lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư của nhật bản trên địa bàn hà nội - Pdf 10

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình hội nhập, làn sóng đầu tư của nước ngoài vào Việt
Nam ngày càng gia tăng trong đó có nhiều doanh nghiệp của Nhật Bản. Đến
cuối năm 2006, đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Nhật Bản vào Việt Nam
đạt 7,4 tỷ USD. Nhật Bản đang được coi là nhà đầu tư hiệu quả nhất tại Việt
Nam, đứng đầu về số vốn thực hiện, trong đó chủ yếu đầu tư vào lĩnh vực
công nghiệp (85%). Chính phủ hai nước đều thể hiện quyết tâm tạo mọi điều
kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Nhật Bản làm ăn tại Việt Nam thông qua
việc ký kết và thực hiện Hiệp định xúc tiến, bảo hộ đầu tư và sáng kiến chung
nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.
Lực lượng lao động Việt Nam được thu hút vào làm việc trong các
doanh nghiệp Nhật Bản ngày càng nhiều. Điều đó đã đóng góp đáng kể vào
sự ổn định và phát triển nền kinh tế, nó giải quyết được nhiều việc làm và thu
nhập cho người lao động.
Trong thời gian qua thực tế cho thấy, lợi ích người lao động trong các
doanh nghiệp có vốn Nhật Bản, phần lớn được đảm bảo, không xảy ra các
cuộc đình công, bãi công của công nhân, ông chủ đánh đập công nhân như
một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khác …
Bên cạnh những thành tựu đó cũng còn có những hạn chế gây ảnh
hưởng đến lợi ích của người lao động mà nếu để kéo dài sẽ gây bất lợi không
nhỏ đối với sự phát triển không chỉ của người lao động mà còn đối với chính
DN. Đầu tháng 10.2006, Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) đã
công bố kết quả điều tra về xu hướng và các vấn đề lực lượng lao động và
tình hình phát triển nguồn nhân lực ở châu Á, trong đó có Việt Nam. Kết quả
của cuộc điều tra này cho thấy, tại Việt Nam, tỷ lệ các công ty lo ngại về vấn
đề tăng lương đặc biệt cao, chiếm tới 75,9%. Mặc dù tăng lương là xu hướng
1
khá phổ biến ở hầu hết các nước, nhưng ở Việt Nam, các công ty Nhật Bản
vẫn khai thác được lợi thế về mức lương thấp. Xét tới mức lương hàng tháng,
khoảng cách giữa lương của các công nhân ở Việt Nam và ở miền Nam Trung

quân sự, 1998), Học viện chính trị Quân Sự
Tuy nhiên để đi sâu vào vấn đề "Lợi ích kinh tế của người lao động
trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhật Bản trên địa bàn Hà Nội"
thì chưa có tác giả nào nghiên cứu. Do đó, chúng tôi đã chọn đề tài này để
nghiên cứu.
3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích
Trên cơ sở kế thừa các tư liệu đã có, kết hợp với khảo sát thực tiễn
nhằm góp phần làm rõ thêm những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn lợi ích
kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhật
Bản trên địa bàn Hà Nội. Trên cơ sở đó nhằm đề xuất những phương hướng
và giải pháp góp phần bảo vệ lợi ích kinh tế cho người lao động trong các
doanh nghiệp có vốn nước ngoài.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được những mục đích trên, luận văn đi vào giải quyết các nhiệm
vụ sau:
Một là: Hệ thống hoá làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về lợi ích
kinh tế nói chung và lợi ích kinh tế cá nhân người lao động nói riêng.
Hai là: Đi sâu nghiên cứu về thực trạng tình hình lợi ích kinh tế của
người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhật Bản, vạch ra
những mặt ưu điểm và hạn chế cần phải khắc phục.
Ba là: Đề ra được hệ thống giải pháp, nhằm bảo vệ lợi ích của người
lao động. Từ đó đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các doanh
nghiệp Nhật, góp phần vào công cuộc xây dựng, kiến thiết, nhằm thực hiện
thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế trên địa bàn thủ đô và trong cả nước.
