HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ MINH LOAN
LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG
CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2015
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ MINH LOAN
LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG
CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành
: Kinh tế chính trị
Mã số
: 62 31 01 02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
vấn đề đặt ra cần phải tiếp tục nghiên cứu
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO
6
13
24
29
ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ
NƯỚC NGOÀI
2.1. Lý luận về lợi ích kinh tế
2.2. Lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài
2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của người lao động trong các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam
2.4. Kinh nghiệm một số tỉnh của Việt Nam về việc giải quyết lợi ích kinh tế
của người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Chương 3: THỰC TRẠNG LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG
29
36
50
69
76
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC
NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
3.1. Những thuận lợi và khó khăn thực hiện lợi ích kinh tế của người lao
127
148
151
152
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLLĐ
:
Bộ luật lao động
CNH, HĐH
:
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CNTB
:
Chủ nghĩa tư bản
DN
:
Tổng sản phẩm quốc nội
KCN
:
Khu công nghiệp
LIKT
:
Lợi ích kinh tế
QHSX
:
Quan hệ sản xuất
SXKD
:
Sản xuất kinh doanh
TTATXH
:
90
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ
Trang
Biểu đồ 3.1:
Đánh giá trình độ chuyên môn của lực lượng lao động
78
thành phố Hà Nội năm 2013
Biểu đồ 3.2:
Mức độ hài lòng về các chế độ cho công nhân
89
Biểu đồ 3.3:
Lý do chưa hài lòng của người lao động
92
Biểu đồ 3.4:
Nguyên nhân đình công của người lao động
94
động của nền kinh tế thế giới bước đầu thoát ra khỏi khủng hoảng. Lạm phát ở
một số nước Châu Á giảm, tăng trưởng kinh tế ở nhiều nước trong khu vực đã có
chiều hướng gia tăng. Đầu tư nước ngoài vào thành phố Hà Nội có sự khởi sắc
đã tác động tích cực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Đáng chú ý là các dự
án đầu tư được thực hiện đã góp phần quan trọng trong giải quyết việc làm cho
số lượng lớn lao động của thành phố Hà Nội.
Nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (DNCVĐTNN) đã quan tâm
đến lợi ích của người lao động làm việc ở cơ sở sản xuất của họ, trả lương cho công
nhân ở mức thoả đáng đáp ứng nhu cầu tái sản xuất sức lao động, quan tâm đến điều
kiện môi trường làm việc của công nhân và đã có những hoạt động nhằm nâng cao
đời sống tinh thần cho công nhân. Phần lớn người lao động trong các DNCVĐTNN
có thu nhập khá ổn định, tiền thưởng tăng lên, lợi ích kinh tế (LIKT) của người lao
động được bảo đảm, đời sống của họ từng bước được cải thiện, góp phần thực hiện
mục tiêu ổn định kinh tế - xã hội ở Thủ đô và các tỉnh lân cận.
Tuy nhiên, bên cạnh các DNCVĐTNN có sự quan tâm đối với đời sống vật
chất, tinh thần cho người lao động, cũng còn không ít các chủ doanh nghiệp (DN)
do chạy theo lợi nhuận, mưu lợi cho mình nên đã hạn chế, không quan tâm tới lợi ích
chính đáng của người lao động làm việc trong cơ sở sản xuất của mình, trả lương cho
công nhân thấp, lương không bảo đảm tái sản xuất sức lao động ở mức bình thường,
điều kiện, môi trường làm việc độc hại không được xử lý, trang thiết bị cho người lao
động không bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn lao động. Nhiều DNCVĐTNN
không lo được chỗ ở cho công nhân, phần lớn công nhân tự thuê nhà, phòng trọ để cư
trú, các nhà trọ gần với khu vực làm việc của công nhân, nhưng mang tính tạm bợ, bố
2
trí trong không gian chật hẹp, thiếu điện nước thường xuyên. Đời sống tinh thần của
công nhân cũng rất hạn chế, ngoài giờ làm việc công nhân ít được tiếp xúc với các
phương tiện thông tin đại chúng như sách báo, phim ảnh, ti vi…
Nhìn chung, tình trạng một số DNCVĐTNN vẫn chưa quan tâm thích đáng
các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian tới.
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong
giảng dạy, nghiên cứu những vấn đề liên quan đến LIKT của người lao động nói
chung và người lao động trong các DNCVĐTNN nói riêng.
