Công tác thanh tra về việc thực hiện pháp luật lao động tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài - Pdf 33

Chuyên đề Thanh tra Lao động

Phạm Thanh Tú – Lớp Đ4-QL1

LỜI NÓI ĐẦU
Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, cùng với những chích sách đổi mới
về tăng trưởng kinh tế, tăng cường củng cố quan hệ ngoại giao, đến nay đất
nước ta đã và đang trên con đường phát triển hội nhâp với các nền kinh tế trên
thế giới. Đi đôi với việc gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã mở ra
cho đất nước ta một sân chơi mới, ở đó chúng ta phải khẳng định vị thế của
mình trên trường quốc tế. Bởi ở đây là sân chơi chung, luật chung, ai mạnh
người đó thắng và phải chơi đúng luật. Đến nay, sau 6 năm tham gia sân chơi
những thành quả mà hội nhập mang lại cho nền kinh tế Việt Nam hết sức to lớn.
Tuy nhiên kèm theo đó là những thách thức, những tồn tại về cơ chế buộc chúng
ta phải thay đổi cho phù hợp với các chính sách chung.
Trên quan điểm đó hệ thống pháp luật Việt Nam đã từng bước được điều
chỉnh để tạo điều kiện tốt nhất cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước có một
môi trường đầu tư ổn định, cạnh tranh lành mạnh. Từ những bước đi đúng
hướng với chính sách mở cửa hợp lý, môi trường đầu tư được cải thiện làm cho
số lượng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh trong thời gian qua,
góp phần to lớn vào sự tăng trưởng kinh tế của đất nước. Bên cạnh những mặt
đạt được thì hiện nay còn tồn tại một vấn đề rất lớn đó là tình trạng các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vi phạm Pháp luật lao động Việt Nam, vi phạm
quyền lợi hợp pháp chính đáng của các bên trong quan hệ lao động, làm mất đi
tính nghiêm minh của pháp luật, anh hưởng tiêu cực đến môi trường đầu tư.
Trước những thực trạng trên em đã chọn đề tài: “Công tác thanh tra về việc
thực hiện pháp luật lao động tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài” làm đề tài nghiên cứu.
Chuyên đề này được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận cơ bản từ quá trình tìm
hiểu thông tin, tài liệu từ nhiều nguồn, các văn bản quy phạm pháp luật và các
kiến thức em đã được học. Trong quá trình hoàn thiện chuyên đề do những điều

Phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật. Đây là mục
tiêu chủ yếu, trực tiếp của hoạt động thanh tra.
Phát hiện các vi phạm pháp luật cũng là một mục tiêu quan trọng của hoạt
động thanh tra.
Phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến
nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục.
Phát huy nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động
quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá
nhân.
3.

Nguyên tắc hoạt động thanh tra

Theo Điều 5 Luật thanh tra quy định:
- Hoạt động thanh tra phải tuân theo pháp luật
- Bảo đảm chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời
- Không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân
là đối tượng thanh tra.

4.

Vai trò của công tác thanh tra

Thanh tra là nội dung không thể thiếu của quản lý nhà nước, là một giai
đoạn trong chu trình quản lý, có vai trò kiểm định, đánh giá hiệu quả của quản lý
nhà nước.
2


Chuyên đề Thanh tra Lao động

Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan quản lý nhà
nước theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp
hành pháp luật, những quy định về chuyên môn kỹ thuật, quy tắc quản lý của
ngành, lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý.
Thanh tra nhân dân là hình thức giám sát của nhân dân thông qua Ban
thanh tra nhân dân đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, việc giải quyết
khiếu nại, tố cáo, việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở của cơ quan, tổ chức,
cá nhân có trách nhiệm ở xã, phường, thị trấn, cơ quan nhà nước, đơn vị sự
nghiệp, doanh nghiệp nhà nước.

3


Chuyên đề Thanh tra Lao động

Phạm Thanh Tú – Lớp Đ4-QL1

Công tác thanh tra về việc thực hiện vi phạm pháp luật là do thanh tra
chuyên ngành lao động thực hiện.
II.
1.

NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH CỦA THANH TRA LAO ĐỘNG

Những quy định chung về Thanh tra lao động

- Điều 185 Bộ luật Lao động quy định: Thanh tra nhà nước về lao động có
chức năng thanh tra chính sách lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động.
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và cơ quan quản lý nhà nước về
lao động địa phương thực hiện thanh tra nhà nước về lao động.


Phạm Thanh Tú – Lớp Đ4-QL1

Trong trường hợp Điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác với Nghị định này thì áp dụng Điều
ước quốc tế đó.
2.3. Nguyên tắc hoạt động
Hoạt động của Thanh tra Lao động phải tuân theo pháp luật; bảo đảm chính
xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ và kịp thời; không làm cản trở
hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra.
Khi tiến hành thanh tra, người ra quyết định thanh tra, Chánh Thanh tra,
Trưởng đoàn thanh tra, Thanh tra viên, thành viên Đoàn thanh tra phải thực hiện
các quy định về pháp luật công tác thanh tra, pháp luật khác có liên quan và phải
chịu trách nhiệm về hành vi, quyết định của mình.
2.4. Mối quan hệ công tác
Thanh tra Lao động - Thương binh và Xã hội hoạt động dưới sự quản lý,
chỉ đạo trực tiếp của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về lao động, thương
binh và xã hội cùng cấp và sự chỉ đạo về công tác, tổ chức và nghiệp vụ thanh
tra của cơ quan thanh tra cấp trên.
Thanh tra Bộ chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn về công tác, tổ
chức và nghiệp vụ thanh tra của Thanh tra Chính phủ theo quy định của pháp luật;
Thanh tra Tổng cục Dạy nghề chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Tổng
cục trưởng Tổng cục Dạy nghề, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn về công
tác, tổ chức, nghiệp vụ thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành của
Thanh tra Bộ;
Thanh tra Sở chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc Sở Lao động
- Thương binh và Xã hội (sau đây gọi tắt là Giám đốc Sở), đồng thời chịu sự chỉ
đạo, hướng dẫn về công tác, tổ chức và nghiệp vụ thanh tra hành chính của
Thanh tra cấp tỉnh và hướng dẫn về công tác, nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành
của Thanh tra Bộ.

Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Chánh thanh tra, Phó Chánh thanh tra và Thanh tra
viên thực hiện theo quy định của pháp luật.
– Thanh tra Bộ được tổ chức cấp phòng; Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương
binh và Xã hội quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy và biên
chế của Thanh tra Bộ.
3.3. Tổ chức của Thanh tra Tổng cục Dạy nghề
– Thanh tra Tổng cục Dạy nghề là cơ quan của Tổng cục Dạy nghề; thực hiện
chức năng thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành trong phạm vi quản
lý nhà nước của Tổng cục Dạy nghề.
– Thanh tra Tổng cục Dạy nghề có Chánh thanh tra, Phó Chánh thanh tra và
Thanh tra viên.
– Chánh Thanh tra Tổng cục Dạy nghề do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương
binh và Xã hội bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Tổng cục
trưởng Tổng cục Dạy nghề, sau khi thống nhất ý kiến với Chánh Thanh tra Bộ.

6


Chuyên đề Thanh tra Lao động

Phạm Thanh Tú – Lớp Đ4-QL1

– Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh Thanh tra Tổng cục Dạy
nghề thực hiện theo quy định của pháp luật và phân cấp quản lý cán bộ.
– Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh Thanh tra viên thực hiện theo quy
định của pháp luật.
3.4. Tổ chức của Thanh tra Sở
– Thanh tra Sở là cơ quan của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội giúp
Giám đốc Sở thực hiện chức năng thanh tra hành chính đối với các cơ quan, tổ
chức, cá nhân thuộc quyền quản lý của Giám đốc Sở về việc thực hiện chính

– Cộng tác viên Thanh tra là người được trưng tập làm nhiệm vụ thanh tra
theo yêu cầu của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Chánh Thanh
tra Bộ; Tổng cục trưởng Tổng cục Dạy nghề, Chánh Thanh tra Tổng cục Dạy nghề;
Giám đốc Sở, Chánh Thanh tra sở để thực hiện nhiệm vụ thanh tra về lao động,
thương binh và xã hội.