3
3.3. Phạm vi nghiên cứu
- Đầu tư nước ngoài là một phạm trù rộng, luận văn chỉ tập trung
nghiên cứu các doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhật Bản.
- Đề tài chỉ nghiên cứu lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh

1.1.1. Bản chất lợi ích kinh tế và lợi ích kinh tế của người lao động
1.1.1.1. Bản chất của lợi ích kinh tế
Trong bất cứ nền sản xuất xã hội nào, lợi ích kinh tế đều là mối quan tâm
của tất cả các chủ thể kinh tế và các thành viên trong xã hội. Điều đó được biểu
hiện rất đa dạng, phong phú. Do đó, lợi ích kinh tế là vấn đề cơ bản xuyên suốt
mọi nền sản xuất, của toàn bộ tiến trình vận động và phát triển của lịch sử. Theo
quan điểm của các nhà kinh điển thì lợi ích kinh tế là hình thức biểu hiện của những
quan hệ xã hội, những quan hệ kinh tế trong những giai đoạn lịch sử nhất định.
Trong tác phẩm “Vấn đề nhà ở” Ph.Ăngghen đã viết: “Những quan hệ
kinh tế của một xã hội nhất định nào đó biểu hiện trước hết dưới hình thức lợi
ích” [30, tr.376].
Khi bàn về lợi ích các nhà nghiên cứu lý luận trong và ngoài nước từ
nhiều góc độ tiếp cận khác nhau đã nêu lên những khái niệm về lợi ích kinh tế:
V.P Ca-man-kin cho rằng: “Lợi ích kinh tế của một chủ thể nhất định là
sự tác động lẫn nhau giữa các nhu cầu kinh tế của chủ thể đó” [6, tr.13].
Theo quan điểm của tác giả Đào Duy Tùng thì: Lợi ích kinh tế là hình
thức biểu hiện những quan hệ kinh tế, quan hệ giữa người và người trong sản
xuất [39, tr.9].
Điều này thể hiện: người nào nắm tư liệu sản xuất, điều hành quá trình
sản xuất, quyết định phân phối sản phẩm cũng chính là người giữa vai trò
quyết định trong hệ thống sản xuất.
Tác giả Vũ Hữu Ngoạn cũng khẳng định: Lợi ích kinh tế là một phạm trù
kinh tế khách quan, là hình thức biểu hiện trước hết của quan hệ sản xuất… Lợi
ích kinh tế là cơ chế tác động chung của tất cả các quy luật kinh tế [33].
5
Bàn về lợi ích kinh tế tác giả Khoa Minh lại cho rằng: Lợi ích kinh tế là
sự biểu hiện của những quan hệ kinh tế đối với việc thoả mãn những nhu cầu
vật chất cần thiết cho đời sống dưới hình thức mục đích xác định của hoạt
động kinh tế của con người…Lợi ích kinh tế là hình thức biểu hiện cụ thể các
quan hệ kinh tế và quy luật phản ánh các quan hệ kinh tế đó [32, tr. 296].

mọi sự vật hiện tượng). Sự vận động của QHSX biểu hiện ở sự vận động của
các quy luật kinh tế do nó trực tiếp sinh ra (nghĩa là khi QHSX được xác lập,
làm nảy sinh các quy luật kinh tế phù hợp với bản chất của QHSX). Thông
qua sự vận động của các quy luật kinh tế mà QHSX ảnh hưởng tới quá trình
sản xuất. Mỗi quy luật kinh tế, phản ánh một mặt của QHSX, các quy luật
kinh tế là quy luật xã hội, phương thức hoạt động của chúng đều phải thông
qua con người. Do đó, tính khách quan của quy luật kinh tế thể hiện qua lợi
ích kinh tế để chi phối con người hành động theo quy luật.
