LUẬN VĂN:
Lợi ích kinh tế của người lao động trong
các doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhật
Bản trên địa bàn Hà Nội
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình hội nhập, làn sóng đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam ngày
càng gia tăng trong đó có nhiều doanh nghiệp của Nhật Bản. Đến cuối năm 2006, đầu tư
trực tiếp của các doanh nghiệp Nhật Bản vào Việt Nam đạt 7,4 tỷ USD. Nhật Bản đang
được coi là nhà đầu tư hiệu quả nhất tại Việt Nam, đứng đầu về số vốn thực hiện, trong
nói riêng đã có một số tác giả đã nghiên cứu:
- Lợi ích kinh tế cá nhân của người lao động trong các doanh ngiệpNhà nước ở
nước ta (Qua thực tiễn ở Hải Phòng) (Luận văn Thạc sĩ, 1995) của Đỗ Đăng Dân.
- Lợi ích kinh tế của người lao động, vai trò của công đoàn với việc bảo vệ lợi
ích này trong các doanh nghiệp công nghiệp tư nhân (Luận văn Thạc sĩ, 1995) của
Nguyễn Lợi.
- Trần Quang Lâm, An Như Hải chủ biên (2006), Kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Đỗ Lộc Diệp (2003), Mỹ - Âu - Nhật văn hoá và phát triển, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội.
- Trần Thị Nhung, Nguyễn Huy Dũng (2005). Phát triển nguồn nhân lực trong
các công ty Nhật Bản hiện nay, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhật Bản (Luận văn Thạc sĩ, 1998) của Đỗ Viết
Thẩn.
- Bàn về sự hình thành và kết hợp các lợi ích kinh tế trong nông nghiệp tập thể
hiện nay ở nước ta (Luận án. PTS, 1988) của Nguyễn Duy Hùng
- Lợi ích kinh tế của người lao động và vận dụng nó vào lực lượng vũ trang
trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam (Luận án Tiến sĩ khoa học quân sự, 1998),
Học viện chính trị Quân Sự
Tuy nhiên để đi sâu vào vấn đề "Lợi ích kinh tế của người lao động trong các
doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhật Bản trên địa bàn Hà Nội" thì chưa có tác giả
nào nghiên cứu. Do đó, chúng tôi đã chọn đề tài này để nghiên cứu.
3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích
Trên cơ sở kế thừa các tư liệu đã có, kết hợp với khảo sát thực tiễn
nhằm góp phần làm rõ thêm những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn lợi ích kinh tế của
người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhật Bản trên địa bàn Hà
Nội. Trên cơ sở đó nhằm đề xuất những phương hướng và giải pháp góp phần bảo vệ lợi
ích kinh tế cho người lao động trong các doanh nghiệp có vốn nước ngoài.
Việt Nam hiện nay.
6. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Thông qua những thành tựu và những đóng góp. luận văn có những ý nghĩa thực
tiến góp phần giúp cho các doanh nghiệp nước ngoài có vốn đầu tư ở Việt Nam cần phải
có quan điểm và nhận thức sâu sắc về vai trò của lợi ích kinh tế đối với người lao động,
trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Trên cơ sở đó họ có thái độ cư xử đúng đắn, phù
hợp với đạo đức, với quy ước của pháp luật trong quá trình các doanh nghiệp đầu tư
trực tiếp vào Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
gồm 3 chương, 8 tiết.
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG
CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
1.1. LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG
1.1.1. Bản chất lợi ích kinh tế và lợi ích kinh tế của người lao động
1.1.1.1. Bản chất của lợi ích kinh tế
Trong bất cứ nền sản xuất xã hội nào, lợi ích kinh tế đều là mối quan tâm của tất cả
các chủ thể kinh tế và các thành viên trong xã hội. Điều đó được biểu hiện rất đa dạng, phong
phú. Do đó, lợi ích kinh tế là vấn đề cơ bản xuyên suốt mọi nền sản xuất, của toàn bộ tiến
trình vận động và phát triển của lịch sử. Theo quan điểm của các nhà kinh điển thì lợi ích kinh
tế là hình thức biểu hiện của những quan hệ xã hội, những quan hệ kinh tế trong những giai
đoạn lịch sử nhất định.
Trong tác phẩm “Vấn đề nhà ở” Ph.Ăngghen đã viết: “Những quan hệ kinh tế
của một xã hội nhất định nào đó biểu hiện trước hết dưới hình thức lợi ích” [30, tr.376].