Cộng tác viên thanh tra phải có đủ các tiêu chuẩn sau đây:

+ Có phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức trách nhiệm, liêm khiết, trung thực,
công minh, khách quan;
+ Có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với nhiệm vụ thanh tra về lao
động, thương binh và xã hội;
+ Có kiến thức pháp luật và kiến thức về lao động, thương binh và xã hội theo
quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
– Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành Quy chế cộng
tác viên thanh tra lao động
4.

Hoạt động của Thanh tra lao động

4.1. Hoạt động Thanh tra hành chính
Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ
chức, cá nhân thuộc quyền quản lý của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội, Tổng cục trưởng Tổng cục Dạy nghề, Giám đốc Sở.
4.2. Hoạt động của Thanh tra Chuyên ngành
Thanh tra đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân về việc thực hiện chính sách,
pháp luật của Nhà nước trong các lĩnh vực:
– Lao động, việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội, xuất khẩu lao động, an
toàn lao động, vệ sinh lao động, dạy nghề.

hoặc do Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giao.
6.

Phương thức hoạt động thanh tra

– Việc thanh tra được thực hiện theo phương thức Đoàn Thanh tra hoặc thanh
tra độc lập.
– Đoàn Thanh tra và Thanh tra viên hoạt động theo quy định của pháp luật về
thanh tra và pháp luật khác có liên quan.
7.

Kinh phí hoạt động

Kinh phí hoạt động của Thanh tra lao động, thương binh và xã hội do
ngân sách nhà nước cấp và nguồn kinh phí khác theo quy định của pháp luật.
Việc cấp phát, quản lý kinh phí thực hiện theo Luật Ngân sách nhà nước
và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.
III.

ĐẶC ĐIỂM CỦA DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC
NGOÀI

Hiện nay doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài so với doanh nghiệp Nhà
nước hay doanh nghiệp ngoài quộc doanh, tư nhân vẫn có những phân biệt đáng
kể về quyền lợi và nghĩa vụ. Theo Luật đầu tư của doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài bao gồm các doanh nghiệp được thành lập bởi đầu tư nước ngoài để
thực hiện hoạt động đầu tư tai Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ
phiếu, sát nhập mua lại, thành lập công ty nước ngoài, công ty liên doanh, văn
phòng đại diện... Trên nhiều phương diện hoạt động đầu tư vốn sản xuất, ngày
càng xuất hiện nhiều công ty nước ngoài hiện đã và đang làm ăn trên lãnh thổ

thời phát huy và khai thác hiệu qủa những lợi thế từ các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
IV.

NỘI DUNG CỦA PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG
Pháp luật lao động có một số nội dung cơ bản sau:
• Thoả ước lao động tập thể
• Hợp đồng lao động
• Tiền lương
• Thời giờ làm việc - thời giờ nghỉ ngơi
• Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp
• An toàn lao động - vệ sinh lao động

10


Chuyên đề Thanh tra Lao động

Phạm Thanh Tú – Lớp Đ4-QL1

CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THANH TRA PHÁP LUẬT LAO
ĐỘNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC
NGOÀI TẠI VIỆT NAM
I.

