Đề án môn học Bùi Thị Thu Thảo
LỜI MỞ ĐẦU
Ở nước ta hiện nay, số người không có việc làm khá nhiều, thêm vào đó hàng
năm có hàng triệu lao động bổ xung cho thị trường sức lao động làm cung vượt quá
cầu ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả nhân công. Với giá nhân công rẻ, nguồn lao động
phong phú cộng nền chính trị ổn định thì đây là điều kiện thuận lợi để thu hút các
doanh nghiệp ở nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Các công ty nước ngoài đã sử dụng
một khối lượng lao động lớn để giải quyết việc làm cho hàng chục ngàn lao động
nhưng chất lượng và môi trường lao động cho người Việt Nam ở các công ty có vốn
đầu tư nước ngoài còn nhiều bất cập, do chạy theo lợi nhuận các công ty này ít quan
tâm tới vấn đề an toàn vệ sinh lao động, làm việc trong môi trường độc hại, cường độ
căng thẳng, không có nhà ở gây khó khăn cho công nhân cùng với đó là vấn đề trả
lương cho người lao động chưa được hợp lý có tình trạng 2-3 tháng công nhân không
được trả lương hoặc trả lương không đúng như hợp đồng đã ký kết.... Từ đó phát sinh
các mâu thuẫn gây ra sự tranh chấp lao động trong doanh nghiệp.
Ngoài ra các chính sách, quy định của nhà nước về tiền lương, tiền thưởng chưa được
các công ty thực hiện tốt. cần có biện pháp cụ thể giám sát chặt chẽ và thực hiện các
quy định của Bộ luật lao động.
Từ những vấn đề bức xúc cần quan tâm giải quyết ở trên, em chọn đề tài "
Một số vấn đề liên quan tới lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài " làm đề án môn học của mình và đưa ra những nhận xét đánh giá của mình để
có thể giúp ích phần nào giải quyết những khúc mắc trên.
Bài viết chia làm 3 phần chính:
Chương1: một số vấn đề liên quan tới lao động trong các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài và các nhân tố ảnh hưởng.
Chương 2: Thực trạng về AN – VSLĐ, việc làm, thu nhập và tranh chấp lao
động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Chương 3: Một số kiến nghị và giải pháp về vấn đề liên quan đến lao động
trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
- 1 -
Đề án môn học Bùi Thị Thu Thảo
các vấn đề đó có ảnh hưởng tốt hay xấu tới kết quả kết quả hoạt động, đời sống của
người lao động từ đó ảnh hưởng lớn tới năng suất lao động của cả doanh nghiệp.
Nhất là trong các doanh nghiệp nước ngoài các vấn đề như an toàn- vệ sinh lao động,
việc làm, thu nhập, tranh chấp lao động càng cần xem xét kỹ.
2.1 An toàn và vệ sinh lao động.
Khái niệm: An toàn lao động là tình trạng điều kiện lao động không gây nguy
hiểm trong sản xuất.
Điều kiện lao động là tập hợp các yếu tố của môi trường lao động( yếu tố vệ
sinh, tâm sinh lý, tâm lý xã hội, thẩm mỹ) có tác động lên trạng thái, chức năng của
- 3 -
Đề án môn học Bùi Thị Thu Thảo
cơ thể con người, khả năng làm việc, thái độ lao động, sức khỏe, quá trình sản xuất
sức lao động và hiệu quả lao động của họ trong hiện tại cũng như trong lâu dài.
Sự cần thiết nghiên cứu vấn đề an toàn vệ sinh lao động:
Một trong những mục tiêu của doanh nghiệp đó là tăng năng suất lao động dẫn tới
tăng ồ ạt sản phẩm bằng cách thúc đẩy người lao động làm việc nhiều hơn. Nhưng
trong quá trình lao động dù sử dụng công nghệ thông thường hay công nghệ hiện đại,
đều phát sinh và tiềm ẩn những yếu tố nguy hiểm, có hại. Nếu không được phòng
ngừa cẩn thận, chúng có thể tác động gây chấn thương, bệnh nghề nghiệp đối với
người, làm giảm sút hoặc mất khả năng lao động hoặc tử vong. Cho nên, việc chăm
lo cải thiện điều kiện lao động đảm bảo nơi làm việc an toàn, vệ sinh vừa là quyền lợi
của cả người sử dụng lao động và người lao động, đồng thời đó là một trong những
yếu tố quan trọng để phát triển sản xuất và tăng năng xuất lao động. Chính vì vậy,
công tác bảo hộ lao động có vị trí rất quan trọng và là một trong yêu cầu khách quan
của hoạt động sản xuất kinh doanh.
