Báo cáo " NHỮNG HẬU QUẢ VÀ LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA SỰ HÌNH THÀNH GIA ĐÌNH, GIỚI VÀ GIÁO DỤC TRONG KHU VỰC THU NHẬP THẤP Ở ĐỨC" pot - Pdf 12

Silke Aisenbrey. 2009. "Economic penalties and rewards of family
formation, gender and education in the low-income sector in Germany"

NHỮNG HẬU QUẢ VÀ LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA SỰ HÌNH THÀNH GIA ĐÌNH,
GIỚI VÀ GIÁO DỤC TRONG KHU VỰC THU NHẬP THẤP Ở ĐỨC

Silke Aisenbrey Tóm tắt
Bài viết này nghiên cứu những tác động khác nhau của sự hình thành gia đình đối với sự
dễ bị tổn thương về mặt kinh tế của nam giới và phụ nữ. Câu hỏi đặt ra ở đây là liệu
những khoản đầu tư vào giáo dục có đem lại đủ những nguồn lực cần thiết để thoát khỏi
nguy cơ đói nghèo trong khu vực có thu nhập thấp hay liệu những thay đổi về đặc điểm
gia đình có phải là những nhân tố quan trọng hơn quyết định mức sống của một cá nhân
không. Những thay đổi về đặc điểm gia đình được xác định trên hai cơ sở là khi vợ hoặc
chồng gia nhập hoặc rút ra khỏi hộ gia đình và họ thuộc thị trường lao động nào. Nghiên
cứu này tập trung vào các hộ gia đình thuộc khu vực có thu nhập thấp tại Đức, đây là bộ
phân dân cư có nguy cơ bị đói nghèo cao trong hệ thống phúc lợi xã hội, một hệ thống có
trách nhiệm làm giảm nhẹ những tác động của các thay đổi về mô hình gia đình không
tính đến yếu tố giới. Những kết quả thu được từ phân tích tập hợp hồi quy cho thấy rằng
trái với nam giới, phụ nữ được hưởng lợi về mặt kinh tế từ đầu tư vào các mô hình gia
đình truyền thống bằng hoặc nhiều hơn là đầu tư vào thị trường lao động mà họ đang
tham gia. Điều này đặc biệt đúng với trường hợp của các phụ nữ có trình độ học vấn
thấp.

Các từ vựng chính: Khu vực có thu nhập thấp; các đặc điểm của hộ gia đình; hệ thống
phúc lợi; giới; các thuận lợi lũy tích. Nghiên cứu về sự bất bình đẳng gần đây đã khiến chúng tôi đi sâu nghiên cứu

khái niệm này.
Một khía cạnh khác của những vấn đề này có thể xuất phát từ nghiên cứu về hệ
thống phúc lợi và tác động của nó đối với những mối quan hệ giới (xem, ví dụ Orloff
1993). Những hậu quả và lợi ích kinh tế có liên quan đến những lựa chọn về, và những
thay đổi trong cơ cấu gia đình nằm trong bối cảnh hệ thống phúc lợi xã hội. Phương pháp
tiếp cận này tập trung nghiên cứu hệ thống phúc lợi cho phụ nữ giúp họ thiết lập và duy
trì hộ gia đình mà không phụ thuộc vào người trụ cột là nam giới như thế nào. Ở đây, câu
hỏi trở thành: hệ thống phúc lợi xã hội có bảo vệ phụ nữ khỏi những hiểm nguy về kinh
tế bên ngoài gia đình truyền thống không, hay đó vẫn là tình trạng ‘phụ nữ ”chỉ cách
nghèo đói một người chồng”’ (Orloff 1993: 319)?
Bài viết này cố gắng kết hợp nguồn lực con người và các khía cạnh mô hình gia
đình vào bối cảnh các chính sách phúc lợi về giới ở Đức thông qua việc nghiên cứu xem
đầu tư vào giáo dục của một cá nhân có làm gia tăng hay bảo vệ họ khỏi nguy cơ nghèo
đói hiệu quả hơn đầu tư vào người bạn đời, người có khả năng làm thay đổi đáng kể
những cơ hội trong cuộc sống của riêng họ. Trọng tâm nằm ở những lợi ích và hậu quả
về kinh tế bắt nguồn từ những thuận lợi lũy tích hay những khó khăn về giáo dục, việc
làm, giới và cơ cấu gia đình. Nghiên cứu này tập trung vào các hộ gia đình ở Đức sống
dưới mức chuẩn thu nhập thấp, đây là một bộ phận dân số có nguy cơ bất ổn kinh tế cao
hoặc nghèo đói lâu dài trong bối cảnh hệ thống phúc lợi xã hội với nhiệm vụ bảo vệ.
Những kết quả thu được cho thấy những phụ nữ tìm được người bạn đời mới có cơ hội
tốt để thoát khỏi tình trạng dễ bị tổn thương về mặt kinh tế. Đối với phụ nữ, đầu tư vào
giáo dục và các cơ cấu gia đình truyền thống mở ra cho họ những con đường để thoát
khỏi khu vực thu nhập thấp. Mức sống của nam giới không phụ thuộc vào cơ cấu gia
đình.

Những thuận lợi / khó khăn lũy tích: giáo dục, mô hình gia đình, và hệ thống
phúc lợi 2

lớn bị tê liệt trong sự nghèo đói về kinh tế ở Đức (Hacket, Preissler và Ludwig-
Mayerhofer 2001). Tuy nhiên, các nghiên cứu khác lại tìm thấy bằng chứng cho thấy
giáo dục đóng vai trò trong việc rút ngắn thời gian nghèo đói (Leisering và Leibfried
1999).
Nghiên cứu luôn cho thấy rằng những cơ chế này không phải là không thấy vấn
đề giới ở cả mức độ cá nhân và thể chế. Việc phụ nữ phải đối mặt với việc dễ bị tổn
thương về kinh tế trong suốt cuộc đời họ nhiều hơn nam giới là khá rõ, tuy nhiên rõ ràng
là việc dễ bị tổn thương hơn này còn tùy thuộc vào các mức độ nguồn lực con người của
mỗi cá nhân. Ở mức độ vĩ mô, nam giới với học vấn cao hơn nhận được lương cao hơn
so với nữ giới trong thế giới công nghiệp hóa (Nickell và Bell 1996). Khoảng cách về
lương có thể khác nhau giữa các quốc gia, nhưng ý nghĩa của sự khác biệt này không
khác nhau: đó là phụ nữ được hưởng lợi ích kinh tế ít hơn từ những kỹ năng của họ.
Chúng ta cũng biết rằng sự khác biệt về lương giữa hai giới không thể được giải thích