CƠ SỞ PHÁP LÝ QUY ĐỊNH VỀ CÔNG TÁC THANH TRA VÀ
THANH TRA LAO ĐỘNG

1. Các văn bản luật có liên quan

Phạm Thanh Tú – Lớp Đ4-QL1

thực hiện thanh tra về người có công, bảo hiểm xã hội, trẻ em, giải quyết khiếu
nại tố cáo và các vấn đề xã hội khác.
Theo ông Nguyễn Văn Tiến chánh thanh tra Bộ Lao động - thương binh và xã
hội việc thanh tra pháp luật lao động đối với từng doanh nghiệp là hết sức khó
khăn dường như không thế. Bình quân một năm ngành thanh tra lao động cả
nước chỉ mới tiến hành thanh tra được 3000 doanh nghiệp, trong đó doanh
nghiệp chỉ thanh tra được một lần, khả năng tái thanh tra nằm ngoài khả năng.
Qua hoạt động thanh tra, trung bình với một doanh nghiệp lực lượng chức năng
phát hiện ít nhất 7 lỗi vi phạm, phổ biến là lỗi về thời gian làm việc, an toàn lao
động, BHXH. Tại TPHCM 6 tháng đầu năm 2010 các doanh nghiệp nợ BHXH
từ 3 đến 12 tháng gần 196 tỷ đồng. Từ 12 tháng trở lên là 91 tỷ đồng. Đặc biệt
nợ khó đòi vượt lên 47 tỷ đồng. BHXH thành phố và các BHXH các quận,
huyện đã tiến hành khởi kiện trên 20 doanh nghiệp, nhưng số tiền thu được chưa
bằng 50% số nợ phải đòi
2.
Tình hình vi phạm pháp luật lao động tại các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài ở nước ta hiện nay
Trong những năm qua, cùng với chính sách mở cửa và hội nhập, hệ thống
luật pháp của Việt Nam từng bước được hoàn chỉnh, môi trường đầu tư được cải
thiện, làm cho số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng nhanh, góp phần
đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế đất nước. Tuy nhiên, tại một số doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài vẫn còn tình trạng vi phạm pháp luật lao động, dẫn
đến quyền lợi hợp pháp của các bên, đặc biệt là của người lao động chưa được
đảm bảo, tính nghiêm minh của pháp luật chưa được tôn trọng, ảnh hưởng tiêu
cực đến môi trường đầu tư.
Thực trạng Báo cáo kết quả thanh tra các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài của Bộ Lao động - TBXH và một số địa phương từ năm 1995 đến năm
2004, cho thấy: Tình hình vi phạm pháp luật lao động diễn ra chủ yếu từ phía

động – Thương binh và xã hội, chưa xây dựng nội quy lao động cũng như không
lập quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm.
+ Doanh nghiệp không thực hiện đầy đủ các quy định về an toàn vệ sinh lao
động. Tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp diễn biến phức tạp. Năm 2009, cả
nước có khoảng 6.000 vụ tai nạn lao động, làm chết 550 người và trên 1.200
người bị thương, nguyên nhân chủ yếu là do người sử dụng lao động và người
lao động vi phạm về an toàn vệ sinh lao động . Nhiều doanh nghiệp chưa thực
hiện nghiêm túc công tác huấn luyện về ATVSLĐ và cấp thẻ an toàn cho người
lao động theo quy định. Công tác tự kiểm tra ở các cơ sở còn thực hiện theo hình
thức chiếu lệ và không đúng định kỳ quy định. Chưa trang bị đầy đủ phương
tiện bảo vệ cá nhân theo quy định hiện hành của pháp luật. Nhiều doanh nghiệp
có trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân nhưng phương tiện không đảm bảo an
toàn, không đúng chủng loại,... Chưa thực hiện chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật
cho người lao động làm việc trong môi trường độc hại..
+ Nhiều doanh nghiệp liên tục và kéo dài tình trạng kéo dài thời gian làm việc
của người lao động từ 12 đến 14 giờ làm việc/ngày. Đối với lao động nữ tại
13


Chuyên đề Thanh tra Lao động

Phạm Thanh Tú – Lớp Đ4-QL1

doanh nghiệp may mặc, thủy sản, da giày, thời gian làm thêm từ 2 giờ đến 5
giờ/ngày, khoảng 600 giờ đến 1.000 giờ/năm, vượt quá xa quy định.Tình trạng
không trả lương làm thêm giờ hay bắt buộc người lao động phải nghỉ ngày thứ
bảy và khấu trừ vào phép năm diễn ra phổ biến ở nhiều doanh nghiệp Hàn Quốc,
Đài Loan, Trung Quốc... Khi tăng ca, doanh nghiệp không báo trước và không
có sự thoả thuận với người lao động. Theo số liệu khảo sát cho thấy trong số lao
động được hỏi có 35,8% người cho rằng phải làm thêm ít nhất 2 giờ/ngày;