5
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Về mặt lý luận, luận án đã hệ thống hóa và làm rõ thêm một số vấn đề lý
luận cơ bản về LIKT như: Khái niệm về lợi ích, LIKT, LIKT của người lao động
trong các DNCVĐTNN, đặc điểm, cơ cấu, các nhân tố ảnh hưởng đến LIKT của
người lao động. Trên cơ sở đó, luận án góp phần tạo ra cơ sở lý luận vững chắc về
LIKT của người lao động trong các DNCVĐTNN ở Việt Nam.
- Về mặt thực tiễn, từ phân tích thực trạng LIKT của người lao động trong
các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2000 - 2014, luận án chỉ
ra những kết quả đạt được, những mặt hạn chế chủ yếu và nguyên nhân của những
hạn chế đó, đưa ra các quan điểm và giải pháp có tính khả thi, nhằm bảo đảm LIKT
của người lao động trong các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội. Vì vậy,
luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo tốt cho thành phố Hà Nội nói riêng để
vận dụng vào giải quyết mối quan hệ LIKT giữa người lao động, DNCVĐTNN và
các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức xã hội.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận án
gồm 4 chương, 12 tiết.
6
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI
bao giờ nói với họ về những nhu cầu của chúng ta, mà chỉ nói với họ về mối tư lợi
của họ. Đây thực sự là một quan niệm đặc biệt về LIKT, tính thực tiễn và tiến bộ
của quan điểm đặc biệt này đã được thực tế chứng minh.
Theo A.Smith, trong quá trình hoạt động kinh tế, mỗi người đều theo đuổi lợi
ích cá nhân, đều nỗ lực cải thiện mức sống của mình, như thế tất yếu sẽ dẫn đến làm
tăng của cải xã hội. Nhưng xuất phát từ tính vị kỷ của con người, lợi ích của cá
nhân này bị hạn chế bởi lợi ích của cá nhân khác và trong quá trình thực hiện LIKT,
tất cả các chủ thể đều có mối quan hệ với nhau. A.Smith đã viết: "Anh cho tôi thứ
mà tôi thích, anh sẽ có thứ mà anh yêu cầu, đó chính là ý nghĩa của trao đổi" [3,
tr.65]. Từ quan điểm đó, A.Smith đã chỉ rõ: Đó chính là toàn bộ ý nghĩa quan hệ
kinh tế và cũng chính bằng cách này mà người ta nhận được phần lớn các dịch vụ
cần thiết trong cuộc sống. Như vậy, lần đầu tiên ông đã nghiên cứu các lợi ích trong
mối quan hệ lẫn nhau giữa chúng, Ông cho rằng, bất cứ lợi ích nào cũng chỉ được
đáp ứng trong trường hợp nó không mâu thuẫn với tăng năng suất của tư bản. Tiền
lương cao không mâu thuẫn với lợi ích xã hội, vì theo mức tăng tiền lương thì năng
suất lao động cũng sẽ được tăng lên. Mặt tích cực trong lý luận lợi ích của A. Smith
là ở chỗ: LIKT được coi là động lực cơ bản của sự phát triển sản xuất xã hội, ông
thừa nhận yếu tố khách quan trong nội dung của LIKT với tư cách là đầu mối trong
hoạt động kinh tế của con người [3].
Nhà kinh tế David Ricardo (1772 - 1823) đã khẳng định: Lợi ích kinh tế của
các giai cấp khác nhau được xây dựng trên cơ sở lý luận về giá trị, tiền lương và lợi
nhuận chỉ là bộ phận của giá trị và cũng là nguồn gốc của lao động. Do đó, việc
tăng hay giảm tiền lương sẽ không ảnh hưởng đến giá cả hàng hóa, mà chỉ ảnh
hưởng đến việc phân phối giá trị đã được tạo ra giữa công nhân và tư bản, vì vậy sẽ
ảnh hưởng đến lợi ích của họ. Khi giá trị vật phẩm tiêu dùng thiết yếu giảm xuống,
tiền công lao động giảm, lợi nhuận của nhà tư bản tăng lên. Điều đó thể hiện trong
số giá trị mới được tạo ra, phần của công nhân nhỏ hơn, còn phần của người sử
dụng lao động (nhà tư bản) thì lớn hơn, đây là mối quan hệ tỷ lệ nghịch về lợi ích,
nếu lợi ích của người đi thuê công nhân tăng thì lợi ích của người đi làm thuê sẽ
giảm và ngược lại [82]. Phát hiện này của ông có ý nghĩa rất lớn đối với việc nghiên
Xô (cũ). Ông cũng nhìn thấy mối quan hệ biện chứng của LIKT với lợi ích tinh
thần, LIKT riêng và lợi ích chung của xã hội, nếu điều tiết hợp lý hệ thống các mối
quan hệ LIKT này sẽ tạo động lực phát triển của xã hội.