3
tách biệt khỏi các kỹ năng, hay với kinh nghiệm làm việc và những khác biệt về học vấn
giữa nam giới và phụ nữ (ví dụ xem Aisenbrey và Bruckner 2008).
Nghiên cứu về các tác động của giáo dục chỉ chủ yếu tập trung vào khoản lương
của cá nhân nhận được. Trong bài nghiên cứu này, tôi xem xét những kết quả thu được từ
giáo dục ở một phương diện khác. Những kết quả thu được từ giáo dục được xem xét
trong bối cảnh tổng thu nhập của hộ gia đình. Phương pháp này dựa trên nghiên cứu về
mô hình gia đình và giả định rằng tập trung vào lương của cá nhân sẽ bỏ qua tác động
của những thay đổi trong hộ gia đình tới mức sống (ví dụ xem DiPrete 2002; DiPrete và
McManus 2000; Ducan, Gustafsson, Hauser, Schmauss và Mesinger 1993).

Sự dễ bị tổn thương về kinh tế và cấu trúc gia đình

Quan niệm cho rằng thay đổi về gia đình là một yếu tố quan trọng đối với sự ổn
định kinh tế của một cá nhân không phải là mới. Ngay từ năm 1901, Rowntree đã kết
luận rằng ‘cơ hội lớn cho người lao động tiết kiệm tiền là khi đến tuổi trưởng thành, và

động tách biệt với nam giới và phụ nữ, những kết quả đáng chú ý về nước Đức có thể bị
chi phối bởi những bất lợi mà phụ nữ phải đối mặt do tỷ lệ phụ nữ có việc làm thấp
(DiPrete 2000). Đối với Mỹ, McManus và DiPrete (2001) cho rằng đã có sự thay đổi
nhất thời về hàm ý của sự ly dị đối với nam giới, do sự gia tăng ngày càng mạnh của
những gia đình có cả vợ và chồng (suy giảm khả năng sinh sản trong hôn nhân, sự chung
sống gia tăng, và gia đình có vợ hoặc chồng tái hôn), phụ nữ tham gia vào lực lượng lao
động nhiều hơn, sự cách biệt về thu nhập giữa hai giới, và sự sụt giảm mạnh mẽ về việc
chu cấp nuôi con. Họ chỉ ra rằng ‘đa phần nam giới không có sự gia tăng về mức sống.
Trong thực tế hậu quả kinh tế nam giới phải gánh chịu khi chia tay và ly hôn là rất khác
nhau, với số đông phải chịu mất mát thiệt thòi, nhưng cũng có nhiều người lại được
hưởng lợi’ (McManus và DiPrete 2001: 266).
2

Các nghiên cứu khác lại không tập trung vào sự hình thành gia đình và mức sống
trên cùng khía cạnh này, mà lại tập trng vào những thiệt hại về tiền lương khi làm mẹ. Ví
dụ, Budig và England (2001) chứng minh rằng nói chung lương của các bà mẹ ở Mỹ thấp
hơn 7% so với lương của những phụ nữ không có con. Sự khác biệt này càng gia tăng tỷ
lệ thuận với số con. Những phụ nữ có 3 con có thu nhập ít hơn những phụ nữ không có
con là 22%. Ngoài ra, Waldfogel (1997) cũng phát hiện ra rằng tổn hại về lương do có
con hoàn toàn không phụ thuộc vào sắc tộc và học vấn. Đối với trường hợp nước Đức,
Aisenbrey và Bruckner (2008) chỉ ra rằng sự tổn hại khi làm mẹ đồng thời lại là cái lợi
khi làm cha: khi nghiên cứu sự hình thành gia đình và giáo dục, họ không chỉ thấy tác
động tiêu cực của con cái đối với tiền lương của người mẹ, mà họ còn thấy rằng những
người nam giới sống với con cái thường có lương cao hơn những người đàn ông không
sống với con. Nghiên cứu này cũng cho thấy rằng trong khi việc chung sống làm gia tăng
thu nhập của phụ nữ, thì nó lại không tác động gì đến thu nhập của nam giới. Họ kết luận
rằng những tác động khác nhau của sự hình thành gia đình đối với nam giới và phụ nữ
chiếm một phần tư sự khác biệt về lương xét về góc độ giới (trong từng nghề cụ thể).