Lợi ích kinh tế là hình thức biểu hiện của QHSX, là một khâu chính của
cơ chế tác động chung của quy luật kinh tế do QHSX sinh ra. Không có lợi
ích kinh tế thuần tuý tồn tại ngoài con người hoặc là con người không ý thức
gì về lợi ích. Lợi ích kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan, những con
người có khả năng nhận thức nó và vì nó mà hành động. Ở đây, cái khách
quan được biểu hiện dưới dạng chủ quan, mang hình thức chủ quan, cái chủ
quan do khách quan qui định. Trong thực tế, các động cơ hành động kinh tế
của con người có vẻ chủ quan nhưng thực ra nó là động cơ mang tính khách
quan. Một mặt, thông qua lợi ích, con người mưu cầu đời sống; mặt khác,
thông qua lợi ích mà xu hướng phát triển khách quan của sản xuất xã hội
được thực hiện. Vì vậy, lợi ích (trước hết là lợi ích kinh tế) trở thành một
trong những động lực cơ bản, phổ biến thúc đẩy sản xuất và đời sống xã hội
phát triển. Ph.Ăngghen cho rằng, lợi ích kinh tế là những động cơ đã lay
chuyển những quân chúng đông đảo. Và khi chúng biến thành sự kích thích
hoạt động của con người “thì chúng lay động đời sống nhân dân”.
7
Từ sự tiếp cận ở trên có thể khẳng định rằng: Lợi ích kinh tế là một
phạm trù kinh tế khách quan nó phát sinh và tồn tại trên cơ sở của một quan
hệ sản xuất nhất định, là hình thức biểu hiện trước hết của quan hệ sản xuất và
phản ánh mặt bản chất nhất của QHSX. Lợi ích kinh tế không tuỳ thuộc vào
yếu tố chủ quan của con người (không tuỳ thuộc ở chỗ là con người có nhận
thức được nó hay không, mà do địa vị của họ trong QHSX quyết định).

động sản xuất kinh doanh của DN mà họ đang làm việc. Ngược lại DN không
tự nó đưa lại lợi ích cho người lao động, nó chỉ tạo ra khả năng khách quan để
người lao động thực hiện lợi ích mà thôi như việc làm, điều kiện làm việc,
môi trường thể hiện năng lực….và do vậy, lợi ích kinh tế phản ánh quan hệ
kinh tế giữa người lao động với người lao động, giữa người lao động với chủ
DN… Điều này đã được Ph.Ăngghen khẳng định: “Những quan hệ kinh tế của
một xã hội nhất định nào đó biểu hiện trước hết dưới hình thức lợi ích” [29].
Từ sự nghiên cứu tiếp cận phạm trù lợi ích kinh tế và phạm trù người
lao động nói chung, có thể nêu lên một cách khái quát: Lợi ích kinh tế người
lao động là trong quá trình sản xuất người lao động đem trí tuệ, tài năng lao
động của chính mình để lao động một cách tự giác, sáng tạo nhằm làm ra
ngày càng nhiều của cải vật chất thoả mãn tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh
thần của bản thân, gia đình và làm tròn nghĩa vụ với xã hội và cộng đồng.
Lợi ích kinh tế là phạm trù kinh tế khách quan, là hình thức biểu hiện
của các quan hệ kinh tế, các quy luật kinh tế và phản ánh phương thức, mức
độ thoả mãn các nhu cầu vật chất, tinh thần của chủ thể kinh tế, của các thành
viên khác nhau trong nền sản xuất xã hội. Do đó khái niệm lợi ích kinh tế của
người lao động ở nước ta hiện nay thể hiện trên hai nội dung chủ yếu:
Thứ nhất: Người lao động phát huy được khả năng sáng tạo trong một
môi trường chính trị - xã hội ưu việt. Thể hiện, người lao động sẽ lao động
một cách tự giác, sáng tạo và có hiệu quả ngày càng cao vì lợi ích của chính
người lao động, của tập thể, của cộng đồng. Tuy nhiên, muốn biến khả năng
9
đó thành hiện thực, cần phải có một cơ chế, hình thức kết hợp hài hoà các lợi
ích kinh tế trong một hệ thống, nhằm khơi dậy phát huy một sức mạnh tổng
hợp của toàn xã hội, của từng tập thể và của từng cá nhân người lao động.