Khi bàn về lợi ích các nhà nghiên cứu lý luận trong và ngoài nước từ nhiều góc độ
tiếp cận khác nhau đã nêu lên những khái niệm về lợi ích kinh tế:
V.P Ca-man-kin cho rằng: “Lợi ích kinh tế của một chủ thể nhất định là sự tác
động lẫn nhau giữa các nhu cầu kinh tế của chủ thể đó” [6, tr.13].
định. Hay chính là: không phải bản thân nhu cầu là lợi ích kinh tế, mà nhu cầu khi được
xác định về mặt xã hội mới trở thành lợi ích kinh tế. Như vậy, lợi ích kinh tế có liên
quan đến nhu cầu của con người. Nhưng không phải mọi nhu cầu của con người đều trở
thành lợi ích kinh tế, mà chỉ có những nhu cầu vật chất (nhu cầu kinh tế) mới trở thành
lợi ích kinh tế.
Về bản chất phải khẳng định rằng: Lợi ích kinh tế là một phạm trù kinh tế khách
quan. Lợi ích kinh tế muốn được thực hiện phải thông qua hoạt động có nhận thức của
con người. Và con người càng nhận thức tự giác được phạm trù lợi ích, thì hoạt động
của họ càng thu được kết quả cao.
Quan hệ sản xuất là khách quan, nó luôn tồn tại trong vận động (như mọi sự vật
hiện tượng). Sự vận động của QHSX biểu hiện ở sự vận động của các quy luật kinh tế
do nó trực tiếp sinh ra (nghĩa là khi QHSX được xác lập, làm nảy sinh các quy luật kinh
tế phù hợp với bản chất của QHSX). Thông qua sự vận động của các quy luật kinh tế
mà QHSX ảnh hưởng tới quá trình sản xuất. Mỗi quy luật kinh tế, phản ánh một mặt của
QHSX, các quy luật kinh tế là quy luật xã hội, phương thức hoạt động của chúng đều
phải thông qua con người. Do đó, tính khách quan của quy luật kinh tế thể hiện qua lợi
ích kinh tế để chi phối con người hành động theo quy luật.
Lợi ích kinh tế là hình thức biểu hiện của QHSX, là một khâu chính của cơ chế
tác động chung của quy luật kinh tế do QHSX sinh ra. Không có lợi ích kinh tế thuần
tuý tồn tại ngoài con người hoặc là con người không ý thức gì về lợi ích. Lợi ích kinh tế
là một phạm trù kinh tế khách quan, những con người có khả năng nhận thức nó và vì
nó mà hành động. Ở đây, cái khách quan được biểu hiện dưới dạng chủ quan, mang
hình thức chủ quan, cái chủ quan do khách quan qui định. Trong thực tế, các động cơ
hành động kinh tế của con người có vẻ chủ quan nhưng thực ra nó là động cơ mang tính
khách quan. Một mặt, thông qua lợi ích, con người mưu cầu đời sống; mặt khác, thông
qua lợi ích mà xu hướng phát triển khách quan của sản xuất xã hội được thực hiện. Vì
vậy, lợi ích (trước hết là lợi ích kinh tế) trở thành một trong những động lực cơ bản, phổ
biến thúc đẩy sản xuất và đời sống xã hội phát triển. Ph.Ăngghen cho rằng, lợi ích kinh
tế là những động cơ đã lay chuyển những quân chúng đông đảo. Và khi chúng biến
một DN, thì lợi ích kinh tế không phải ở trong nhận thức của con người, mà ở trong một
cơ sở kinh tế nhất định, nhưng phương thức thực hiện lợi ích lại tuỳ thuộc vào nhận
thức của con người. Do đó, trong quá trình lao động, sản xuất, người lao động không thể
đặt lợi ích của mình ngoài sự tồn tại của DN, cũng như kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của DN mà họ đang làm việc. Ngược lại DN không tự nó đưa lại lợi ích cho
người lao động, nó chỉ tạo ra khả năng khách quan để người lao động thực hiện lợi ích
mà thôi như việc làm, điều kiện làm việc, môi trường thể hiện năng lực….và do vậy, lợi
ích kinh tế phản ánh quan hệ kinh tế giữa người lao động với người lao động, giữa người
lao động với chủ DN… Điều này đã được Ph.Ăngghen khẳng định: “Những quan hệ kinh
tế của một xã hội nhất định nào đó biểu hiện trước hết dưới hình thức lợi ích” [29].