Tóm lại, những công trình nghiên cứu tiêu biểu về LIKT của các tác giả nước
9
ngoài đã thể hiện rõ những quan điểm dưới góc độ nghiên cứu khác nhau về lợi ích
và LIKT nói chung. Nhưng cũng đã có nhiều ý kiến đồng nhất, đặc biệt là vai trò
của LIKT với tư cách là một động lực phát triển xã hội.
1.1.2. Một số tác phẩm tiêu biểu ở nước ngoài nghiên cứu về đầu tư và
mối quan hệ giữa chủ doanh nghiệp và người lao động
Nhà tâm lý học Abraham Maslow (1908 - 1970), đã đưa ra thuyết về nhu cầu
nổi tiếng vào những năm 1950 (Thuyết nhu cầu của Maslow). Học thuyết này chỉ
rõ: Lợi ích nhu cầu - động lực kinh tế, bổ sung gắn kết động lực nhu cầu - LIKT,
mọi lợi ích đều xuất phát từ nhu cầu của con người mong muốn và luôn đấu tranh
để thoả mãn đáp ứng những nhu cầu đó. Nhu cầu của con người có hai nhóm chính:
nhu cầu cơ bản (basic needs) và nhu cầu bậc cao (meta needs). Theo đó, nhu cầu
bậc thấp bao giờ cũng cần thiết và quan trọng hơn, đóng vai trò định hướng của mục
tiêu cá nhân. Khi nhu cầu bậc thấp được thoả mãn, những nhu cầu bậc cao sẽ là
động cơ hành động và khi những nhu cầu chưa được thoả mãn ở bậc dưới sẽ lấn át
những nhu cầu chưa được thoả mãn ở bậc cao hơn và chúng cần được thoả mãn
trước khi một cá nhân tiến lên các bậc cao hơn của tháp nhu cầu.
Theo Harold Meyerson (Mỹ), "Công nhân cũng xứng đáng hưởng lợi ích từ
năng suất lao động của họ" [124]. Đây là một bài báo dựa trên quan điểm cá nhân
của Harold Meyerson, được đăng trên trang điện tử của tạp chí danh tiếng
Washington Post - về dự luật của Đảng Dân chủ, mang tên nhà Dân chủ Chris Van
Hollen, dự luật Hollen. Dựa trên thực tế của nước Mỹ hiện tại, khi mà mức tăng
lương, thu nhập của người công nhân không tương xứng với năng suất lao động mà
họ đã tạo ra, dự luật Hollen yêu cầu, mức lương của công nhân sẽ được tăng tương
gia (MNE: Multi-national Enterprises) làm tăng nhu cầu về công nhân lành nghề
trong một ngành công nghiệp hoặc khu vực, do đó làm tăng sự bất bình đẳng tiền
lương; 2) Sự phát triển của công nghệ xảy ra từ nước ngoài tác động tới các DN
trong nước, là kết quả của những tác động lan toả, nhu cầu về công nhân lành nghề
tăng lên ở các công ty trong nước, tiếp tục tạo thêm sự bất bình đẳng tiền lương.
Nghiên cứu cũng xem xét các tác động của vốn FDI và sự khác biệt về năng suất lao
động giữa các DN trong và ngoài nước; các tác động này sẽ được thảo luận, dựa
trên quan điểm của phát triển khu vực và hiệu quả khả năng thu hút nguồn vốn FDI
để giảm thất nghiệp cơ cấu.