Phạm Thanh Tú – Lớp Đ4-QL1

ì không tham gia bảo hiểm xã hội cho người lao động, chỉ khi nào cơ quan nhà
nước tiến hành kiểm tra, phát hiện và xử lý thì đến thời điểm đó số tiền doanh
nghiệp phải chi cũng chỉ bằng số tiền đáng ra phải nộp bảo hiểm xã hội và một
khoản tiền phạt, mà trong một số trường hợp khi so sánh với lợi ích thu được chỉ
mang tính chất như một khoản tiền phạt tượng trưng.
Còn ngược lại, nếu việc phát hiện, xử lý không đến nơi đến chốn thì khoản
“tiết kiệm” đó doanh nghiệp hưởng. Chính vì lý do này mà hiện tượng doanh
nghiệp nợ bảo hiểm xã hội ngày càng tăng và phổ biến. Chỉ tính riêng quý 1
năm 2011, số nợ tiền bảo hiểm xã hội của riêng các doanh nghiệp đã có tham gia
bảo hiểm xã hội trên địa bàn thành phố là trên 47 tỉ đồng (*) .
Doanh nghiệp sẽ không mạo hiểm để thực hiện hành vi vi phạm khi hậu
quả phải gánh chịu từ việc vi phạm cao hơn nhiều so với lợi ích đạt được từ việc
thực hiện các hành vi này. Nhưng ngược lại, khi lợi ích thu được từ việc thực
hiện hành vi vi phạm cao hơn nhiều so với chế tài, doanh nghiệp sẽ bằng cách
này hoặc cách khác vi phạm.
Nếu có bị áp dụng chế tài thì các khoản chi phí bỏ ra để khắc phục, nộp
phạt được doanh nghiệp xem như một loại chi phí trong quá trình sản xuất, lưu
thông hàng hóa và chính người tiêu dùng sẽ chịu chi phí này một cách gián tiếp
thông qua giá thành sản phẩm. Lúc này đối tượng phải chịu chế tài không phải là
doanh nghịệp mà gián tiếp đã là người tiêu dùng.
Việc tăng cường hoạt động thanh tra lao động trong các năm qua bao gồm
cả việc nâng cao số lượng và chất lượng thanh tra của cơ quan quản lý nhà nước
thực tế chỉ mới tập trung vào việc phát hiện và xử lý hành vi đã và đang xảy ra
mà chưa hướng đến việc ngăn chặn và phòng ngừa vi phạm một cách có hiệu
quả từ gốc.
Điều này chỉ được giải quyết khi pháp luật tính đến yếu tố kinh tế trong hệ
thống chế tài áp dụng đối với các chủ thể kinh tế, nghĩa là cần cho doanh nghiệp

đồng lao động thời vụ, cứ xong 3 tháng lại ký hợp đồng thời vụ mới.
Sáng ngày 25/02/2011, tại thành phố Hồ Chí Minh, Sở LĐ-TBXH thành
phố đã có buổi làm việc với Lãnh sự quán Hàn Quốc về việc các doanh nghiệp
Hàn Quốc chưa thực hiện tốt pháp luật lao động, dẫn đến tình trạng tranh chấp
lao động tập thể và quan hệ lao động ngày càng xấu hơn, đồng thời tìm biện
pháp giải quyết các vấn đề nêu trên.
Theo báo cáo, trên địa bàn TP. HCM hiện có gần 600 doanh nghiệp có vốn
đầu tư của Hàn Quốc, chiếm 20,30% trên tổng số 2.793 doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài. Trong đó, 219 đơn vị đã xây dựng nội quy lao động (chiếm
38,62%), 96 đơn vị đã xây dựng thỏa ước lao động tập thể (chiếm 16,93%) và
222 đơn vị đã xây dựng thang lương bảng lương (chiếm 39,15%). Về việc thực
hiện quy định về bảo hiểm xã hội, tính đến ngày 30/9/2009, trên địa bàn thành
phố có 324 doanh nghiệp Hàn Quốc đã tham gia bảo hiểm xã hội, trong đó có 87
doanh nghiệp nợ bảo hiểm xã hội với tổng số tiền 41.941.934.259 đồng. Thời
gian gần đây, phát sinh thêm một số doanh nghiệp không chỉ nợ bảo hiểm xã hội
kéo dài, mà còn nợ tiền lương của người lao động, chủ doanh nghiệp bỏ về
nước, dẫn đến đời sống người lao động hết sức khó khăn. Vì quá bức xúc, họ đã
kéo đi kêu cứu ở nhiều nơi, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trên
16