Từ sự nghiên cứu tiếp cận phạm trù lợi ích kinh tế và phạm trù người lao động
nói chung, có thể nêu lên một cách khái quát: Lợi ích kinh tế người lao động là trong
quá trình sản xuất người lao động đem trí tuệ, tài năng lao động của chính mình để lao
động một cách tự giác, sáng tạo nhằm làm ra ngày càng nhiều của cải vật chất thoả mãn
tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của bản thân, gia đình và làm tròn nghĩa vụ với xã
hội và cộng đồng.
Lợi ích kinh tế là phạm trù kinh tế khách quan, là hình thức biểu hiện của các
quan hệ kinh tế, các quy luật kinh tế và phản ánh phương thức, mức độ thoả mãn các
nhu cầu vật chất, tinh thần của chủ thể kinh tế, của các thành viên khác nhau trong nền
sản xuất xã hội. Do đó khái niệm lợi ích kinh tế của người lao động ở nước ta hiện nay
thể hiện trên hai nội dung chủ yếu:
Thứ nhất: Người lao động phát huy được khả năng sáng tạo trong một môi
trường chính trị - xã hội ưu việt. Thể hiện, người lao động sẽ lao động một cách tự giác,
sáng tạo và có hiệu quả ngày càng cao vì lợi ích của chính người lao động, của tập thể,
của cộng đồng. Tuy nhiên, muốn biến khả năng đó thành hiện thực, cần phải có một cơ
chế, hình thức kết hợp hài hoà các lợi ích kinh tế trong một hệ thống, nhằm khơi dậy
phát huy một sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội, của từng tập thể và của từng cá nhân
người lao động.
Thứ hai: thoả mãn tốt hơn những nhu cầu về vật chất, tinh thần cá nhân và gia
tảng căn bản của xã hội mới mà chúng ta đang xây dựng, điều đó đã làm triệt tiêu động
lực của con người trong lao động sản xuất. Từ khi Đảng và Nhà nước ta đề ra chính
sách mới, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, thực hiện phân phối theo lao động: Ai
làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, có sức lao động mà không làm thì không
hưởng. Đã tạo một động lực rất lớn đối với người lao động, kích thích tính sáng tạo, khả
năng lao động của mỗi cá nhân trong sản xuất. Vì vậy, nhận thức đúng đắn lợi ích kinh
tế là động lực kích thích hoạt động của con người, có ý nghĩa sâu sắc trong việc phát
huy nhân tố con người, điều cơ bản nhất là phải giải quyết đúng đắn vấn đề lợi ích kinh
tế, và phải coi lợi ích kinh tế là mục tiêu cơ bản nhất của mọi hoạt động sản xuất kinh
doanh. Mặt khác, nguồn gốc sâu xa của mọi động lực kinh tế được bắt nguồn từ nhu cầu
kinh tế và sự đòi hỏi được thoả mãn nhu cầu đó của con người.
Hiện nay, do nắm bắt được vai trò lợi ích kinh tế đối với người lao động là một
tất yếu, để thực hiện mục tiêu lợi nhuận của mình các chủ DN đã biết quan tâm chăm lo
phát huy yếu tố con người, coi trọng những lợi ích thiết thân của người lao động, dựa
vào lực lượng khoa học kỹ thuật, công nhân lành nghề, đặt lòng tin, khắc phục sự kỳ thị,
đảm bảo thu nhập xứng đáng với khả năng đóng góp của người lao động, tìm ra cơ chế
quản lý phù hợp, coi trong việc sử dụng các quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, cải thiện
điều kiện lao động… để người lao động yên tâm làm việc, phát huy tính sáng tạo, đưa
lại hiệu sản xuất cao cho DN. Thế nhưng, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số DN kinh
doanh kiểu “chụp giật”, lợi dụng sức lực của người lao động để thu lợi nhuận, không
quan tâm đến lợi ích kinh tế của người lao động. Dẫn tới các cuộc đình công, bãi công
đòi tăng lương…của người lao động đối với giới chủ. Đây là một vấn đề bức xúc hiện
nay đòi hỏi các ngành chức năng giải quyết triệt để, làm sao người lao động yên tâm
làm việc và được hưởng đúng với quyền lợi của mình.