2.2 Việc làm và thu nhập.
( 1 ) Việc làm
Khái niệm: Là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và điều
kiện cần thiết để sử dụng sức lao động đó.
Tạo việc làm: Là quá trình tạo ra sản lượng, chất lượng, tư liệu sản xuất, số
doanh của doanh nghiệp không tốt. Chính vì vậy để giải quyết ổn thỏa những mâu
thuẫn này cần phải xem xét nguyên nhân, và tìm ra những biện pháp để hạn chế và
ngăn ngừa những mâu thuẫn đó.
II. Các nhân tố ảnh hưởng tới an toàn lao động, việc làm, thu nhập,
tranh chấp lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
1. Người lao động.
Có thể nhận thấy rằng người lao động là một trong những nguyên nhân lớn
gây tác động tới ATLĐ, VSLĐ, thu nhập, tranh chấp lao động. Như nguyên nhân
chính gây nên tai nạn lao động chết người nói riêng là do người lao động vi phạm an
toàn, vệ sinh lao động. trong các doanh nghiệp nhất là doanh nghiệp nước ngoài luôn
luôn có đầu tư kinh phí rất lớn để cải thiện điều kiện lao động, trang bị bảo hộ lao
động, huấn luyện công tác an toàn, vệ sinh lao động, nhưng một sai lầm là không coi
trọng công tác tuyên truyền giáo dục cho người lao động có ý thức chấp hành quy chế
an toàn, vệ sinh lao động. Như vậy người lao động có ý thức kém trong vấn đề an
toàn vệ sinh lao động. Do đó dẫn tới những thiếu sót trong hoạt động sản xuất cuả
- 5 -
Đề án môn học Bùi Thị Thu Thảo
người trực tiếp điều khiển, những nhân viên bảo quản, người quan sát,...vv. Bên cạnh
vấn đề an toàn vệ sinh lao động, đó là vấn đề về thu nhập và việc làm. Trong bối
cảnh một đất nước đang phát triển như việt nam, cung về số lượng lao động không
phải là vấn đề đáng bàn vì dư cung.
Vấn đề quan trọng hơn là chất lượng sức lao động, khi làm việc cho các doanh
nghiệp nước ngoài không phải bất cứ cá nhân nào cũng có một mức lương khá ổn mà
đó còn tùy thuộc vào sức lao động mà người lao động bỏ ra. Do vậy người lao động
muốn kiếm được việc làm và nhất là việc làm có thu nhập cao phù hợp với năng lực,
trình độ, cần có thông tin thị trường lao động, cần đầu tư cho sức lao động của mình
tức đầu tư cho vốn con người cả về thể lực và trí lực, luôn luôn bồi bổ, tìm tòi học
hỏi
. 2. Trình độ tổ chức và quản lý.
Bên cạnh ý thức kỷ luật của người lao động thì tổ chức công đoàn có vai trò
CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI.
1. An toàn và sức khỏe người lao động.
Cùng bước nhịp với nền công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nhà nước đưa ra các
chính sách khuyến khích doanh nghiệp nước ngoài thuộc các thành phầm kinh tế, các
tổ chức cá nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào các khu công
nghiệp. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng cao trong khu vực
này.