Chuyên đề Thanh tra Lao động

Phạm Thanh Tú – Lớp Đ4-QL1

địabàn. Do đó, các cơ quan ban ngành quận, huyện, thành phố đã phải mất nhiều
công sức để xử lý và giải quyết.
Chỉ tính riêng trong năm 2008, thành phố có 66 vụ đình công tại các doanh
nghiệp Hàn Quốc, chiếm 45,20% trong tổng số 146 vụ đình công xảy ra tại các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Trong 2 tháng đầu năm 2010, doanh


Chuyên đề Thanh tra Lao động

Phạm Thanh Tú – Lớp Đ4-QL1

- Về phía người lao động: Nhận thức cũng như hiểu biết pháp luật của
người lao động còn nhiều hạn chế do không được đào tạo nghề nghiệp cũng như
học tập, nghiên cứu pháp luật lao động trước khi vào làm việc. Chưa có tác
phong công nghiệp và tinh thần kỷ luật cao, trình độ tay nghề còn hạn chế, chưa
đáp ứng được những đòi hỏi của một nền công nghiệp hiện đại. Mặt khác, đời
sống của người lao động có nhiều khó khăn, nên họ cần việc làm bằng mọi giá,
kể cả điều kiện lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, đe doạ đến sức khoẻ và
tính mạng của mình, chấp nhận cả mức thù lao thấp, không tương xứng với sức
lao động mà họ bỏ ra.
- Về phía các cơ quan quản lý Nhà nước: Sự phối kết hợp giữa các cơ quan
chức năng trong việc quản lý các doanh nghiệp chưa tốt. Cơ chế xử phạt không
đủ tính răn đe, việc phối hợp với các ngành chức năng trong việc xử lý vi phạm
pháp luật về lao động chưa thật chặt chẽ. Công tác thanh tra, kiểm tra chưa được
thực hiện đầy đủ, thường xuyên, nhiều khi lại chồng chéo, chất lượng, hiệu quả,
hiệu lực các cuộc thanh tra chưa cao. Một số nội dung trong các văn bản quy
phạm pháp luật chưa phù hợp với thực tế…
- Về phía cán bộ Thanh tra: Do lương thấp, chẳng mấy người mặn mà với
công tác thanh tra vốn cần có kinh nghiệm thì mới hiểu được những quy chuẩn
an toàn lao động, từ đó mới “soi” nổi doanh nghiệp làm đúng hay sai. Chuyện
thiếu người đi xử phạt đã là một vấn đề nhức nhối, nhưng chế tài đối với những
vi phạm về an toàn lao động quá “non” cũng khiến cho công tác quản lý lĩnh vực
này càng lâm vào thế khó. Một số cuộc thanh tra còn kéo dài thời gian; tiến hành
thanh tra nhưng không có quyết định thanh tra, không lưu báo cáo kết quả thanh
tra và kết luận thanh tra; không gửi kết luận thanh kiểm tra cho Thanh tra cấp
trên để theo dõi, tổng hợp...Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo một số vụ việc còn

làm công tác thanh tra, qua đó mà hạn chế được những tiêu cực phát sinh như:
tham ô, phong bì lót tay, cậy chức, cậy quyền, vòi vĩnh doanh nghiệp…
2.

Về chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của cơ quan thanh tra lao động

- Cần tăng cường hơn nữa tính độc lập tương đối trong hoạt động thanh tra,
hoàn thiện quy định về thẩm quyền của các cơ quan thanh tra nhằm khắc phục
những tồn tại, bất cập trong hoạt động thanh tra hiện nay.
- Bổ sung thẩm quyền cho Chánh thanh tra các cấp được ra quyết định
thanh tra khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật để bảo đảm tính kịp thời
của hoạt động thanh tra, đồng thời chánh thanh tra cũng được quyền ra kết luận
cuối cùng nhằm đảm bảo tính khách quan và nghiêm minh của pháp luật.
- Quy định rõ nội dung tự chịu trách nhiệm trước pháp luật của cơ quan
thanh tra về kết luận thanh tra và trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan quản lý
nhà nước trong việc xem xét, xử lý kết luận thanh tra.