1.2. CÁC BỘ PHẬN CẤU THÀNH LỢI ÍCH KINH TẾ CỦANGƯỜI LAO
ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
1.2.1. Đặc điểm sử dụng lao động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài
Hai mươi năm, từ khi có luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (12/1987) đến nay,
tổng vốn đầu tư đăng ký trên 60,4 tỉ, vốn thực hiện (của các dự án còn hoạt động) đạt
trên 28,7 tỷ.
Việc thu hút vốn và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài được phân theo địa
phương.
Bảng 1.1: Kết quả thu hút vốn và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài
phân theo địa phương, giai đoạn 2000 – 2005
TT Địa phương Số dự án (%) Tổng vốn đăng ký (%)
1. TP. Hồ Chí Minh 30,19 23,4
2. Hà Nội 11,11 16,74
3. Đồng Nai 11,45 14,99
4. Bình Dương 18,44 9,98
5. Bà Rịa – Vũng Tàu 2,05 7,61
Nguồn: [4].
Theo số liệu trên thấy rằng, các thành phố lớn, có điều kiện kinh tế xã hội thuận
lợi thuộc các vùng kinh tế trọng điểm vẫn là những địa phương thu hút được nhiều dự
án và vốn đầu tư nước ngoài.
Bất cứ một hoạt động kinh tế nào đều gắn liền với lợi ích, bởi các hoạt động kinh
tế thực chất là nhằm mục đích là các lợi ích khác nhau. Đầu tư trực tiếp nước ngoài liên
quan đến lợi ích của DN nước ngoài, của DN Việt Nam và người lao động làm việc
trong các DN đó. DNCVĐTNN khi đầu tư vào Việt Nam, có thể hoạt động đầu tư vào
bất kỳ lĩnh vực nào, ngành nghề nào mà pháp luật nước sở tại cho phép, với mục đích
cuối cùng là lợi nhuận. Do đó, khu vực nào, ngành nghề nào tạo ra điều kiện thuận lợi,
thì khu vực đó, ngành nghề đó sẽ thu hút được vốn đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó,
nước chủ nhà có quyền ban hành luật pháp riêng cho các nhà đầu tư nước ngoài, còn
luật pháp có hấp dẫn họ hay không tuỳ thuộc vào lợi nhuận mà họ sẽ thu được trong quá
trình đầu tư sản xuất kinh doanh.
Thực tiễn hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam chỉ rõ rằng: xét về khía cạnh
lợi nhuận có sự khác nhau trong hoạt động đầu tư của các DN vừa và nhỏ và các công ty
TNC
độ; 60% sản lượng thép cán; 30% xi-măng; 33% thiết bị điện tử; 76% dụng cụ y tế chính
xác; 49% da giày; 25% thực phẩm đồ uống… [3]. Các lĩnh vực công nghiệp trên đây đã
góp phần tạo ra bước phát triển về tính chất, trình độ hiện có của lực lượng sản xuất, làm
cho lực lượng sản xuất của nước ta phát triển theo hướng hiện đại, phù hợp với xu thế và
mục tiêu chung của sự nghiệp CNH, HĐH.
Sự phát triển của FDI đã tác động đến cả chiều rộng và chiều sâu của quá trình
tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Từ năm 1991 đến năm 1998 trung bình hàng năm vốn
nước ngoài chiếm khoảng 28,7% tổng số vốn đầu tư xã hội; trong đó giai đoạn 1991-
1995 tỷ lệ là 25,7%, từ năm 1996- 1998 gần 30%. Trong giai đoạn 2001 – 2005 tổng
vốn FDI thực hiện là 14,3 tỉ USD, vượt 30% so với kế hoạch và tăng 13,6% so với 5
năm trước. Khu vực FDI là lực lượng quan trọng hỗ trợ cho các khu vực kinh tế tế khác
trong nền kinh tế quốc dân, đóng góp lớn vào đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế. Với
gần 20 năm hoạt động, nhưng FDI đã đóng góp một phần không nhỏ vào GDP theo
hướng tăng tích cực: Năm 1993: 3,6%; 1995: 6,3%; 1996: 7,9%; 1997: 9,07%; 1998:
10,12%; 1999: 12,3%; 2000: 13,3%; 2001: 13,5%; 2002: 13,91%; 2003: 14,47%; 2004:
14,8%; 2005: 15% và 2006: 15,8% [4]. Như vậy FDI đã đóng góp vào sự tăng trưởng
của GDP, vào nguồn ngân sách Nhà nước, đặc biệt có tỷ trọng lớn trong giá trị sản xuất
công nghiệp và kim ngạch xuất khẩu. Sự đóng góp này đã tạo điều kiện để nền kinh tế
Việt Nam thực hiện chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu.