Sự dễ bị tổn thương về kinh tế trong hệ thống phúc lợi ở Đức

‘Phân chia thuế trong hôn nhân’ giúp các cặp vợ chồng tiết kiệm tiền; với những cặp vợ
chồng có thu nhập ngang nhau thì khoản tiết kiệm này là ít nhất (Andress và Gullner
2001). Trong trường hợp ly hôn, người trụ cột kiếm tiền trong gia đình sẽ chịu phạt
thông qua việc mất các khoản phúc lợi về thuế, mặc dù anh ta hoặc cô ta phải chu cấp
cho vợ hoặc chồng cũ và con cái. Ngoài những khích lệ do hệ thống thuế ấn định, việc
thiếu hệ thống nhà trẻ, mẫu giáo với mức phí vừa phải, có ít lựa chọn cho việc gửi con
cái dưới 3 tuổi đến trường, ít các trường mẫu giáo và trường học nửa ngày khiến cho hộ
gia đình có cả vợ và chồng đều đi làm kiếm tiền thậm chí càng khó tồn tại.
Cùng với hệ thống khích lệ hỗ trợ các gia đình, cốt lõi của hệ thống phúc lợi của
Đức được dựa trên một nguyên tắc bảo hiểm là phúc lợi do chính phủ cung cấp như trợ
cấp thất nghiệp và lương hưu được phân bổ trên cơ sở những đóng góp trước đây trên cơ
sở nghề nghiệp. Bên cạnh các khoản phúc lợi trên cơ sở bảo hiểm như trợ cấp thất
nghiệp, còn một số cơ chế trợ cấp không dựa trên những đóng góp trước đó, gọi là các
khoản phúc lợi phổ thông. Những khoản phúc lợi không phụ thuộc vào tình trạng việc
làm hiện tại và trước đây này nhằm bảo vệ công dân khỏi bị đói nghèo hoặc giúp họ nâng
cao trình độ học vấn hay nuôi dạy con cái là một ví dụ. Nói chung, nếu các khoản phúc
lợi được dựa trên cơ sở bảo hiểm, phụ nữ phải chịu thiệt thòi nhiều hơn (Orloff 1993).
Tóm lại, các chinh sách gia đình ở Đức chủ yếu hỗ trợ các mô hình gia đình
truyền thống với một người trụ cột kiếm tiền. Đối với phụ nữ, những chính sách này
được hy vọng là sẽ tăng thêm sự khích lệ và lợi ích liên quan đến việc thiết lập hoặc duy
trì các cấu trúc gia đình truyền thống hơn là đầu tư vào nguồn lực con người. Nói một
cách khác, hệ thống phúc lợi của Đức nhằm hạn chế khả năng phụ nữ thiết lập và duy trì
hộ gia đình chỉ có người phụ nữ với vai trò người mẹ đơn thân. Động cơ nghiên cứu

Kết quả về mặt kinh tế của sự hình thành gia đình thay đổi sự phân bổ thu nhập
và giáo dục như thế nào vẫn còn là một câu hỏi mở (DiPrete và McManus 2000). Các kết
quả nghiên cứu về sự hình thành gia đình cho rằng tình trạng kinh tế của phụ nữ nhậy

cao hơn. Nhứng phát hiện này nhấn mạnh tầm quan trọng của nghiên cứu tập trung vào
bộ phận có thu nhập thấp và cho thấy có thể cho rằng mức sống của bộ phận có thu nhập
thấp có thể nhậy cảm với những thay đổi về các cấu trúc gia đình. Chúng tôi cũng cho
rằng điều này đặc biệt đúng với phụ nữ, bởi vì cơ cấu hệ thống phúc lợi của Đức củng cố
thêm mô hình người trụ cột kiếm sống cho gia đình và vì vậy cũng làm gia tăng sự phụ
thuộc của phụ nữ vào người bạn đời của họ. Xem xét sự khởi đầu khi nam giới và phụ nữ
bắt đầu rơi vào khu vực thu nhập thấp cho chúng ta cơ hội xem xét kỹ hơn những yếu tố
cần thiết để duy trì một hộ gia đình chỉ có người phụ nữ với vai trò người mẹ đơn thân.
Trên cơ sở tóm tắt tổng quan nghiên cứu về giáo dục, sự hình thành gia đình và
các khích lệ của hệ thống phúc lợi xã hội, sự ngoại lệ ở đây là những kết quả thu được về
mặt giáo dục trên thị trường lao động làm giảm nhẹ tác động của những thay đổi trong
cấu trúc gia đình đối với tình trạng kinh tế tốt. Những yếu tố này tích lũy thành những
thuận lợi và khó khăn để chứng minh tình trạng kinh tế tốt được ổn định và nâng cao như
thế nào. Giáo dục được hy vọng sẽ nâng kết quả thu được trên thị trường lao động;
những kết quả này cần phải đóng vai trò bảo vệ để tránh sự đổ vỡ kinh tế bắt nguồn từ sự

7
tan vỡ hay hình thành các cấu trúc gia đình. Xem xét các những kết quả thu được của
phụ nữ trên thị trường lao động thấp hơn so với nam giới, thì những tác động nhằm mục
đích giảm thiểu này được cho rằng là nhỏ hơn đối với phụ nữ. Những thay đổi về cấu
trúc gia đình bao gồm không chỉ sự kết hợp với và sự tách rời khỏi người bạn đời mà còn
bao gồm những thay đổi về tình trạng trên thị trường lao động của người bạn đời. Các
bất lợi của mối quan tâm là: giới, giáo dục, những kết quả thu được từ giáo dục, và tình
trạng gia đình. Xét về những sự bất lợi lũy tích, chúng tôi sẽ hy vọng rằng trong hoàn
cảnh của hệ thống phúc lợi của nước Đức, tình trạng kinh tế tốt của phụ nữ có trình độ
học vấn thấp là có khả năng bị tổn thương nhiều nhất bởi tất cả những thay đổi trong cấu
trúc gia đình. Cụ thể hơn, chúng tôi dự đoán là:

(1) Một người bạn đời có việc làm làm gia tăng mức sống về mặt kinh tế cho
người phụ nữ nhiều hơn là giành được việc làm cho chính họ, mặc dù đây