Thứ hai: thoả mãn tốt hơn những nhu cầu về vật chất, tinh thần cá nhân
và gia đình người lao động. Trong thực tế lao động sản xuất và cuộc sống nói
chung, đa phần những người lao động không chỉ quan tâm đến mức độ thoả
mãn các nhu cầu về đời sống vật chất (thu nhập thông qua tiền lương, tiền

với nền tảng căn bản của xã hội mới mà chúng ta đang xây dựng, điều đó đã
làm triệt tiêu động lực của con người trong lao động sản xuất. Từ khi Đảng và
Nhà nước ta đề ra chính sách mới, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần,
thực hiện phân phối theo lao động: Ai làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít,
có sức lao động mà không làm thì không hưởng. Đã tạo một động lực rất lớn
đối với người lao động, kích thích tính sáng tạo, khả năng lao động của mỗi
cá nhân trong sản xuất. Vì vậy, nhận thức đúng đắn lợi ích kinh tế là động lực
kích thích hoạt động của con người, có ý nghĩa sâu sắc trong việc phát huy
nhân tố con người, điều cơ bản nhất là phải giải quyết đúng đắn vấn đề lợi ích
kinh tế, và phải coi lợi ích kinh tế là mục tiêu cơ bản nhất của mọi hoạt động
sản xuất kinh doanh. Mặt khác, nguồn gốc sâu xa của mọi động lực kinh tế
được bắt nguồn từ nhu cầu kinh tế và sự đòi hỏi được thoả mãn nhu cầu đó
của con người.
Hiện nay, do nắm bắt được vai trò lợi ích kinh tế đối với người lao
động là một tất yếu, để thực hiện mục tiêu lợi nhuận của mình các chủ DN đã
biết quan tâm chăm lo phát huy yếu tố con người, coi trọng những lợi ích thiết
thân của người lao động, dựa vào lực lượng khoa học kỹ thuật, công nhân
lành nghề, đặt lòng tin, khắc phục sự kỳ thị, đảm bảo thu nhập xứng đáng với
khả năng đóng góp của người lao động, tìm ra cơ chế quản lý phù hợp, coi
trong việc sử dụng các quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, cải thiện điều kiện lao
11
động… để người lao động yên tâm làm việc, phát huy tính sáng tạo, đưa lại
hiệu sản xuất cao cho DN. Thế nhưng, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số DN
kinh doanh kiểu “chụp giật”, lợi dụng sức lực của người lao động để thu lợi
nhuận, không quan tâm đến lợi ích kinh tế của người lao động. Dẫn tới các
cuộc đình công, bãi công đòi tăng lương…của người lao động đối với giới
chủ. Đây là một vấn đề bức xúc hiện nay đòi hỏi các ngành chức năng giải
quyết triệt để, làm sao người lao động yên tâm làm việc và được hưởng đúng
với quyền lợi của mình.
1.2. CÁC BỘ PHẬN CẤU THÀNH LỢI ÍCH KINH TẾ CỦANGƯỜI LAO

Nam đã thu hút được 2.098 dự án đầu tư nước ngoài, với tổng số vốn đăng ký
là 17,8 tỉ USD. Riêng năm 2005, số vốn đăng ký là 5,835 tỉ USD, tăng 45,2%
so với năm 2004, vốn đầu tư nước ngoài đã thực hiện 3, 747 tỉ USD so với
2004. Đến năm 2006, FDI là điểm sáng nổi bật trong bức tranh kinh tế Việt
Nam, với tổng số vốn FDI đăng ký mới và bổ sung đạt trên 10,2 tỉ USD, mức
cao nhất từ năm 1988 (8,8 tỉ USD năm 1995) đến nay. Số vốn bình quân 1 dự
án 9,4 triệu USD, cao gấp hai lần quy mô bình quân của năm 2005 (4,6 triệu
USD/ dự án). Tính đến cuối năm 2006, cả nước đã có 6.813 dự án còn hiệu
lực với tổng vốn đầu tư đăng ký trên 60,4 tỉ, vốn thực hiện (của các dự án còn
hoạt động) đạt trên 28,7 tỷ.
Việc thu hút vốn và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài được phân theo
địa phương.