Khẳng định vị trí, tầm quan trọng của FIE, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X
khẳng định: “Cải thiện môi trường pháp lý và kinh tế, đa dạng hoá các hình thức và cơ
chế để thu hút mạnh nguồn lực của các nhà đầu tư nước ngoài vào những ngành nghề,
lĩnh vực kinh doanh quan trọng” [13, tr.87].
Đầu tư nước ngoài là nhân tố góp phần quan trọng vào quá trình hình thành một
lực lượng lao động mới ở Việt Nam. Những năm qua, theo số liệu thống kê, đầu tư nước
ngoài đã giải quyết việc làm trực tiếp cho hơn 860 nghìn lao động có việc làm và hàng
triệu lao động khác liên quan gián tiếp
Trong các DNCVĐTNN, quan hệ lao động, trước hết là quan hệ giữa người sử
dụng lao động - người chủ và người lao động được thực hiện thông qua hợp đồng lao
Thị trường sức lao động Việt Nam vẫn nằm trong giai đoạn hình thành và phát triển
chưa cao. Sự chuyển dịch lao động giữa các ngành kinh tế khác nhau tương đối thấp so
với các nước. Việc yêu cầu các DN có vốn đầu tư nước ngoài phải tuyển dụng lao động
trong nước thông qua các cơ quan tuyển dụng được phép đã hạn chế tính linh hoạt của
thị trường sức lao động.
Việt Nam có lợi thế cạnh tranh về đội ngũ nhân công nhiều về số lượng nhưng
chất lượng vẫn thấp. Theo báo cáo của JETRO, tháng 6/2006, tiền lương bình quân
tháng theo USD của công nhân Việt Nam năm 2005: là 135 USD; kỹ sư: 302 USD; cán
bộ quản lý bậc trung là 685 USD; trong khi lương bình quân chung ở khu vực với công
nhân là: 205 USD; kỹ sư: 546 USD và cán bộ quản lý là: 1.129 USD.
Sự gia tăng của các DNCVDTNN, đã thu hút được một lực lượng lao động vào
làm việc ở khu vực này, nhờ đó mà làm tăng thu nhật cho người lao động và góp phần
quan trọng vào ổn định trật tự xã hội.
Trong thời gian qua, cùng với các thành phần kinh tế khác, thì khu vực kinh tế
có vốn đầu tư nước ngoài đã thu hút được một số lượng lao động ngày càng tăng. Nếu
năm 1990, lực lượng lao động Việt Nam ở khu vực này mới chỉ là 0,004% lực lượng lao
động trong cả nước, thì đến năm 2004 nó đã tăng lên 1,7%. Cụ thể, trong thời kỳ 1990 –
1995, đã thu hút 1.784 dự án, với số vốn dăng ký là 25.464 triệu USD và vốn pháp định
11.886 triệu USD. Trong 6 năm đó, lực lượng lao động thu hút làm việc trong khu vực
này gần 180 nghìn người, trong đó chủ yếu tập trung vào ngành công nghiệp chế biến
(78%), nhà hàng khách sạn (4%), vận tải kho tàng (3%) [44, tr.990]. Với sự phát triển
của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, lực lượng lao động thu hút vào làm việc
chủ yếu là lao động giản đơn chưa qua đào tạo, do đó mà tăng được thu nhập cho tầng
lớp dân cư nghèo, góp phần quan trọng vào tăng GDP và ổn định trật tự xã hội.
