Quan hệ lợi ích kinh tế giữa người lao động và người sử dụng lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở nước ta hiện nay - Pdf 28



TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ
LUẬN CHÍNH TRỊ NGUYỄN GIANG TUỆ MINH
QUAN HỆ LỢI ÍCH KINH TẾ GIỮA NGƯỜI LAO ĐỘNG
VÀ NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH
NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI Ở NƯỚC TA
HIỆN NAY
LUẬN VĂN TH.S KINH TẾ

Người hướng dẫn: Chu Văn Cấp Hà Nội 2006
Hợp đồng lao động
LĐLĐ:
Liên đoàn Lao động
TLĐLĐVN:
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam
TNHH:
Trách nhiệm hữu hạn
FDI:
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 4
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam đã chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế, bắt đầu từ việc thông
qua Luật Đầu tư nước ngoài vào năm 1987 và thực thi từ đầu năm 1988, trong
gần 20 năm qua khu vực đầu tư nước ngoài đã phát triển nhanh chóng và
được công nhận là bộ phận cấu thành của nền kinh tế với những đóng góp
không nhỏ vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước. Sự tăng trưởng
về số lượng cũng như qui mô các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
trong cả nước đã góp phần làm tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu,
nâng cao trình độ công nghệ của nền kinh tế, chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong
nước, đóng góp ngân sách cho nhà nước… và tạo ra hàng trăm ngàn chỗ làm
việc mới cho người lao động, góp phần đáng kể vào việc giải quyết việc làm,
giảm bớt tình trạng thất nghiệp hiện nay ở nước ta. Thu nhập bình quân của
người lao động làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

nước ngoài vào Việt Nam do Nguyễn Khắc Thân, Chu Văn Cấp đồng chủ
biên (1996), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.
“Lợi ích động lực phát triển xã hội”do Nguyễn Linh Khiếu chủ biên
(1999), Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội.
“Tạo việc làm cho người lao động qua trực tiếp đầu tư nước ngoài vào
Việt Nam” do Bùi Anh Tuấn biên soạn, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội,
2000.
- Dương Thuỵ Mỹ, “Mấy vấn đề về người lao động Việt Nam trong các
xí nghiệp liên doanh với nước ngoài” (Tạp chí Công tác tư tưởng và văn hoá,
số 6/1995).
- Trần Đình Giám, “Nguyên nhân chính dẫn đến đình công ở một số xí
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” (Tạp chí Lao động và xã hội, số 6/1996). 6
- Phụng Hiệp, “Xây dựng mối quan hệ hài hòa giữa đại diện lao động
và người sử dụng lao động trong các doanh nghiệp” (Tạp chí Lao động và
Công đoàn, số 1/1997).
- Ngoài ra còn có một số cuộc hội thảo, hội nghị liên quan đến vấn đề
quan hệ lợi ích trong các doanh nghiệp.
Các công trình nghiên cứu nói trên đã tiếp cận vấn đề lợi ích, lợi ích
kinh tế. Vai trò của lợi ích trong sự phát triển của xã hội, của con người và
mối quan hệ giữa các lợi ích dưới nhiều góc độ khác nhau. Các công trình viết
về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã đề cập đến loại hình doanh
nghiệp, vai trò vị trí của nó…, và cũng mới chỉ đề cập đến vấn đề lợi ích một
cách chung chung đặt trong tổng thể các mối quan hệ khác liên quan đến
người lao động và người sử dụng lao động. Nhìn chung còn ít công trình
nghiên cứu vấn đề quan hệ lợi ích kinh tế giữa người sử dụng lao động và
người sử dụng lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở
nước ta dưới góc độ kinh tế chính trị. Vì vậy đề tài luận văn vẫn cần thiết và

* Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp truyền
thống của khoa học kinh tế chính trị, nhất là phương pháp khảo sát, phân tích,
so sánh, đối chiếu, thống kê, tổng hợp , khái quát vấn đề và nghiên cứu tổng
kết thực tiễn
6. Đóng góp của luận văn
Những kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được dùng làm tài liệu
tham khảo cho việc hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội nhằm điều
chỉnh quan hệ lợi ích kinh tế, xây dựng quan hệ lao động lành mạnh trong các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Ngoài ra, luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các
nghiên cứu, giảng dạy các chuyên đề kinh tế liên quan. 8
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm có 3 chương, 7 tiết. 9
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUAN HỆ LỢI ÍCH
KINH TẾ GIỮA NGƢỜI LAO ĐỘNG VÀ NGƢỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG
TRONG DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI
1.1. Căn cứ lý luận của quan hệ lợi ích kinh tế trong doanh nghiệp
có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài
1.1.1. Những luận điểm cơ bản về lợi ích kinh tế
Con người ngay từ khi mới xuất hiện đã tiến hành các hoạt động kinh
tế. Hoạt động kinh tế luôn luôn giữ vai trò trung tâm trong mọi hoạt động xã
hội và nó là cơ sở các hoạt động văn hoá, tư tưởng, chính trị…