8
nhóm 20% thấp nhất trong giai đoạn quan sát đầu tiên hoặc những hộ có người trụ cột
gia đình thuộc diện nhận trợ cấp của chính phủ, như trợ cấp thất nghiệp hoặc trợ cấp xã
hội.
‘Chuẩn thu nhập thấp của hộ gia đình’ thay đổi theo các năm của từng vòng. Mức
chuẩn là 1.5 lần mức trợ cấp xã hội, bao gồm khoản điều chỉnh lạm phát và giá sinh hoạt
cũng như tầm cỡ hộ gia đình lớn hay nhỏ (Infratest 2002). Ví dụ, đối với hộ gia đình có 2
thành viên, mức chuẩn là 1240 Euro cho vòng đầu và 1330 Euro cho vòng thứ 6; đối với
hộ gia đình chỉ có một người, chuẩn thu nhập thấp tăng từ 770 Euro lên 825 Euro
(Aisenbrey 2005). Tôi lấy chuẩn này làm mốc khởi đầu để tính toán biến phụ thuộc của
mình, đó là mức sống (xem dưới đây).
Số đối tượng tham gia giảm đi trung bình trong toàn bộ quá trình nghiên cứu lặp
lại qua tất cả 6 vòng là 7%. Thiết kế nghiên cứu lặp lại này cho phép các hộ gia đình có
thể bị bỏ sót trong vòng này thì lại được đưa vào vòng sau. Tỷ lệ tử vong trong toàn bộ
nghiên cứu lặp lại này là 27% và tỷ lệ này không thiên về các biến được quan tâm
(Infratest 2002). Khả năng vẫn nằm trong mẫu không phụ thuộc vào các biến thường
được sử dụng để phân tích sự thất bại mang tính hệ thống trong các nghiên cứu lặp lại và
các biến có khả năng được quan tâm trong nghiên cứu này, như tình trạng gia đình, tuổi
tác, giáo dục hay tình trạng việc làm (Aisenbrey 2005). Mức trung bình của thu nhập hộ
gia đình sau điều chỉnh của chính phủ là 736 Euro ở vòng thứ nhất và 876 Euro ở vòng
nghiên cứu cuối cùng.
Trong các phân tích, những đối tượng sống trong các hộ gia đình bị loại ra nếu
rơi vào một trong các trường hợp sau: (a) cả hai vợ chồng đều nghỉ hưu, (b) người chồng
đã nghỉ hưu và người vợ ở nhà làm nội trợ hoặc (c) hộ gia đình gồm toàn các thành viên
đã nghỉ hưu. Ngoài ra, các đối tượng hơn 50 tuổi và dưới 25 tuổi cũng bị loại ra khỏi
phân tích. Để tránh giải thích không chính xác kết quả thu được, các đối tượng vẫn đang
ở trong hệ thống giáo dục cũng bị loại trừ. Do một số hộ gia đình được chọn đưa vào
mẫu vì người trụ cột gia đình được nhận trợ cấp, có một số hộ gia đình có thu nhập cao
hơn chuẩn thu nhập thấp. Vì nghiên cứu này tập trung vào các hộ gia đình có thu nhập

Chiến lược lập mô hình
Quá trình lập mô hình có hai bước do câu hỏi nghiên cứu gồm hai phần. Bước
đầu lập mô hình cho câu hỏi ai là người có thể hay ít có thể phải trải qua thay đổi trong
thời gian nghiên cứu nhất và bước thứ hai lập mô hình cho câu hỏi những thay đổi này
tác động như thế nào đến mức sống của mỗi cá nhân. Câu hỏi thứ nhất là về các xu
hướng hành vi, đó là bao nhiêu người thay đổi từ tình trạng A sang tình trạng B, và câu
hỏi thứ hai là điều này có tác động gì đến mức sống của họ. Vấn đề những xu hướng
hành vi khác nhau trong các nhóm tập trung vào các câu hỏi sau: Người ta có tránh
những lựa chọn đi kèm với áp lực lên mức sống của họ? Có tác động nào cản trở đối với
những lựa chọn không thuận lợi có thể đi kèm theo những bất lợi về kinh tế không? Và
mặt khác, có sự thu hút nào tới các lựa chọn thuận lợi, những lựa chọn đó có khả năng
dẫn đến kết quả là những lợi ích về kinh tế không. Những xu hướng hành vi này có khác
nhau giữa các nhóm giáo dục? Rõ ràng là những xu hướng hành vi này chỉ có thể được
giải thích trong sự tác động qua lại với với những thỏa thuận chính thức và trong ngữ
cảnh cấu trúc của chúng. Để lập mô hình cho phần này của quá trình, toi sử dụng các
phương pháp mô tả, các phương pháp này cho thấy sự phân bố các biến được quan tâm ở
vòng thứ nhất và vòng cuối cùng của nghiên cứu và tỉ lệ đầu vào và đầu ra của những
tình trạng khác nhau này.
Câu hỏi về các kết quả kinh tế của sự thay đổi tình trạng được nghiên cứu thông
qua các mô hình hồi quy để thu thập dữ liệu lặp lại. Các mô hình hồi quy lặp lại có thể
được tính toán với các tác động cố định (FEM), các tác động ngẫu nhiên (REM) hoặc
giữa các tác động (BEM). Các mô hình có thể được tính toán với các tác động ngẫu
nhiên nếu kết hợp giải thích các tác động thay đổi theo thời gian (trong mỗi người) và
yếu tố không thay đổi theo thời gian (giữa mọi người) được quan tâm. Nếu câu hỏi
nghiên cứu tập trung đặc biệt vào sự tách biệt giữa các tác động thay đổi theo thời gian,
thì nên tính toán các mô hình tách biệt. Có một cách là tách biệt các tác động (trong mỗi
người) trong các mô hình tác động cố định.
3
Mô hình các tác động cố định tính toán các
tác động của thay đổi trong biến độc lập đối với biến phụ thuộc, cũng được xem như là

được phân chia theo giới và trình độ học vấn. Nghiên cứu mới chỉ ra bản chất về giới của
hàng loạt các nhóm cơ cấu xã hội (Kruger 2001), chỉ ra rằng ‘yếu tố giới đã được phản
ánh trong nhiều các tiêu chuẩn đánh giá bất bình đẳng xã hội’ (Grunow 2006: 65). Nếu
yếu tố giới vốn đã nằm trong các hệ số của đa số các biến được đưa vào, thì một mô hình
kết hợp cho nam giới và phụ nữ sẽ mang tính định kiến (Sprague 1005). Vì vậy, tôi tính
toán các mô hình tách biệt cho nam giới và phụ nữ. Ngoài ra, tôi trình bày các mô hình
khác nhau cho các trình độ học vấn cho rõ ràng và dễ giải thích. Tôi đã tính toán tất cả
các mô hình với các tác động tương tác cho yếu tố giáo dục và giới và các hệ s
yP

Biến phụ thuộc:

Trong phần lớn thế kỷ trước, thu nhập của người nam giới là trụ cột trong gia
đình luôn là chỉ báo quan trọng về mức sống gia đình. Vào đầu thế kỷ trước, điều này
không đúng và nó đã thay đổi trong 15 năm qua (Rowntree 1901; DiPrete và McManus
2000). Tình trạng nghề nghiệp và thu nhập của người trụ cột kiếm tiến trong gia đình
dường như không còn là chỉ báo chính về mức sống của tất cả các thành viên gia đình.
Thu nhập của người trụ cột gia đình không bao gồm đóng góp của các thành viên khác
trong gia đình và nó không tính đến toàn bộ hộ gia đình. Ngoài ra, yếu tố này coi riêng
thu nhập của lực lượng lao động là đủ cho tình trạng kinh tế, mặc dù các khoản thu nhập
11
khác, bao gồm cả trợ cấp của chính phủ, ngày càng có thể hỗ trợ thêm cho thu nhập hộ
gia đình. Như McManus và DiPrete (2001: 252) đã viết: ‘Thu nhập trên danh nghĩa là
một chỉ số quan trọng của tình trạng kinh tế hộ gia đình, nhưng lại là một thước đo mức

Giáo dục được đo bởi một biến duy nhất (giả định), biến này cho thấy liệu một cá nhân
có được đào tạo lên cao hay không. Theo câu hỏi nghiên cứu, phân tích tập trung vào
mức độ khác nhau mà bằng cấp cao hơn (mà mới chỉ gần đây phụ nữ mới có thể đạt
được như nam giới) đem lại lợi ích về kinh tế cho nam giới và phụ nữ và những lợi ích
kinh tế này so với lợi ích kinh tế cho ‘sự hình thành các gia đình truyền thống’. Nghiên
cứu trình độ học vấn cao hơn và mối quan hệ của nó với các lợi ích kinh tế thu được từ
đó, tôi đã phân tích dữ liệu thu nhập hàng tháng ALLBUS 2002. Cách tốt nhất là chia cư
dân thành hai nhóm trên cơ sở khoảng thời gian họ đi học tại các cơ sở đào tạo: những
người đi học 16 năm hoặc lâu hơn và những người đi học dưới 16 năm tại các cơ sở đào
tạo. Dữ liệu ALLBUS 2002 cho thấy các cá nhân có học vấn cao có thu nhập trung bình
hàng tháng là 3554 Euro so với 2237 Euro của những người không có học vấn cao. Đơn
vị đo này bao gồm đi học tại trường học, các cơ sở đào tạo và các khóa học nghề chuyên
sâu. Đào tạo bậc cao được xác định là phải đạt được ít nhất một trong các bằng cấp sau:
(a) bằng tốt nghiệp trung học cơ sở cao nhất, bằng Abitur (ít nhất là 13 tuổi), (b) bằng
12
Degree), bao gồm bằng cấp do tất cả các cơ sở đào tạo bậc cao hơn, như các trường đại
học, trường kỹ thuật cấp (khoảng 16 tuổi).

Việc làm
Tình trạng việc làm được tính trong ba biến dự kiến là việc làm toàn thời gian,
việc làm bán thời gian và không có việc làm. Việc làm toàn thời gian bao gồm các công
việc với số giờ làm việc trên 30 tiếng một tuần.

Cấu trúc gia đình

Tôi đưa vào hai biến dự kiến để đo các tác động của việc có con đối với việc
được nhận trợ cấp: một biến được đánh mã số 1 cho trường hợp có 1 con và chỉ báo có 2

Giáo dục
Bằng cấp cao

18

17

38

28
13
Việc làm
Toàn thời gian
Bán thời gian
Không có việc làm
Có bạn đời
Có một con
Có hai con hoặc nhiều hơn
N

58
3
39
85
25
55
696

đối với phụ nữ lại ngược lại, cụ thể là nhiều phụ nữ ở khu vực thu nhập thấp sống độc
thân hơn là tỷ lệ chung của toàn dân. Hàm ý đầu tiên của kết quả mô tả này là học vấn
thể hiện rõ ràng hơn với nam giới hơn là với phụ nữ và nguy cơ rơi vào khu vực thu nhập
thấp cao hơn ở nam giới có bạn đời và ở phụ nữ sống độc thân không có bạn đời.

Kết quả

Kết quả được trình bầy ở hai phần. Phần thứ nhất tập trung vào các xu hướng
hành vi và phần thứ hai tập trung vào các tác động của những hành vi này lên mức sống.
Bảng II tóm tắt sự phân bố các biến được quan tâm ở vòng đầu và cuối và tỷ lệ
gia nhập và đi ra của các hệ thống khác nhau.
7
Tỷ lệ gia nhập và đi ra để đo xem liệu ít
nhất là một thay đổi có xảy ra trong thời gian quan sát không. Ví dụ, 24% nam giới
không có bằng cấp cao bắt đầu ít nhất là một công việc toàn thời gian trong thời gian
quan sát được thực hiện và 18% cuối cùng cũng làm ít nhất một công việc toàn thời gian
trong cùng thời gian đó. So sánh thời gian giữa vòng một và vòng sáu, và đặc biệt là các
tỷ lệ gia nhập vào và đi ra có thể được giải thích là các xu hướng hành vi của các nhóm
khác nhau. Rõ ràng là những xu hướng hành vi này chịu sự chi phối của ngữ cảnh cấu
trúc.
Nam giới có bằng cấp cao có tỷ lệ tham gia vào thị trường lao động cao nhât tính
đến thời điểm này. Đối với nam giới, những thay đổi khi có một việc làm toàn thời gian
là cao hơn đáng kể đối với những người có bằng cấp cao (35%) so với những người
không có bằng cấp cao (24 %), trong khi đó tình huống đó khó có thể xảy ra với phụ nữ
(22% so với 18%). So sánh cả 4 nhóm cho thấy tỷ lệ phụ nữ có bằng cấp cao có việc làm
thấp hơn (22%) tỷ lệ này của nam giới không có bằng cấp cao (24%). Tỷ lệ phụ nữ, đặc
biệt là những người có bằng cấp cấp cao, làm việc bán thời gian rất cao.
Tỷ lệ tham gia vào và đi ra khỏi một mối quan hệ với người bạn đời có tình trạng
việc làm cụ thể có thể bị chi phối bởi người bạn đời bước vào hay đi ra khỏi hộ gia đình