Biểu đồ 1.1: Sự tăng trưởng về lao động Việt Nam làm việc ở khu vực kinh tế có
vốn đầu tư nước ngoài thời kỳ 2000 – 2006
0
100000
Trong số lao động làm việc trong các DNCVĐTNN có nhiều lao động chưa được
qua đào tạo. Lực lượng lao động trong các DN được tuyển chọn từ nhiều nguồn khác
nhau. Họ được làm việc trong hệ thống dây chuyền công nghiệp hiện đại và đòi hỏi tuân
thủ kỷ luật lao động cao. Đây cũng chính là môi trường tốt để đào tạo đội ngũ lao động,
có phong cách làm việc phù hợp với công việc hiện đại và kinh doanh tiên tiến. Nhiều
DNCVĐTNN đã tạo cho lao động Việt Nam có điều kiện được đào tạo nâng cao tay
nghề, tiếp cận kỹ năng, công nghệ và kinh nghiệm hoặc được gửi đi đào tạo ở nước
ngoài. Người lao động cũng được rèn luyện về kỷ luật, tác phong công nghiệp và thích
ứng dần với cơ chế quản lý mới. Qua một thời gian làm việc cho DNCVĐTNN, hiện
nay, đội ngũ lao động Việt Nam trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài ngày càng trưởng
thành và có kinh nghiệm. Thể hiện: theo số liệu thống kê, có 6.000 cán bộ quản lý. 25.000
cán bộ kỹ thuật và trình độ tay nghề của hàng chục vạn công nhân ở các DN có vốn đầu tư
được nâng lên rõ rệt.
Thông qua các dự án có vốn đầu tư nước ngoài, nhiều công nghệ mới, tiên tiến
hiện đại được ứng dụng ở nước ta, đã góp phần nâng cao trình độ kỹ thuật và công nghệ
cho nhiều ngành sản xuất, tạo điều kiện góp phần nâng cao trình độ tay nghề, kinh
nghiệm quản lý sản xuất, nhân sự, kinh nghiệm kinh doanh trên phạm vi quốc tế, làm
tiền đề để phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Bên cạnh những mặt tích cực thì ở các DN FDI cũng đang đặt ra những thách thức,
đe doạ sự phát triển bền vững đối với nền kinh tế nước ta, thể hiện:
Trong quá trình đầu tư, vì mục tiêu lợi nhuận, DNCVĐTNN chỉ chú trọng tập
trung vào những lĩnh vực rủi ro thấp, có khả năng thu hồi vốn nhanh, hiệu quả cao như
các lĩnh vực công nghiệp tiêu dùng và dịch vụ. Rất ít các công ty tập trung đầu tư phát
triển các lĩnh vực công nghiệp chế tạo, công nghiệp nặng then chốt của nền kinh tế, một
số DNCVĐTNN đã nhập khẩu thiết bị cũ, công nghệ không hiện đại, biến nước ta thành
“bãi thải phế liệu của thế giới”. Theo thống kê của các cơ quan có thẩm quyền, thời kỳ
đầu 70% các thiết bị công nghệ được chuyển giao vào Việt Nam đều là những thiết bị
được chế tạo trước những năm 60-70 của thế kỷ XX. Những năm gần đây, tình hình có
thay đổi do chúng ta có nhiều tiêu chuẩn kiểm tra nghiêm ngặt, nhưng nhìn chung các
bãi công…. Lợi ích của người lao động được thể hiện với tư cách là từng cá nhân, đồng
thời với tư cách là tập thể thông qua các tổ chức công đoàn.Việc bảo vệ lợi ích của
người lao động trong các DNCVĐTNN đồng thời cũng là trách nhiệm của các cán bộ
bên Việt Nam làm trong liên doanh hoặc cán bộ là người Việt Nam trong các DN 100%
vốn nước ngoài. Do đó, người lao động cần có nhận thức đúng quyền lợi và nghĩa vụ
của mình trong các DNCVĐTNN, bởi thành công của DN cũng đồng thời là sự bảo đảm
thu nhập ngày càng tăng và điều kiện ngày càng được cải thiện đối với họ. Các
DNCVĐTNN thường áp dụng các phương pháp lôi cuốn người lao động tham gia quá
trình sáng tạo trong sản xuất và kinh doanh, như tăng lương trước thời hạn, thưởng
tháng lương thứ 13…Trong trường hợp xảy ra mâu thuẫn lợi ích giữa DN và người lao
động, thì tổ chức công đoàn sẽ đứng ra giải quyết, nếu mâu thuẫn quá gay gắt, thì cần
phải kịp thời giải quyết theo pháp luật hiện hành, tránh làm tổn hại đến lợi ích của DN
cũng như người lao động.