Bảng 1.1: Kết quả thu hút vốn và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài
phân theo địa phương, giai đoạn 2000 – 2005
TT Địa phương Số dự án (%) Tổng vốn đăng ký (%)
1. TP. Hồ Chí Minh 30,19 23,4
2. Hà Nội 11,11 16,74
3. Đồng Nai 11,45 14,99
4. Bình Dương 18,44 9,98
5. Bà Rịa – Vũng Tàu 2,05 7,61
Nguồn: [4].
13
Theo số liệu trên thấy rằng, các thành phố lớn, có điều kiện kinh tế xã
hội thuận lợi thuộc các vùng kinh tế trọng điểm vẫn là những địa phương thu
hút được nhiều dự án và vốn đầu tư nước ngoài.
Bất cứ một hoạt động kinh tế nào đều gắn liền với lợi ích, bởi các hoạt
động kinh tế thực chất là nhằm mục đích là các lợi ích khác nhau. Đầu tư trực
tiếp nước ngoài liên quan đến lợi ích của DN nước ngoài, của DN Việt Nam
và người lao động làm việc trong các DN đó. DNCVĐTNN khi đầu tư vào
Việt Nam, có thể hoạt động đầu tư vào bất kỳ lĩnh vực nào, ngành nghề nào

đầu tư nước ngoài nói chung và Nhật Bản nói riêng đã và đang đầu tư mạnh
mẽ vào Việt Nam. Năm 2006, môi trường kinh doanh của nước ta tiếp tục cải
thiện. Ngoài triển khai luật đầu tư, Luật Doanh nghiệp cùng các nghị định hướng
dẫn được ban hành đã tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động đầu tư,
nhiều biện pháp đã được tiến hành nhằm hạn chế và khắc phục tình trạng yếu
kém của hệ thống kết cấu hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực…
Đầu tư nước ngoài đã góp phần tích cực vào quá trình thực hiện CNH,
HĐH và phát triển lực lượng sản xuất ở nước ta. Đối với ngành công nghiệp, các
DN đầu tư nước ngoài chiếm 38% sản lượng công nghiệp chung của cả nước và
có tốc độ tăng trưởng 20%/năm. đầu tư nước ngoài đã góp phần mở ra những
ngành công nghiệp mới với công nghệ và phương thức kinh doanh tiên tiến tại
Việt Nam. Thể hiện: các DNCVĐTNN chiếm gần 100% về khai thác dầu thô,
80% công nghệ sản xuất ô tô, máy giặt, máy điều hoà nhiệt độ; 60% sản lượng
thép cán; 30% xi-măng; 33% thiết bị điện tử; 76% dụng cụ y tế chính xác; 49%
da giày; 25% thực phẩm đồ uống… [3]. Các lĩnh vực công nghiệp trên đây đã
góp phần tạo ra bước phát triển về tính chất, trình độ hiện có của lực lượng sản
xuất, làm cho lực lượng sản xuất của nước ta phát triển theo hướng hiện đại, phù
hợp với xu thế và mục tiêu chung của sự nghiệp CNH, HĐH.