18
10

45
69
35
16

12
24
22
4
Việc làm bán thời gian
Vòng 1**
Vòng 6**
Gia nhập vào**
Đi ra**

1
2
2
2

12
22
15
10

9
5

18
11
Bạn đời có việc làm toàn thời gian
Vòng 1**
Vòng 6**
Gia nhập vào**
Đi ra**

7
14
12
8

38
47
18
12

6
18
14
17

27
37
15
9
Bạn đời có việc làm bán thời gian
Vòng 1**
Vòng 6**

10
23 41
39
7
5 18
15
3
3

50
48
5
3

15
Độc thân
Vòng 1**
Vòng 6**
Gia nhập vào**
Đi ra

14
14
2

26
Từ hai con trở lên
Vòng 1
Vòng 6

57
60

58
55

49
55

54
56
N vòng 1
N vòng 6
559
324
871
546
125
88
175
125
Ghi chú:
+ n <10 = in nghiêng; tham gia vào/đi ra xảy ra ít nhất một lần, sự khác biệt giữa các
nhóm; khác biệt trung bình giữa các nhóm
* đáng kể ở mức 5%; đáng kể ở mức 1%

Nam giới

Phụ nữ

Vòng 1*
Vòng 6**
Chênh lệch**

0,88/0,93 (559)
1,06/1,03 (324)
0,18/0,10 (324)

0,84/0,87 (871)
1,01/0,99 (546)
0,20/0,12 (546)

0,86/0,92 (125)
1,18/1,11 (88)
0,36/0,17 (88)

0,83/0,86 (175)
1,11/1,02 (125)
0,32/0,18 (125)
Ghi chú:

16
+ 1 tương ứng với mức sống thấp nhất; thay đổi không tương ứng với tổng mức sống
vòng 1 trừ đi vòng 6 do tổng số của vòng 1 bao gồm cả những trường hợp không được
quan sát cả ở 6 vòng;
ANOVA để thử nghiệm sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm nghĩa là * đáng kể ở mức

các tác động cố định là nhóm không trải qua thay đổi nào, trong trường hợp này tất cả
phụ nữ không có bằng cấp cao không trải qua thay đổi nào trong suốt thời gian nghiên
cứu (luôn là 0,98). Nhóm so sánh chuẩn này bao gồm những phụ nữ có và không có con,
có và không có bạn đời có việc làm và không có việc làm.
11Bảng IV: Các tác động gây ra thay đổi mức sống (hồi quy với các tác động cố
định)
Nam giới Phụ nữ
IA cho từng giới trong
ngoặc++

Không có
bằng cấp
cao
Có bằng
cấp cao
IA
+
Không có
bằng cấp
cao
Có bằng
cấp cao
IA+



**

**
Công việc tạm thời
Tham gia vào (n*/a**)

Đi ra 0,083**
(0,059)
0,096
(0,099)

0,091
(0,148)
-0,056
(0,151) *

0,112**
(0,017)
-0,013)
(0,024)

0,182**
(0,039)

-0,067
(0,032) 0,051**
(0,069)
0,057
(0,098) *
Bạn đời có việc làm bán
thời gian
Tham gia vào (n**)

Đi ra (n**)
-0,405**
(0,050)
0,231**
(0,050) -0,266
(0,282)
0,401
(0,210)


0,654*
(0,310)

0,021
(0,035)
-0,195**
(0,032)

-0.156
(0,103)
-0,337*
(0,090)

**
Con cái
Một con (n**/a**)

Ít nhất hai con (n**/a**)

-0,199**
(0,046)
-0,232**
(0,053)


Số lượng id
Sai số cho phép
1983
482
0,219**
506
118
0,219**
3219
756
0,160**
722
163
0,255**

Ghi chú:
Các lỗi chuẩn trong ngoặc, *đáng kể ở mức 5%; **đáng kể ở mức 1%;
+ tầm quan trọng của các tác động qua lại của giáo dục;

18
++ tầm quan trọng của các tác động qua lại của yếu tố giới trong ngoặc, n = không có
bằng cấp cao, a= có bằng cấp cao.

Bắt đầu từ những phụ nữ có học vấn cao hơn (cột 6), chúng ta có thể thấy rằng,
nhìn chung, nhóm này được xếp trong khu vực thu nhập thấp do không tìm được việc
làm mới, có con, và không tìm được người bạn đời có việc làm toàn thời gian. Nếu
những phụ nữ này có thể sử dụng học vấn của họ trên thị trường lao động để tìm việc
làm toàn thời gian, mức sống tăng cao hơn là do công việc làm mới này có thể khiến họ
ít bị tổn thương bởi những thay đổi đối với sự hình thành gia đình. Thu nhập của họ sẽ có
thể cao hơn một phẩy năm lần so với mức chuẩn thu nhập thấp. Thậm chí ngay cả có bạn

cao nhưng như đã trình bầy ở trên, những người nam giới này có rất nhiều cơ hội hơn
cho những thay đổi tích cực.