Về phía người sử dụng lao động, hiện nay, ở một số DNCVĐTNN, nhiều nơi
giới chủ đã và đang có những tác động bất lợi đối với người lao động trong DN như: kỷ
luật có tính cưỡng bức, thời gian lao động căng thẳng và kéo dài… Do đó, phần lớn các
cuộc đình công xảy ra do giới chủ đã vi phạm các quy đinh đối với người lao động về
tiền lương, thời gian lao động và nghỉ ngơi, tuyển dụng lao động, không ký hợp đồng
với người lao động, hoặc nếu có thì nội dung sơ sài, vi phạm luật lao động Việt Nam,
trong quá trình làm việc thực hiện không đầy đủ các quy định về bảo hiểm xã hội, bảo
hiểm y tế, bảo hộ lao động, vi phạm an toàn và vệ sinh lao động…có khi còn vi phạm
đến danh dự, nhân phẩm của người lao động.
Điển hình là vụ đình công đòi tăng lương xảy ra ngày 12.04.2007 tại Công ty
Trách nhiệm hữu hạn Kido Hanoi (Hưng Yên), với 100% vốn Hàn Quốc, chuyên sản
xuất may mặc. Nguyên nhân của vụ đình công do giới chủ trả lương quá thấp, kéo dài
thời gian lao động mỗi ngày. Theo hợp đồng lao động với mức lương 710.000đ –
790.000đồng/ tháng, thời gian làm việc 8 giờ /ngày và mỗi năm được tăng lương một
lần từ 5 – 10% (vào tháng 3 hàng năm). Nhưng trên thực tế, công nhân phải làm việc từ
10 – 12 tiếng một ngày mà không hề trả lương làm thêm theo đúng qui định của BLLĐ.
các vi phạm kỷ luật theo qui định của luật lao động, việc trả lương lao động được thực
hiện theo quyền hạn của DN với sự thoả thuận của người lao động và chủ DN trên cơ sở
lợi ích mà bên này tìm thấy ở bên kia.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động được qui định ở Chương IV- bộ
luật lao động, phần lớn các DN đều thực hiện đúng những gì đã cam kết trong hợp đồng
với người lao động. Nhiều chủ DN bên cạnh việc trả lương cho người lao động, còn
quan tâm đến khen thưởng, sử dụng những người có kỹ thuật cao, đào tạo tay nghề…
mở rộng qui mô sản xuất, tăng lương … Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng một số DN trong
quá trình thực hiện đã vi phạm hợp đồng, trái với qui ước tại điều 29 của Bộ luật lao
động; đó là vấn đề, ngoài tiền công ra, thì các chủ DN đã không quan tâm đến điều kiện
về an toàn lao động, vệ sinh lao động và bảo hiểm đối với người lao động …điều đó làm
cho người lao động không yên tâm làm việc trong DN. Rõ ràng là việc thừa nhận sự tồn
tại thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, là thừa nhận sự bóc lột lao động trong
phạm vi quản lý của các cơ quan chức năng. Việc các chủ DN chạy theo mục đích lợi
nhuận là một điều tất nhiên. Trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động luôn nảy sinh
mâu thuẫn về lợi ích giữa chủ DN và người lao động, DN bao giờ cũng muốn trả tiền
công cho người lao động và các chi phí với giá thấp, và ngược lại người lao động mong
được trả công cao hơn và các khoản phúc lợi khác. Các chủ DN có chiến lược kinh
doanh lâu dài bao giờ họ cũng ý thức được rằng, muốn cho DN phát triển, không còn
con đường nào tốt hơn là xây dựng mối quan hệ chủ - thợ bình đẳng, cùng có lợi. Người
lao động là động lực của quá trình sản xuất, do đó, phải biết tranh thủ, khai thác sức lực,
trí tuệ của người lao động để tạo ra năng suất và lợi nhuận cao.Vì mục tiêu không ngừng
tăng tích luỹ, tái sản xuất của DN, chủ DN cũng phải quan tâm tới vấn đề tái sản xuất
sức lao động, cả lao động cơ bắp lẫn lao động trí tuệ, do vậy, nếu vì lợi nhuận mà chủ
DN đối lập với người lao động là một điều không có lợi về lâu dài trong hoạt động sản
xuất – kinh doanh.