Sự phát triển của FDI đã tác động đến cả chiều rộng và chiều sâu của
quá trình tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Từ năm 1991 đến năm 1998 trung
bình hàng năm vốn nước ngoài chiếm khoảng 28,7% tổng số vốn đầu tư xã
hội; trong đó giai đoạn 1991- 1995 tỷ lệ là 25,7%, từ năm 1996- 1998 gần
30%. Trong giai đoạn 2001 – 2005 tổng vốn FDI thực hiện là 14,3 tỉ USD,
vượt 30% so với kế hoạch và tăng 13,6% so với 5 năm trước. Khu vực FDI là
lực lượng quan trọng hỗ trợ cho các khu vực kinh tế tế khác trong nền kinh tế
quốc dân, đóng góp lớn vào đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế. Với gần 20
năm hoạt động, nhưng FDI đã đóng góp một phần không nhỏ vào GDP theo
hướng tăng tích cực: Năm 1993: 3,6%; 1995: 6,3%; 1996: 7,9%; 1997:
9,07%; 1998: 10,12%; 1999: 12,3%; 2000: 13,3%; 2001: 13,5%; 2002:
15

16
lượng trên tinh thần hoà giải, nhân nhượng lẫn nhau, tạo sự hiểu biết giữa các
nền văn hoá, tập quán sinh hoạt của các dân tộc, hướng đến tạo ra doanh lợi
cao cho DN, đồng thời nâng dần thu nhập của người lao động, cải thiện điều
kiện làm việc và sinh hoạt của họ
Đã có thời kỳ vấn đề bóc lột trong quan hệ lao động ở các DNCVĐTNN
đặt ra như là vấn đề xã hội cần phải giải quyết. Trong thực tế có một số
trường hợp chủ DN áp dụng các phương thức thiếu văn minh như kéo dài thời
gian lao động, không đảm bảo an toàn lao động và điều kiện lao động tối
thiểu, trả lương thấp hơn mức bình quân, kéo dài thời gian học nghề của công
nhân để DN có lợi nhuận cao hơn… cần được kiểm tra và xử lý. Song, nhìn
chung phần lớn các nhà đầu tư nước ngoài đã đối xử đúng luật pháp Việt Nam
đối với cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật và người lao động, chú trọng việc
nâng cao thu nhập của người lao động, cải thiện điều kiện lao động và sinh
hoạt của công nhân viên chức trong DN.
Theo số liệu thống kê do Bộ lao động - Thương binh và xã hội công
bố, chỉ có gần 12% lực lượng nhân công Việt Nam được qua đào tạo (Bộ Lao
động - Thương binh và xã hội Số liệu điều tra Lao động việc làm năm
2004). Lực lượng nhân công không có chuyên môn kỹ thuật dư thừa trong khi
đó lại thiếu lao động chuyên môn kỹ thuật. Thị trường sức lao động Việt Nam
vẫn nằm trong giai đoạn hình thành và phát triển chưa cao. Sự chuyển dịch
lao động giữa các ngành kinh tế khác nhau tương đối thấp so với các nước.
Việc yêu cầu các DN có vốn đầu tư nước ngoài phải tuyển dụng lao động
trong nước thông qua các cơ quan tuyển dụng được phép đã hạn chế tính linh
hoạt của thị trường sức lao động.
Việt Nam có lợi thế cạnh tranh về đội ngũ nhân công nhiều về số lượng
nhưng chất lượng vẫn thấp. Theo báo cáo của JETRO, tháng 6/2006, tiền
lương bình quân tháng theo USD của công nhân Việt Nam năm 2005: là 135
USD; kỹ sư: 302 USD; cán bộ quản lý bậc trung là 685 USD; trong khi lương
bình quân chung ở khu vực với công nhân là: 205 USD; kỹ sư: 546 USD và

Như vậy, trong thời gian qua đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tuy tốc
độ phát triển không đều, nhưng lực lượng lao động làm việc trong khu vực
này qua các năm đều tăng. DNCVĐTNN là nơi tạo việc làm cho rất nhiều lao
động, phần lớn lao động thu hút vào làm việc trong khu vực này là lao động
chưa qua đào tạo và bộ phận không từ khu vực nông nghiệp, nông thôn (có
thu nhập thấp). Khi được tuyển dụng vào làm việc thu nhập của họ tăng lên.
Theo số liệu của tổng cục thống kê, thu nhập của người lao động ở khu vực
này cũng có xu hướng tăng, nếu năm 1994, 1995, thu nhập bình quân bình
quân một lao động ở khu vực này là 70 – 80 USD/tháng thì đến năm 2000 đã
tăng lên khoảng 100 USD, đến năm 2004 là hơn 110 USD
Trong số lao động làm việc trong các DNCVĐTNN có nhiều lao động
chưa được qua đào tạo. Lực lượng lao động trong các DN được tuyển chọn từ
nhiều nguồn khác nhau. Họ được làm việc trong hệ thống dây chuyền công
nghiệp hiện đại và đòi hỏi tuân thủ kỷ luật lao động cao. Đây cũng chính là
môi trường tốt để đào tạo đội ngũ lao động, có phong cách làm việc phù hợp
với công việc hiện đại và kinh doanh tiên tiến. Nhiều DNCVĐTNN đã tạo
cho lao động Việt Nam có điều kiện được đào tạo nâng cao tay nghề, tiếp cận
kỹ năng, công nghệ và kinh nghiệm hoặc được gửi đi đào tạo ở nước ngoài.