19
Nhìn chung, sự dễ bị tổn thương đối với sự hình thành gia đình của phụ nữ so với
nam giới được thể hiện rõ nhất ở sự mất đi những phúc lợi do người bạn đời ‘không làm
việc’ trong gia đình gây ra. Mất một người bạn đời không có việc làm, điều này đem lại
lợi ích cho nam giới ở tất cả các trình độ học vấn, lại làm khoản phúc lợi của phụ nữ ở
khu vực thu nhập thấp thậm chí còn giảm đi hơn. Đối với nam giới, sự khác biệt lớn về
trình độ học vấn dẫn đến những khác biệt về việc làm của họ. Nam giới có học vấn cao
hơn có mức sống cao hơn nhờ có việc làm toàn thời gian, trong khi tỷ lệ đó của nam giới
có học vấn thấp hơn cao hơn gần gấp đôi. Trong khu vực thu nhập thấp, việc có con
khiến mức sống giảm đi đối với tất cả mọi người trừ những nam giới có học vấn cao. Sự
giảm sút này cũng là cao nhất đối với phụ nữ có học vấn cao.
Để hiểu được các tác động trung bình của việc gia nhập hay rút lui khỏi thị
trường lao động hay các mối quan hệ trong thời gian diễn ra nghiên cứu, kết quả giữa các
mô hình tác động được trình bầy ở Bảng V. Các hệ số có thể được diễn giải là các tác
động của tình trạng trung bình trong thời gian nhiên cứu. Nói một cách khác, trong mô
hình này chúng ta chỉ xem xét giữa những khác biệt giữa mọi người (khác biệt nhóm), so
với những khác biệt trong mỗi người (những khác biệt cá nhân) được tính trong mô hình
với các tác động cố định. Nếu các tác động trong mô hình các tác động cố định

Bảng V: Các tác động trung bình đối với mức sống (hồi quy giữa các tác động)
Nam giới Phụ nữ IA cho từng giới trong
ngoặc++
Không có
bằng cấp
cao
Có bằng
cấp cao
-0,051
(-0,024)

0,216
(0,201)
0,169**
(0,228) 0,180**
(0,247)

Bạn đời có việc làm toàn
thời gian

0,239**
(0,320)
0,232*
(0,094)
0,262**
(0,492)

0,272**
(0,381)


(0,055)
0,011 **
-0,023**
(-0,070)
-0,028*
-0,107*
(-0,093)
-
*

*

20
(n**/a**) (-0,268) (0,149) (-0,078) 0,137**
(-0,172)
Tuổi tác
(a*)
Các tháng không có việc
làm
0,000
(0,012)
0,001
(0,002)

-0,008*
(0.022)
0,038

4097
878
0,41
897
175
0,305 Ghi chú:
Các lỗi chuẩn trong ngoặc, *đáng kể ở mức 5%; **đáng kể ở mức 1%;
+ tầm quan trọng của các tác động qua lại của giáo dục;
++ tầm quan trọng của các tác động qua lại của yếu tố giới trong ngoặc, n = không có
bằng cấp cao, a= có bằng cấp cao. lớn nhưng không lớn giữa các mô hình tác động, rất có khả năng là các tác động được
tính trong mô hình các tác động cố định dễ chuyển tiếp hơn là mô hình các tác động lâu
dài. Nhóm đối chiếu (giá trị bất biến) trong mô hình các tác động trung gian là những
người độc thân không có con và không có việc làm. Trong mô hình các tác động trung
gian, giá trị bất biến là cao nhất đối với phụ nữ có bằng cấp cao. Điều này có thể được
giải thích là chỉ báo rằng học vấn đem lại thêm lợi ích ngoài thị trường lao động và các
tác động của sự hình thành gia đình. Học vấn dường như bảo vệ phụ nữ khỏi bị chìm sâu
hơn vào khu vực có thu nhập thấp, không phụ thuộc vào các cấu trúc gia đình và tình
trạng việc làm.
Mô hình các tác động trung gian cung cấp thêm các bằng chứng cho thấy nam
giới có bằng cấp cao không bị tác động bởi cấu trúc gia đình. Các tác động đáng kể (tích
cực) duy nhất đối với mức sống của nam giới có học vấn cao là có việc làm toàn thời

thời gian). Chỉ trường hợp phụ nữ có học vấn cao hơn và không có con là rất khác biệt
là: mức sống của những phụ nữ không có việc làm này thấp hơn chuẩn nghèo là 0,13 và
cao hơn chuẩn này 0,49 sau khi có được công việc toàn thời gian. Phân tích đầu tiên, tập
trung vào những thay đổi thực tế diễn ra ở những nơi có mẫu này trong mẫu này, nhấn
mạnh tình huống này thực tế đến đâu. Tuy nhiên, đâu là chiến lược tốt nhất giúp phụ nữ
độc thân rời khỏi khu vực thu nhập thấp đã rất rõ ràng: đó là có học vấn, không có con và
có việc làm. Tình huống này là không thực tế vì đa phần phụ nữ được đào tạo lên cao
trong khu vực thu nhập thấp đều có con (trong vòng đầu tiên, 54% có ít nhất hai con và
27% có một con). Nếu những phụ nữ này được hỗ trợ, để ví dụ như làm một công việc
toàn thời gian, bằng hệ thống nhà trẻ mẫu giáo đầy đủ, thì cơ hội thoát khỏi khu vực thu
nhập thấp của họ sẽ tăng lên đáng kể.
Như dự kiến, không chỉ con cái trong gia đình những người phụ nữ khiến họ
không thể thoát ra khỏi khu vực thu nhập thấp. Hơn nữa, những nguyên nhân khác là sự
kết hợp của học vấn thấp, không có việc làm và con cái. Thêm vào đó là những thay đổi
trong tình trạng của người bạn đời, rõ ràng là phụ nữ trong mọi hoàn cảnh đều có thể có
mức sống cao hơn mức chuẩn thu nhập thấp rất nhiều nếu họ có được người bạn đời có
công việc toàn thời gian. Chúng tôi đã dự đoán rằng, đối với phụ nữ, việc làm toàn thời
gian của người bạn đời sẽ đem lại mức gia tăng trong mức sống cao hơn là chính họ có
việc làm; điều này đúng với tất cả mọi phụ nữ.
Đối với nam giới tình huống có vẻ rõ ràng hơn, đặc biệt là đối với những nam
giới có học vấn, những người chỉ cần tìm được việc làm để tăng mức sống của họ lên
trên mức chuẩn thu nhập thấp. Nhóm này không hề dễ bị ảnh hưởng bởi chi phí nuôi con.
Mặt khác, mức sống của những nam giới có học vấn thấp hơn lại bị giảm đi không chỉ
bởi con cái mà còn bởi người bạn đời của họ. Vì vậy, những nam giới có nguy cơ đói
nghèo cao nhất là những người có học vấn thấp hơn có vợ và con. Do đó, học vấn giúp
nam giới chống lại được nguy cơ đối với mức sống của họ do vợ và con cái gây ra. Tập