Dirk Willem te Velde và Oliver Morrissey (2002), "Foreign Direct
Investment, Skills and Wage Inequality in East Asia" [116]. Công trình nghiên cứu về
11
những tác động của FDI đến tiền lương và những bất công về tiền lương ở 5 quốc gia
Đông Á giai đoạn 1985-1995. Theo đó, sự bất công về lương giảm dần ở một vài
nước, nhưng không phải ở tất cả quốc gia Đông Á. Nghiên cứu dựa trên dữ liệu ILO
(International Labour Organization) của nhóm tác giả không tìm ra được nhiều những
bằng chứng mạnh mẽ cho thấy FDI làm giảm sự bất công bằng về tiền lương, điển
hình FDI làm tăng sự bất công này ở Thái Lan. Qua nghiên cứu này, nhóm tác giả
khẳng định: muốn tận dụng lợi thế của FDI thì các quốc gia cần quan tâm đầu tư hơn
nữa về chất lượng nguồn nhân lực.
Viện Nghiên cứu phát triển hải ngoại của Anh (ODI) (2002), "Foreign
Direct Investment: Who gains?" (ODI Briefing Paper; Publication) [114]. Nghiên
cứu này dựa trên tình hình của các DN FDI tại 5 quốc gia Đông Á và 5 quốc gia
châu Phi; qua đó cho thấy: về cơ bản các DN FDI đã trả công cho người lao động
cao hơn các DN trong nước, tuy nhiên chỉ đối với Mỹ nhóm công nhân có trình độ
chuyên môn, tay nghề cao, tạo ra khoảng cách chênh lệch về thu nhập ngày càng
rõ rệt giữa lao động trong các DNCVĐTTN (FDI) với lao động ở DN trong nước.
Nghiên cứu cũng đưa ra 4 giải pháp về chính sách cho các quốc gia tiếp nhận vốn
ra một cái nhìn tổng quan về tình hình đầu tư FDI ở Trung Quốc, lấy điển hình là DN
ô tô Volkswagen. Nghiên cứu đã chỉ ra những tác động của FDI đến mọi mặt của
kinh tế Trung Quốc: sản lượng, nguồn lao động, tiền lương, tình hình xuất khẩu.
Nguồn nhân lực chất lượng cao, sự cạnh tranh của DN FDI với DN trong nước về
việc thu hút nhân lực, cũng như sự mất cân đối về tiền lương trả cho 3 nhóm công
nhân: Công nhân lành nghề, công nhân bán chuyên và công nhân không có tay nghề.
Abhirup Bhunia (2013), Labour in times of rising foreign direct investment
in developing countries [111]. Tác giả đưa ra những đánh giá về tác động của FDI
đến tình trạng tiền lương, tiền thưởng và thu nhập của công nhân các quốc gia tiếp
nhận vốn đầu tư có sự hấp dẫn về nguồn lao động giá rẻ. Tuy nhiên, lợi thế này đã
không còn phát huy tác dụng trong bối cảnh hiện nay, mà là chất lượng lao động,
môi trường, đầu tư, chính sách ưu đãi…
Layna Mosley (2013), Labour rights and Multinational Production [118].
Trong đó, tác giả tập trung nghiên cứu mối quan hệ về lao động trong các tập đoàn đa
quốc gia, những tranh cãi về "cuộc đua tới đáy", cạnh tranh toàn cầu đang làm giảm
sự bảo vệ đối với hầu hết người lao động ở các nước đang phát triển. Tác giả đã có
một nghiên cứu xuyên quốc gia về quyền lợi lao động tập thể, đầu tư nước ngoài và
13
thương mại. Để làm điều này, Layna Mosley xây dựng một cơ sở dữ liệu toàn diện
mới về vi phạm quyền lao động ở các nước đang phát triển. Nội dung của cơ sở dữ
liệu tập trung vào quyền lợi tập thể, bao gồm cả cơ hội để liên hiệp, thương lượng tập
thể, tổ chức các cuộc đình công và quyền hợp pháp. Dữ liệu của tác giả xây dựng dựa
trên 90 quốc gia trong giai đoạn 1985-2002, dựa trên cơ sở 3 nguồn: Báo cáo quốc
gia về tình hình nhân quyền (Bộ ngoại giao Mỹ); báo cáo của Uỷ ban chuyên gia về
việc áp dụng Công ước và Khuyến nghị của Tổ chức Lao động quốc tế; khảo sát về
hành vi vi phạm của Tổ chức quốc tế về thương mại tự do.
Nguyễn Từ Phương (2014), Reforming labour relations in Vietnam [122].
Trong đó, tác giả đánh giá cao việc thành lập Uỷ ban Quan hệ lao động của Tổng