1.2.2.1. Lợi ích kinh tế trực tiếp
Lợi ích kinh tế người lao động là một trong ba loại lợi ích chủ yếu của nước ta
hiện nay, được coi là động lực trực tiếp bên trong của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã
Trong DNCVĐTNN tính chất thị trường của tiền công được thể hiện rõ nét, tiền
công chịu sự chi phối rất lớn của thị trường và thị trường lao động, tiền công trong khu
vực này cho dù vẫn nằm trong khuôn khổ phát luật và theo những chính sách của Nhà
nước Việt Nam, nhưng là những hợp đồng trực tiếp giữa chủ DN và người lao động,
hay là giữa bên làm thuê và một bên đi thuê thông qua quan hệ thuê mướn lao động - trả
thù lao theo thoả thuận.
Tiền công là giá cả sức lao động của người lao động, cho nên nó cũng bị tác
động của quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh. Điều đó đôi khi cũng gây nên những
biến động lớn về tiền công của người lao động. Nó có thể lên xuống tuân theo lượng
cung và lượng cầu về lao động. Một mặt, các chủ DN đã lợi dụng tình hình cung lớn
hơn cầu về lao động mà trả tiền công dưới giá trị sức lao động, thậm trí trả dưới mức tối
thiểu của giá trị lao động để thu lợi nhuận cao, nhất là đối với các DN hoạt động với
mục đích lợi nhuận là trên hết. Điều đó dễ gây ra cảnh bất công, bần cùng hoá người lao
động, dẫn đến đình công, bãi công đòi tăng tiền lương, dẫn đến xung đột xã hội và tác
động tiêu cực đến quá trình sản xuất. Mặt khác, nếu cung nhỏ hơn cầu về loại hình lao
động nào đó, thì người lao động dễ gây áp lực đòi tiền công cao hơn giá trị sức lao động,
điều này sẽ làm tăng chi phí sản xuất và gây bất lợi cho chủ DN.
Hiện nay, ở nước ta để bảo vệ người lao động, Bộ luật Lao động (2005) đã qui
định rõ tiền lương trong Chương VI gồm 13 điều, qui định về tiền lương cho người lao
động. Mặc dù tiền công trong các DNCVĐTNN là do sự thoả thuận giữa chủ DN và
người lao động thông qua hợp đồng lao động, tiền công đó trả theo năng suất, chất
lượng và hiệu quả công việc, song BLLĐ đã qui định tiền lương của người lao động
không thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước qui định tại điều 55 BLLĐ. Tại điều
56 BLLĐ qui định mức lương tối thiểu
Mức lương tối thiểu được ấn định theo giá sinh hoạt, bảo đảm cho người
lao động làm việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường bù đắp
sức lao động giản đơn và một phần tích luỹ, tác sản xuất sức lao động mở
rộng và được dùng làm căn cứ để tính các mức lương cho các loại lao động
khác [36, tr.37].
quan, nghỉ mát…Ngoài ra, từ quỹ phúc lợi DN trích ra một phần gọi là tiền phụ cấp là
số tiền bổ sung thể hiện trách nhiệm của người lao động, bù đắp cho người lao động làm
việc trong điều kiện khó khăn, nguy hiểm, độc hại… Các DN còn có trách nhiệm trích
một phần tiền từ quỹ phúc lợi cùng với người lao động đóng góp và mua Bảo hiểm y tế;
Bảo hiểm xã hội, cho người lao động, đảm bảo đúng quyền lợi và nghĩa vụ đối với
người lao động.
1.2.2.2. Lợi ích kinh tế gián tiếp
Trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động đối với người lao động về công
việc, giờ làm việc và nhất là tiền công là một trong những vấn đề được quan tâm hàng
đầu, nhưng bên cạnh đó thì lợi ích kinh tế gián tiếp đối với người lao động cũng là vấn
đề quan trọng. Lợi ích kinh tế gián tiếp của người lao động trong quá trình làm việc thể
hiện ở những nội dung: Điều kiện môi trường làm việc (môi trường tự nhiên, môi
trường xã hội); Đào tạo nâng cao tay nghề; Đảm bảo đời sống tinh thần, được thực hiện
thông qua hoạt động sản xuất ở DN
- Về điều kiện môi trường làm việc:
Khi nghiên cứu về tiền công, chúng ta thấy rằng, để có thu nhập người lao động
phải làm việc một thời gian nhất định hoặc tạo ra các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của
chủ DN. Khi ký kết hợp đồng lao động bên cạnh việc đảm bảo tiền công cho người lao
động thì DN còn cần phải thực hiện tốt điều kiện môi trường làm việc theo tiêu chuẩn.