nhưng họ hiếm khi chọn – hay được lựa chọn – làm một công việc toàn thời gian, điều
khiến họ có thể trở nên độc lập. Xét về mặt kinh tế, lựa chọn tốt nhất cho phụ nữ là tham
gia vào các cấu trúc gia đình truyền thống bởi vì họ được trợ giúp bởi hệ thống phúc lợi;
những phụ nữ vừa có chồng, vừa đi làm bán thời gian có điều kiện kinh tế tốt hơn so với
những phụ nữ chỉ dựa vào khả năng của chính mình dùng học vấn xin việc và kiếm tiền
trên thị trường lao động để có mức sống tốt. Một lựa chọn khác cho những phụ nữ có
trình độ học vấn là không có một đứa con nào, đây là một cách luôn luôn đem lại cơ hội
cao để thoát khỏi khu vực thu nhập thấp.
Thông qua việc ủng hộ sự hình thành gia đình truyền thống, hệ thống phúc lợi
của Đức đi ngược lại sự độc lập mà phụ nữ có thể có được nhờ giáo dục. Những kết quả
này thậm chí còn tồi tệ hơn khi tính đến thực tế là họ tính cả các khoản trợ cấp và thanh
toán từ hệ thống phúc lợi và / hoặc người chồng cũ.
Cần nghiên cứu thêm một vấn đề chưa sáng tỏ là phụ nữ, thậm chí là không có
thay đổi nào về cấu trúc gia đình hay tình trạng việc làm, dường như được hưởng lợi từ
giáo dục. Mặc dù nghề nghiệp và tình trạng gia đình là những biến số chính trong nghiên

23
cứu phân tầng cổ điển, những yếu tố này trong thực tế vẫn chưa đủ để giải thích những
lợi ích phụ nữ được hưởng và hậu quả họ phải gánh chịu. Những ưu điểm của giáo dục
đối với phụ nữ cho thấy chúng vừa không phụ thuộc, vừa tác động qua lại với những ưu
thế trên thị trường lao động và trong các quan hệ gia đình nhiều hơn rất nhiều so với
trường hợp nam giới.
Những kết quả này không chỉ quan trọng để hiểu giáo dục và những chuyển đổi
trong gia đình tác động như thế nào đến những cơ hội trong cuộc sống của những người
trong khu vực thu nhập thấp, nhưng chúng cũng cho thấy ý nghĩa rõ ràng về chính sách.
Thực tế là yếu tố giáo dục và việc làm ít nhất cũng bảo vệ khỏi nghèo đói cũng như tham
gia vào quan hệ truyền thống với một người, một giải pháp khác cho chính phủ có thể là
đầu tư nhiều hơn vào các chương trình lực lượng lao động và giáo dục hơn là chỉ đơn
giản giúp đỡ các cuộc hôn nhân truyền thống thông qua hàng loạt các khuyến khích trên
cơ sở chính sách mà hiện đang cấu thành hệ thống phúc lợi của Đức. Những khác biệt về


24
4. Những đặc điểm không được quan sát không có tác động thiên vị đến các thông
số được ước tính với các tác động cố định (Verbeek 2000) (với giả định rằng những tác
động không được quan sát này không thay đổi theo thời gian). Điều này không đúng đối
với những tính toán các tác động ngẫu nhiên. Thông qua ít nhất hai quan sát với mỗi cá
nhân và bao gồm cả các biến không rõ ràng cho mỗi cá nhân, những mô hình tác động
hoàn toàn cố định chi phối những khác biệt giữa các cá nhân không được quan sát.
Thông qua thử nghiệm những khác biệt lớn trong tính toán các thông số với các tác động
cố định hoặc ngẫu nhiên, thử nghiệm của Hausman tận dụng hạn chế này cho những mô
hình được tính toán với các tác động ngẫu nhiên. Một khác biệt lớn trong mô hình được
tính toán với các tác động cố định và ngẫu nhiên khiến cho rất có thể là các tác động
không được quan sát trong mô hình được kết hợp với các biến độc lập và do đó dẫn đến
những tính toán định kiến trong các mô hình tác động ngẫu nhiên.
5. Một giả thiết cơ bản trong phương pháp này là việc phân chia đồng đều các
nguồn thu nhập trong gia đình. Căn cứ của nguyên tắc này không rõ ràng, nếu nói giảm
nhẹ đến mức tối thiểu (xem ví dụ Daly 1992). Trong thập kỷ qua, các nhà nghiên cứu đã
đưa ra bằng chứng về sự phân chia không đồng đều tiền trong gia đình (Pâhl 1989;
Glendinning và Miliar 1992; Jenkins 1991). Tuy nhiên, trong phần lớn nghiên cứu theo
kinh nghiệm về tình trạng kinh tế gia đình, giả thiết này vẫn là một trong khoản thu nhập
chung của hộ gia đình. Giả thiết này ít có khả năng bắt nguồn từ trình độ học vấn thấp
hơn là từ các lý do thực tế trong nghiên cứu định lượng: mức sống của hộ gia đình được
quyết định bởi thu nhập của tất cả các thành viên sống trong gia đình và thu nhập này
theo kinh nghiệm là một giá trị có thể đo được, trong khi mong muốn chia sẻ thu nhập đó
thì lại không thể đo được (hay ít nhất là không thể đo được trong nghiên cứu định tính).
6. Các nhà phê bình đầu tiên cho bài viết này gợi ý rằng môn đăng hộ đối cũng đóng
vai trò quan trọng trong việc tìm bạn đời và giữ cho gia đình khỏi rơi vào tình trạng
nghèo. Trên cơ sở này, tôi đã chạy tất cả các mô hình với một đơn vị đo là học vấn của
người bạn đời. Các hệ số về việc làm của người bạn đời vẫn không đổi và các hệ số giáo
dục cũng không đáng kể, điều này chứng minh cho tầm quan trọng của tình trạng việc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status