19


Chuyên đề Thanh tra Lao động

Phạm Thanh Tú – Lớp Đ4-QL1

- Bổ sung quy định cơ quan thanh tra được yêu cầu cơ quan, tổ chức,
cá nhân liên quan cung cấp thông tin phục vụ nhiệm vụ quản lý nhà nước về
thanh tra.
- Hoàn thiện các quy định nhằm xác định trách nhiệm, xử lý hành vi vi
phạm của đối tượng thanh tra trong việc thực hiện yêu cầu, kiến nghị, quyết định
xử lý về thanh tra, quyết định thanh tra của cơ quan thanh tra.

20


Chuyên đề Thanh tra Lao động

Phạm Thanh Tú – Lớp Đ4-QL1

toàn lao động và vệ sinh lao động nhằm thúc đẩy sự phát triển của doanh
nghiệp.

II. TRÁCH NHIÊM CỦA NHÀ NƯỚC VÀ CÁC BỘ NGÀNH LIÊN
QUAN
1.

Trách nhiệm của Nhà nước

Hoàn thiện hệ thống thể chế pháp luật, đặc biệt là việc sửa đổi bổ sung Luật
Thanh tra; sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật lao động quy định về công
tác thanh tra lao động.

- Kịp thời đổi mới và nâng cao về chất lượng đào tạo, đào tạo chuyên
sâu đội ngũ cán bộ làm công tác thanh tra nói chung và đội ngũ thanh tra
viên lao động nói riêng. Đảm bảo đủ về số lượng và không ngừng củng cố
nâng cao về chất lượng.
Hàng năm trong xây dựng dự toán chi ngân sách cần quan tâm tăng nguồn
chi phục vụ cho công tác thanh tra thanh tra nói chung và công tác thanh tra
chính sách lao động nói riêng.
2.

Trách nhiệm của các Bộ, ngành liên quan

luôn nắm trong tay về tư liệu sản xuất, họ luôn mong muốn đạt được lợi nhuận
cao nhất.
Thực trạng lớn nhất của công tác thanh tra việc thực hiện pháp luật lao
động tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong tình hình hiện nay là
thiếu trầm trọng đội ngũ thanh tra viên đủ kiến thức chuyên môn để tìm ra
những sai phạm pháp luật, đủ kinh nghiệm để nhìn thấy những vi phạm pháp
luật lao động mà doanh nghiệp cố tình vi phạm để xử lý theo đúng luật. Việc
buông lỏng quản lý và cơ chế luật pháp chưa nghiêm đã dựng lên kẽ hở để các
“ông chủ” tự do lộng hành trên sức lao động của người lao động trong nhiều
năm qua.
Để từng bước hoàn thiện về cơ chế, chính sách và hệ thống luật pháp có liên
quan đến người lao động thi các cấp, các ngành phải nhanh chóng điều chỉnh
công tác thanh tra lao động để các doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc các chính
sách pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài đang giữ một vị trí quan trọng và đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng
22


Chuyên đề Thanh tra Lao động

Phạm Thanh Tú – Lớp Đ4-QL1

kinh tế của quốc gia. Đồng thời các cán bộ thanh tra lao động làm việc phải
công tâm, phải thật sự am hiểu chuyên môn nghiệp vụ, dày dạn kinh nghiệm
trong xử lý tình huống và giao tiếp tốt với các bên liên quan.

MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN...................................................................................




Chuyên đề Thanh tra Lao động

Phạm Thanh Tú – Lớp Đ4-QL1

1. Cơ cấu tổ chức, chất lượng và số lượng.................................................................10
2. Tình hình vi phạm pháp luật lao động tại các doanh nghiệp nước ngoài hiện nay. .11
3. Nguyên nhân dẫn đến vi phạm pháp luật lao động tại các doanh nghiệp NN.........16
CHƯƠNG III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC
THANH TRA PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NN...................18

I. Trách nhiệm của Thanh tra .............................................................................. 18
II. Trách nhiệm của Nhà nước và các Bộ, Ngành liên quan .....................................20
KẾT LUẬN

24


Chuyên đề Thanh tra Lao động

Phạm Thanh Tú – Lớp Đ4-QL1

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status