trong tất cả 4 khâu của quá trình tái sản xuất xã hội: sản xuất, phân phối, trao
đổi và tiêu dùng. Phải khẳng định rằng: ở đâu có hoạt động sản xuất kinh
doanh thì ở đó có lợi ích kinh tế và chủ thể hoạt động sản xuất kinh doanh
cũng là chủ thể các lợi ích kinh tế.
• Vai trò của lợi ích kinh tế trong sự phát triển kinh tế - xã hội
Lợi ích kinh tế là một trong những vấn đề sống còn của sản xuất và đời
sống. Lịch sử đã từng chứng minh, động lực thúc đẩy con người hành động
trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội không phải là cái gì khác ngoài lợi ích
của họ. Chính những lợi ích đó đã gắn bó con người với cộng đồng của mình
và tạo ra ở con người những sự kích thích, thôi thúc, khát vọng và sự say mê
trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Lợi ích kinh tế được nhận thức và thực hiện đúng thì nó sẽ là động lực
kinh tế thúc đẩy con người hành động. (lưu ý: nhận thức lợi ích là quá trình
mang tính chủ quan. Cái khách quan được biểu hiện dưới dạng chủ quan). Khi
các lợi ích kinh tế được nhận thức và thực hiện đúng sẽ làm nảy sinh các hoạt 11
động làm chủ, đồng thời tạo ra sự say mê, kích thích hoạt động thực tiễn của
con người. Do đó, lợi ích kinh tế thể hiện như là một trong những động lực cơ
bản của sự tiến bộ xã hội nói chung, phát triển sản xuất kinh doanh nói riêng.
Ph. Angghen cho rằng: Lợi ích kinh tế đó là những động cơ đã lay chuyển
những quần chúng đông đảo. Và khi chúng biến thành sự kích thích hoạt động
của con người “thì chúng lay chuyển đời sống nhân dân”.
Lợi ích kinh tế còn có vai trò quan trọng trong việc củng cố, duy trì các
mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể sản xuất kinh, doanh. Một khi con người
(chủ thể) tham gia vào các hoạt động kinh tế đều nhằm đạt tới các lợi ích nhất
định. Đạt được những lợi ích kinh tế tương xứng với kết quả sản xuất, kinh
doanh thì mới đảm bảo nâng cao tính ổn định và sự phát triển của các chủ thể
lợi ích. Ngược lại, khi không mang lại lợi ích hoặc lợi ích không được thực

phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Lãi, lỗ được
phân chia theo tỷ lệ góp vốn trong pháp định, sau khi đã trừ đi thuế lợi tức và
các khoản đóng góp cho nước chủ nhà.
Bốn là: về hình thức đầu tư, đầu tư trực tiếp nước ngoài thường được áp
dụng dưới các hình thức: Hợp đồng hợp tác kinh doanh; doanh nghiệp liên
doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
Doanh nghiệp có vốn ĐTNN tại Việt Nam được hiểu là các đơn vị kinh
tế, cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng hoá dịch vụ một cách hợp pháp theo nhu
cầu của thị trường, có sự tham gia và góp vốn của bên quản lý nước ngoài với
tỷ lệ góp vốn không thấp hơn 30% (trường hợp đặc biệt không thấp hơn 20%)
vốn pháp định của doanh nghiệp, được thành lập và hoạt động theo Luật Đầu
tư nước ngoài tại Việt Nam và các văn bản pháp luật liên quan, nhằm thu lợi
nhuận hoặc mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội. 13
Theo khái niệm trên hiện nay doanh nghiệp có vốn đầu nước ngoài ở
Việt Nam chủ yếu có hai loại: doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp
100% vốn nước ngoài.
• Doanh nghiệp liên doanh:
Ở đây chỉ xin đề cập đến hình thức liên doanh theo tỷ lệ vốn có mức độ
khác nhau giữa các bên chủ nhà với các cá nhân và các tổ chức kinh tế nước
ngoài. Theo điều 2 chương 1- Luật Đầu tư nước ngoài đã được sửa đổi thì
doanh nghiệp liên doanh “là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác
thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký giữa
Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước
ngoài, hoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp
tác với doanh nghiệp Việt Nam, hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với
nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh”.
Như vậy theo văn bản pháp luật đó, khái niệm “Doanh nghiệp liên