Nhiều khu công nghiệp có từ 90%-100% doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
như khu công nghiệp: Sài Đồng (Hà Nội), khu chế xuất Linh Trung (TP.HCM), khu
công nghiệp AMATA(Đồng Nai)…Các doanh nghiệp trong khu công nghiệp chủ yếu
đầu tư vào lĩnh vực gia công, lắp giáp và sản xuất các sản phẩm công nghiệp để xuất
khẩu và tiêu thụ thị trường trong nước với các mặt hàng chủ yếu là hàng may mặc
xuất khẩu, lắp giáp điện tử, lương thực thực phẩm. Các doanh nghiệp đã thu hút một
lượng lao động đáng kể đặc biệt là lao động nữ.Ví dụ ở khu chế xuất Tân
thuận(tp.HCM) với 84 doanh nghiệp sử dụng 16034 lao động trong đó có 11334 là
lao động nữ; hoặc khu chế xuất Linh trung với 14 doanh nghiệp trong đó có 7844 lao
động nữ. Nhiều doanh nghiệp trong khu chế xuất đã sử dụng hơn 90% lao động nữ
như tại công ty TNHH Bultel- internationl(khu công nghiệp Biên Hòa 2) chuyên sản
xuất hàng may mặc xuất khẩu của Đức, nữ chiếm tới 92% lượng lao động. Do được
xây dựng biệt lập với khu dân cư và có lợi thế về cơ sở hạ tầng ban đầu cũng như vốn
ĐTNN mà doanh nghiệp có điều kiện xây dựng cơ sởa sản xuất, thiết kế nhà xưởng
theo đúng tiêu chuẩn an toàn- vệ sinh lao động. Nhìn chung người lao động làm việc
ở các doanh nghiệp có vốn ĐTNN tại các khu chế xuất, khu công nghiệp được
hưởng điều kiện lao động thuận lợi, tiện nghi hơn do những dây truyền công nghệ
được cơ giới hóa, tự động hóa, làm giảm bớt cáccông việc thủ công, các yếu tố nguy
hiểm, độc hại, môi trường làm việc cũng được cải thiện, ít ôi nhiễm và khang trang
- 8 -
Đề án môn học Bùi Thị Thu Thảo
sạch sẽ hơn.Nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã áp dụng những kinh nghiệm tốt trong
quản lý lao động đặc biệt là đảm bảo vệ sinh và an toàn cho người lao động. Trong
- 9 -
Đề án môn học Bùi Thị Thu Thảo
không phù hợp gây sự mệt mỏi tâm lý. Kết quả điều tra 106 lao động kỹ thuật cao
trong ngành nhiệt điện, xi măng, truyền tải, phân phối điện cho thấy:
Các trung tâm điều khiển đều được lắp đặt theo thiết kế nước ngoài, nênchỉ phù hợp
với 65% người lao động việt nam. Khi người việt nam làm vịêc trên dây truyền công
nghệ này, họ phải chịu đựng căng thẳng hơn, hoặc phải đưa bớt công việc cho người
khác.
Sự phù hợp của người lao động với công ngệ:
Công nghệ sự phù hợp với công nghệ(%)
Đức 13
Pháp, ý 34
Nhật 65
Theo số liệu của viện y học lao động Hà Nội
Với sự phù hợp chỉ có 13% quả là một con số quá nhỏ, điều này gây khá nhiều
bất lợi cho người trong khi làm việc. khảo sát về điều kiện làm việc của một số lao
động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của trung tâm vệ sinh phòng
dịch Hà Nội cho thấy:có đến 71% trong ca người lao động phảilàm việc trong tư thế
không phù hợp, như ngồi xổm, quỳ gối, khom lưng, ngồi trên ghế gỗ không có cần
điều khiển cao thấp cho phù hợp với chỉ tiêu nhân chắc, đặc biệt ở phân xưởng chân
không điển hình (orion-Hanel) công nhân phải đứng suốt ca tay nhấc bóng đè hình
(trọng lượng 6-7 kg) từ 800-1000 lần trong ca. Do phải chịu sự thay đổi lớn về tâm
lý, cộng với tư thế lao động bất lợi, người lao động làm việc trên dây truyền mới
thường mắc các bệnh nghề nghiệp như rối loạn cơ xương và một số các bệnh khác
dẫn tới sức khỏe của người lao động bị giảm sút và một số người lao động đã phải bỏ
việc. kết quả khám sức khỏe trong một số doanh nghiệp cho thấy những biểu hiện
lâm sàn tim mạch tim mạch của người lao động trong các doanh nghiệp này cũng khá
cao mà nguyên nhân có thể là do quá căng thẳng về thời gian và tâm lý. Việc tuân thủ
lao động liên quan đến vấn đề an toàn sưc khỏe người lao động trong các khu công
nghiệp còn nhiều hạn chế. Nhiều doanh nghiệp đã không khai báođăng ký xin phép
động trong các DNNN, khi họ bước qua ngưỡng tuổi thanh xuân, việc làm không
còn, chế độ không có…họ có thể bị nghỉ việc hay có thể mắc những căn bệnh mà do
trước đấy họ đã cống hiến hết mình cho công việc.
Thực hiện pháp luật về an toàn vệ sinh lao động trong các doanh
nghiệp đầu tư nước ngoài.
