn mại dâm là công việc để nuôi sống
bản thân và gia đình. Các khảo sát chỉ ra rằng ở Tây Âu tỉ
46
lệ người bán dâm hồi đầu thế kỷ 20 cao hơn bây giờ rất
nhiều. Hiện nay, người bán dâm ở những quốc gia này chủ
yếu là người nhập cư, những người có cơ hội hạn chế hơn
ở các lĩnh vực khác.
mất trên thị trường hôn nhân… Nhìn nhận mại dâm như
một chiến lược của phụ nữ sẽ giúp chúng ta hiểu hơn về
quá trình tiến hoá của hôn nhân.”
48
Bình đẳng giới
Hợp pháp hóa mại dâm việc sai không được làm
Lệ Quyên
Hoạt động mua bán mại dâm tưởng là bình đẳng,
nhưng thật ra là một việc làm phi đạo đức và không công
bằng. Hai cơ thể con người, sinh ra tự do và bình đẳng,
thì phải được đối xử công bằng như nhau. Trong mại dâm,
một người phải đưa thân xác ra mua vui cho một người; cơ
thể người mua dâm có được khoái cảm và thỏa mãn dục
vọng; cơ thể người bán dâm không có khoái cảm, thậm
chí đau đớn. Việc “tự nguyện” tham gia hợp đồng mua bán
dâm chỉ đúng với người mua dâm vì họ chủ động đi thỏa
mãn nhu cầu và sẵn sàng trả tiền. Còn với người bán dâm
không phải là tự nguyện, mà họ buộc phải lựa chọn vì cuộc
mưu sinh của mình. Hoạt động mua bán dâm thể hiện sự
bất bình đẳng giữa hai con người.
Hợp pháp hóa mại dâm cũng đồng nghĩa với việc hợp
pháp hóa các đường dây cung cấp “hàng mới” cho các nhà
chứa. Điều này cũng có nghĩa là toàn bộ hệ thống buôn
người, ma cô, bảo kê sẽ được huy động để săn lùng phụ