điểm chung, nhưng cũng có những đặc điểm riêng biệt của nó. Sở dĩ như thế
là vì, khu vực có vốn ĐTNN có nhiều yếu tố đặc thù về kinh tế, văn hoá, con
người. Chính vì vậy, việc nghiên cứu những nét đặc thù của quan hệ sản xuất
trong khu vực kinh tế có vốn ĐTNN để có những qui định chính sách phù hợp
là vấn đề cần thiết cả về lý luận và thực tiễn.
Thứ nhất, về quan hệ sở hữu.
Cũng như các khu vực kinh tế khác, một trong những nội dung của
quan hệ sản xuất là quan hệ sở hữu các nguồn vốn. Trong khu vực có vốn
ĐTNN sở hữu vốn thuộc về nhà đầu tư nước ngoài. Khi nói về khu vực kinh
tế có vốn ĐTNN, trước hết người ta thường nhấn mạnh là nhà đầu tư vốn, có
tư bản. Chính điều đó đã hấp dẫn việc thu hút đầu tư nước ngoài.
Rõ ràng là, muốn đầu tư ra nước ngoài, nhà đầu tư trước hết phải có
vốn, có tư bản, nhà đầu tư mới có thể xây dựng được nhà máy, mua sắm trang
thiết bị, thuê công nhân tại các nước sở tại để tiến hành sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên cũng cần phải hiểu thêm, vốn của nhà đầu tư bao gồm không
chỉ vốn riêng có của nhà đầu tư nước ngoài mà còn có cả nguồn vốn mà nhà
đầu tư vay của các ngân hàng và dân cư ở nước ta. Vấn đề là cần có một môi
trường pháp lý để bảo toàn vốn cho chủ sở hữu vốn đó.
Thứ hai, về quan hệ quản lý
Dù nhà đầu tư nước ngoài hoạt động bằng nguồn vốn tự có hay nguồn
vốn đi vay, về mặt pháp lý họ phải chịu trách nhiệm bảo toàn và phát triển 16
nguồn vốn của mình. Chính vì thế các nhà đầu tư nước ngoài là người chủ
hoặc đóng vai trò quan trọng trong công tác điều hành, quản lý doanh nghiệp.
Tuy nhiên trong điều kiện hiện nay, cùng với việc tách quyền sở hữu và
quyền sử dụng vốn là việc tách rời chủ sở hữu doanh nghiệp với chủ kinh
doanh. Ngày càng có nhiều nhà đầu tư thuê giám đốc điều hành hoạt động của
doanh nghiệp của mình ở các nước sở tại.Thông qua hoạt động đó nhà kinh

Theo đuổi và bằng mọi cố gắng để thu được lợi ích kinh tế cao nhất là
mục tiêu đặt ra của cả các bên liên quan đến hoạt động đầu tư. Tuy vậy, trên
thực tế một dự án trực tiếp đầu tư nước ngoài chỉ có thể được thực thi khi lợi
ích kinh tế được phân chia một cách hợp lý giữa nhà đầu tư nước ngoài và
nước chủ nhà - nước nhận đầu tư. Điều này lại phụ thuộc vào việc giải quyết
tốt mối quan hệ giữa quyền sở hữu với quyền điều hành quản lý sản xuất kinh
doanh và phân chia lợi ích cho các bên.
Hai là, quan hệ lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Quan hệ lao động trước hết là quan hệ giữa giới quản lý, người sử dụng
lao động và người lao động, quan hệ giữa chủ sở hữu hay là đại diện của chủ
sở hữu với người lao động làm thuê. Mối quan hệ này được thực hiện thông
qua hợp đồng lao động giữa mỗi công nhân và người chủ, cũng như hợp đồng
lao động tập thể giữa đại diện chủ sở hữu và đại diện người lao động.
Theo quan niệm “truyền thống” thì quan hệ giữa chủ (người sử dụng
lao động) - thợ (người làm công, làm thuê) là “quan hệ bóc lột”. Song trong
điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN thì quan niệm về
“quan hệ bóc lột” đã có sự thay đổi và có sự điều chỉnh. Điều này được lý giải
bởi bản chất của nhà nước XHCN - Nhà nước của dân, do dân, vì dân - do
Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo, luôn luôn kiên trì mục tiêu, lý tưởng: Dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh theo định hướng 18
XHCN, tiến tới xoá bỏ chế độ người bóc lột người. Từ đó, nhà nước có thể sử
dụng pháp luật, áp dụng các chính sách, biện pháp cần thiết để hạn chế “sự
bóc lột” đến mức có thể chấp nhận được trong thời kỳ quá độ lên CNXH.
Tuy nhiên, mối quan hệ giữa giới quản lý, người sử dụng lao động và
người lao động trong các doanh nghiệp có vốn ĐTNN tốt hay xấu, phần lớn
tuỳ thuộc vào:
- Trình độ tổ chức, quản lý lao động tại doanh nghiệp.