- 11 -
Đề án môn học Bùi Thị Thu Thảo
Một hệ thống an toàn vệ sinh lao động hữu hiệu, điều kiện làm việc thuận
lợilà nhu cầu quyền lợi chính đáng đầy tính nhân văn, nhân đạo cho mỗi người lao
động tham gia vào các quá trình lao động xã hội. đó là nhân tố bảo toàn sức khỏe khả
năng sáng tạo của người lao động, cái quý nhất của mỗi con ng cũng như bảo toàn
sức lao động xã hội để không ngừng tăng năng suất lao động và phát triển lực lượng
sản xuất. Tuy nhiên vấn đề an toàn lao động hầu như đối với mỗi quốc gia, ở mọi
thời điểm luôn mang tính bức xúc, bởi nó liên quan tới tất cả các khâu của tất cả hệ
thống sản xuất, hạch toán kinh tế, thành tịu khoa học, công nghệ sản xuất và an toàn
lao động. an toàn lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có
những đặc trưng riêng về kinh tế, công nghệ, quản lý sản xuất kinh doanh, quan hệ xã
hội doanh nghiệp môi trường áp dụng pháp luật. viện lao động khoa học- lao động và
các vấn đề xã hội thuộc bộ lao động- thương binh xã hội vừa thực hiện dự án điều tra
áp dụng bộ luật lao động trong đó có vấn đề thực hiện dự án điều tra áp dụng bộ luật
lao động trong đó có vấn đề thực hiện pháp luật về an toàn lao động tại các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Dưới đây là một số vấn đề quan tâm nôi lên khá
đậm nét cần đước sự nghiên cứu xử lý và chấn chỉnh. Tại thời điểm quý IV năm 2000
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tỉnh phía bắc có 27% tổng số lao động đang
phải làm việc trong điều kiện không thuận lợi, bao gồm các yếu tố tải trọng thể lực
cao, nguy hiểm độc hại, trật trội, tổ chức nơi làm việc không phù hợp với nhân trắc
học, tính đơn điệu cao của chỗ làm việc. Tỷ lệ này cao hơn mức bình quân chung là
trong một số ngành, như ngành công nghiệp nặng số lao động làm việc trong điều
kiện không thuận lợi chiếm 44.3%, ngành xây dựng là 63.3%. Chủ yếu các ngành này
có số lao động làm việc không thuận lợi là thuộc doanh nghiệp có vốn đầu tư của Đài
động, gần nửa số lao động trong doanh nghiệp không được khám sức khỏe định kỳ.
Bình quân chung các doanh nghiệp mới chỉ có 64.7% tổng số lao động được khám
sức khỏe định kỳ. Trong các doanh nghiệp công nghiệp chỉ đạt 50.7% lao động được
khám sức khỏe định kỳ, phần lớn là trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
tại địa phương Quản Ninh, Hải Dương, Thái Nguyên, Hà Tây. Nguyên nhân chủ yếu
của sự vi phạm này là do tính toán lợi ích kinh tế của chủ sử dụng lao động, một phần
do hệ thống dịch vụ y tế không thuận lợi do một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài ở địa bàn khó khăn. Chính từ những tồn tại trên của công tác an toàn lao động
mà tình hình tai nạn lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có
tính chất khá nghiêm trọng về quy mô.
- 13 -
Đề án môn học Bùi Thị Thu Thảo
Qua nghiên cứu một số doanh nghiệp, công ty nước ngoài thu được kết quả số vụ tai
nạn như sau:
Doanh nghiệp Hàn Quốc 3.69 (vụ)
Doanh nghiệp Hồng Kông 2.7
Doanh nghiệp Đài Loan 2.1
Doanh nghiệp các nước châu Mỹ 0.1
Công ty biến thế ABB 30
công ty vải sợi Hàn Quốc 28
Trong các Doanh nghiệp trên đối với các doanh nghiệp có nguồn vốn đầu tư
càng lớn thì số vụ tai nạn lại càng tăng, số người ảnh hưởng của các vụ tai nạn lao
động tính bình quân là 2.04 người. hầu hết các tai nạn lao động làm mất sức lao động
(giảm khả năng lao động) từ 0-31%. Tai nạn lao động xảy ra nhiều hơn là trong
ngành công nghiệp nặng, điện tử, xây dựng, công nghiệp nhẹ, nếu tính theo tổng số
lao động thì chỉ số tần suất tai nạn lao động là 100%, bệnh nghề nghiệp cũng được
phát hiện trong doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, một số nước hầu hết thuộc ngành
xây dựng. Trong doanh nghiệp đầu tư nước ngoài các nước Mỹ là 14.6‰, Nhật Bản
là 6.54‰, Hồng Kông là 1.12‰ và chỉ phát hiện được 3 ngành xây dựng là 19.67‰,
điện tử 0.93‰, dịch vụ .037‰. số liệu cung cấp của người sử dụng lao động và số