Người lao động cũng được rèn luyện về kỷ luật, tác phong công nghiệp và
thích ứng dần với cơ chế quản lý mới. Qua một thời gian làm việc cho
19
DNCVĐTNN, hiện nay, đội ngũ lao động Việt Nam trong lĩnh vực đầu tư
nước ngoài ngày càng trưởng thành và có kinh nghiệm. Thể hiện: theo số liệu
thống kê, có 6.000 cán bộ quản lý. 25.000 cán bộ kỹ thuật và trình độ tay nghề
của hàng chục vạn công nhân ở các DN có vốn đầu tư được nâng lên rõ rệt.
Thông qua các dự án có vốn đầu tư nước ngoài, nhiều công nghệ mới,
tiên tiến hiện đại được ứng dụng ở nước ta, đã góp phần nâng cao trình độ kỹ
thuật và công nghệ cho nhiều ngành sản xuất, tạo điều kiện góp phần nâng
cao trình độ tay nghề, kinh nghiệm quản lý sản xuất, nhân sự, kinh nghiệm
kinh doanh trên phạm vi quốc tế, làm tiền đề để phát triển nguồn nhân lực

lận, trốn thuế, lấn át bên Việt Nam. Thực tế đã xảy ra đối với Công ty liên
doanh, hiện tượng các đối tác nước ngoài ngăn chặn sự phát triển của DN, đẩy
chi phí đầu vào tăng, kéo dài thua lỗ để Bên bên không đủ khả năng tài chính,
đành rút lui và bán cổ phần cho họ, trở thành DN 100% vốn nước ngoài.
Quá trình thu hút đầu tư nước ngoài cũng đang bộc lộ hàng loạt vấn đề
khác rất cần có sự quan tâm: như vấn đề thống nhất về chính sách, vấn đề bất
cập của hệ thống pháp luật, chất lượng nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng và môi
trường đầu tư… Những vấn đề này đã ảnh hưởng không nhỏ đến chiến lược
thu hút đầu tư - một nguồn lực quan trọng để tạo động lực tăng tốc sự phát
triển của đất nước.
1.2.2. Lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài
Hiện nay ở nước ta có hơn 860 nghìn lao động làm việc trong các
DNCVĐTNN [4]. Trong bộ luật Lao động Việt Nam đã qui định đầy đủ
phương thức hợp đồng lao động giữa đại diện DN và người lao động, cách
tính tiền lương và trả lương, bảo hiểm xã hội, quyền và nghĩa vụ của người
lao động đối với DN, kể cả quyền được đình công, bãi công…. Lợi ích của
người lao động được thể hiện với tư cách là từng cá nhân, đồng thời với tư
21
cách là tập thể thông qua các tổ chức công đoàn.Việc bảo vệ lợi ích của người
lao động trong các DNCVĐTNN đồng thời cũng là trách nhiệm của các cán
bộ bên Việt Nam làm trong liên doanh hoặc cán bộ là người Việt Nam trong
các DN 100% vốn nước ngoài. Do đó, người lao động cần có nhận thức đúng
quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong các DNCVĐTNN, bởi thành công của
DN cũng đồng thời là sự bảo đảm thu nhập ngày càng tăng và điều kiện ngày
càng được cải thiện đối với họ. Các DNCVĐTNN thường áp dụng các
phương pháp lôi cuốn người lao động tham gia quá trình sáng tạo trong sản
xuất và kinh doanh, như tăng lương trước thời hạn, thưởng tháng lương thứ
13…Trong trường hợp xảy ra mâu thuẫn lợi ích giữa DN và người lao động,
thì tổ chức công đoàn sẽ đứng ra giải quyết, nếu mâu thuẫn quá gay gắt, thì

đứng im cả buổi ngay trong xưởng. Hành vi, vi phạm pháp luật này cần được
lên án.
Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng trên, đó là do mâu thuẫn giữa chủ DN
và người lao động Việt Nam, thể hiện:
Do sự khác biệt về tập quán kinh doanh, về phong tục, về sinh hoạt văn
hoá. Vì bên chủ DN đã quen với cơ chế thị trường, với sự cạnh tranh gay gắt,
với quan hệ của ông chủ và người làm thuê…, những điều này đối với người
lao động Việt Nam còn khá mới mẻ nên đôi khi đã xảy ra xung đột giữa chủ
DN và người làm thuê. Mặt khác, do bất đồng về ngôn ngữ đã gây ra những
bất lợi cho cả hai phía, gây nên nhữg hiểu lầm lẫn nhau
Trong khu vực FDI, mối quan hệ lao động dựa trên cơ sở sức lao động
và tư liệu sản xuất tách rời nhau. Nhưng để tạo việc làm cho người lao động,
tranh thủ nguồn vốn, công nghệ, cách quản lý của tư bản nước ngoài… vào sự
phát triển kinh tế của đất nước, trong chừng mực nhất định, phải thừa nhận có
quan hệ bóc lột sức lao động, nhưng đây là hình thức bóc lột cần thiết trong
điều kiện hiện nay của đất nước và của người lao động. Bên cạnh đó, khu vực
FDI tồn tại trong sự kiểm soát của pháp luật của Nhà nước, do đó, lao động
làm thuê ở đây, có một phần cũng là làm cho mình và cho xã hội.
23
Mối quan hệ lao động trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
hiện nay, đó là mối quan hệ giữa người sử dụng lao động (chủ DN) và người
lao động. Theo qui định tại Chương I, Bộ luật lao động (2005), thì: Chủ DN
có quyền tuyển chọn, bố trí, điều hành lao động theo yêu cầu sản xuất kinh
doanh, có quyền khen thưởng và xử lý các vi phạm kỷ luật theo qui định của
luật lao động, việc trả lương lao động được thực hiện theo quyền hạn của DN
với sự thoả thuận của người lao động và chủ DN trên cơ sở lợi ích mà bên này
tìm thấy ở bên kia.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động được qui định ở Chương
IV- bộ luật lao động, phần lớn các DN đều thực hiện đúng những gì đã cam
kết trong hợp đồng với người lao động. Nhiều chủ DN bên cạnh việc trả

thần…, trong đó, trực tiếp là lợi ích vật chất (lợi ích kinh tế) đó là tiền công,
tiền thưởng, các loại phụ cấp. Lợi ích kinh tế trực tiếp của người lao động,
biểu hiện dưới hình thức thu nhập bằng tiền gồm có:
- Thứ nhất: Tiền công
Cùng với quá trình chuyển nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế thị
trường, thì sức lao động của người lao động trong các DNCVĐTNN thật sự là
một hàng hoá. Theo lý luận tiền công của C.Mác, việc mua bán trao đổi hàng
hoá sức lao động được thực hiện thông qua hợp đồng lao động giữa người lao
động và chủ DN có nhu cầu sử dụng sức lao động đó. Và khi sức lao động trở
thành hàng hoá thì tiền công chính là hình thức biểu hiện bằng tiền là giá cả
hay giá trị của sức lao động.
Trên thực tế, hiện nay việc mua bán sức lao động diễn ra trước quá trình
sản xuất, số tiền công mà người lao động nhận được sau khi đã tiến hành sản
xuất ra hàng hoá hoặc một thời gian nhất định theo số lượng và chất lượng của
DN. Đúng như C.Mác đã viết: “giá trị sức lao động là giá trị của những tư liệu
sinh hoạt cần thiết để duy trì cuộc sống của người có sức lao ấy” [31, tr.256].
25

Trích đoạn Các qui định của pháp luật TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘ Đặc điểm cơ bản của các doanh nghiệp Nhật Bản trong xử lý vấn đề lợi ích của người lao động Sản xuất theo công nghệ Nhật bản, áp dụng Nghỉ phép 12 ngày/năm ,5 năm tăng 1 ngày
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status