một bộ phận của lực lượng công nhân lao động nước ta. Cùng với sự tăng
nhanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, số lượng người lao
động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng tăng lên không
ngừng. Tính đến hết năm 2005, đã có khoảng 1 triệu lao động làm việc trong
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài [10, tr.153].
Cũng giống như những người lao động Việt Nam khác, người lao động
trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có nhu cầu làm việc và
mong muốn được hưởng lợi ích kinh tế xứng đáng với thành quả lao động mà
công sức họ đã bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh. Lợi ích kinh tế của
người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thể
hiện với tư cách là từng cá nhân, đồng thời với tư cách là tập thể thông qua tổ
chức công đoàn. Luật Lao động của nước ta đã qui định đầy đủ phương thức
hợp đồng lao động giữa đại diện doanh nghiệp và người lao động, cách tính
tiền lương và trả lương, bảo hiểm xã hội, quyền và nghĩa vụ của người lao
động đối với doanh nghiệp, kể cả quyền được đình công. Người lao động cần
có nhận thức đúng lợi ích, quyền lợi và những nghĩa vụ của mình trong các
doanh nghiệp có vốn ĐTNN, bởi vì thành công của doanh nghiệp cũng đồng 20
thời là sự đảm bảo thu nhập ngày càng gia tăng và điều kiện làm việc ngày
càng được cải thiện đối với họ.
- Việc làm ổn định:
Mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được
thừa nhận là việc làm.
Việc làm là vấn đề mọi người lao động đều quan tâm vì nó là tiền đề để
có thu nhập và thông qua công việc người lao động mới có cơ hội bộc lộ tài
năng và nâng cao kiến thức. Trong việc làm vấn đề quan trọng đối với người
lao động nhất là tính ổn định và phù hợp. Với việc làm ổn định và công việc
phù hợp với năng lực, trình độ, sức khoẻ của bản thân là điều kiện để người

Mức lương cụ thể của người lao động được hưởng phụ thuộc vào trình
độ chuyên môn nghiệp vụ, tay nghề và mức độ phức tạp của công việc mà
người đó đang đảm nhận, phụ thuộc vào độ dài ngày lao động và cường độ
lao động… Trong thời đại cách mạng khoa học và công nghệ đang phát triển
mạnh mẽ như hiện nay, những lao động có trình độ chuyên môn, tay nghề cao
sẽ có nhiều cơ hội có được việc làm với mức thu nhập cao và ngược lại,
những lao động giản đơn với tay nghề thấp sẽ khó có thể có được thu nhập
cao như mong muốn.
Trong từng doanh nghiệp mức lương do hai bên (người lao động và
người sử dụng lao động) thoả thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo
năng suất lao động, chất lượng và hiệu qủa công việc. Mức lương của người
lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước qui định.
Với đặc thù riêng trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, việc
qui định mức lương tối thiểu là vấn đề nhạy cảm bởi vì mức lương tối thiểu
của người lao động được qui định sao cho vừa đảm bảo mức sống của người
lao động vừa khuyến khích được đầu tư. Nếu qui định mức lương tối thiểu 22
quá cao sẽ ảnh hưởng đến việc khuyến khích đầu tư, nhưng qui định quá thấp
sẽ ảnh hưởng tới đời sống của người lao động.
Để đảm bảo công bằng trong trả lương cho người lao động, người sử
dụng lao động phải xây dựng thang, bảng lương và định mức lao động. Số bậc
của thang bảng lương phụ thuộc vào mức độ phức tạp , cấp bậc công việc và
quản lý. Định mức lao động được xây dựng trên cơ sở cấp bậc công việc và
phù hợp với cấp bậc công nhân. Mức lao động qui định là mức lao động trung
bình tiên tiến, đảm bảo số đông người lao động thực hiện được mà không phải
kéo dài thời gian làm việc tiêu chuẩn. Mức lao động mới được sửa đổi, bổ
sung phải được áp dụng thử tối đa không quá 3 tháng, sau đó mới được ban
hành chính thức.

- Đào tạo, bồi dưỡng tay nghề, nâng cao trình độ
Đào tạo, bồi dưỡng là hoạt động nhằm trang bị kiến thức căn bản hay
huấn luyện, nâng cao kỹ năng thành thạo nghề nghiệp cho người lao động, để
họ hoàn thành tốt nhiệm vụ hiện tại hoặc phù hợp với nhiệm vụ trong tương
lai của doanh nghiệp.
Việc làm và đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho người lao động là
hai mặt của một vấn đề có liên quan mật thiết với nhau, liên quan mật thiết
đến thu nhập và đời sống của người lao động. Bồi dưỡng, nâng cao trình độ
chuyên môn cho người lao động đồng nghĩa với người sử dụng lao động đã
bỏ ra một khoản ngân sách, một quĩ thời gian giành cho người lao động học
tập nâng cao trình độ.
Việc bồi dưỡng tay nghề, nâng cao trình độ chuyên môn cho người lao
động có thể tiến hành bằng nhiều hình thức: kèm cặp, bồi dưỡng tại chỗ, mở
các lớp học tại doanh nghiệp, hoặc gửi công nhân đi học tại các cơ sở đào tạo,
có thể là ngắn hạn, có thể là dài hạn, tổ chức tham quan các doanh nghiệp 24
khác hoặc các doanh nghiệp ở nước ngoài, qua đó người lao động cũng có thể
học tập, chia sẻ kinh nghiệm với nhau.
Xét về mặt lợi ích kinh tế thì trước hết người lao động được bồi dưỡng
đào tạo đã được hưởng nguồn lợi từ ngân quĩ đào tạo mà người sử dụng lao
động bỏ ra. Nhưng cái lợi lớn hơn mà người lao động thu được đó là qua việc
bồi dưỡng, nâng cao trình độ thì kỹ năng chuyên môn, trình độ tay nghề của
người lao động được nâng lên. Trên cơ sở đó người lao động có khả năng
nâng cao năng suất lao động, đáp ứng yêu cầu đổi mới công nghệ của doanh
nghiệp, có thể đảm nhận được những công việc ở cấp bậc cao hơn, có cơ hội
thăng tiến và tăng tiền lương cùng các khoản phụ cấp khác.
- Điều kiện nhà ở, đi lại
Quyền có nhà ở là một quyền cơ bản của con người được Nhà nước

và gia đình, góp phần đảm bảo an toàn xã hội.
Chế độ bảo hiểm xã hội là một vấn đề lớn, đóng vai trò quan trọng
trong việc ổn định đời sống của người lao động và gia đình họ trong các
trường hợp như: ốm đau, thai sản, chết, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp,
hết tuổi lao động hoặc mất việc làm. Khi tham gia bảo hiểm xã hội người lao
động được:
Khám bệnh và điều trị tại các cơ sở y tế theo chế độ bảo hiểm y tế.
Người lao động ốm đau có giấy chứng nhận của thày thuốc cho nghỉ
việc để chữa bệnh tại nhà hoặc điều trị tại bệnh viện thì được trợ cấp ốm đau
do quỹ bảo hiểm xã hội trả.
Khi có đủ điều kiện về tuổi đời và thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội
người lao động được hưởng chế độ hưu trí hàng tháng.
Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội được nhận các khoản trợ cấp
về bảo hiểm xã hội đầy đủ, thuận tiện và đúng thời hạn. 26
Quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành từ huy động của các nguồn đóng
góp của người sử dụng lao động, người lao động và hỗ trợ của nhà nước. Nó
thể hiện nghĩa vụ của người lao động và trách nhiệm của người sử dụng lao
động trong việc thực hiện bảo hiểm xã hội, Nhà nước tham gia thông qua việc
hỗ trợ thêm cho quĩ bảo hiểm xã hội. Mức đóng và mức hưởng bảo hiểm xã
hội có mối liên hệ với chính sách tiền lương hoặc tiền công của người lao
động là thu nhập thường xuyên, ổn định.
Như vậy xét về lợi ích kinh tế, người lao động chỉ phải đóng góp một
khoản nhỏ trong thu nhập của mình vào quĩ bảo hiểm xã hội, nhưng đã được
hưởng một khoản thu nhập thay thế khi họ gặp phải các rủi ro, nhằm đảm bảo
đời sống cho họ và những người trong gia đình.
1.2.2. Lợi ích kinh tế của người sử dụng lao động trong doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status