LUẬN VĂN:
Lợi ích kinh tế của người lao động trong
các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần
hóa ở Bình Định
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình đổi mới, Đảng và Nhà nước ta chủ trương phát triển nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần với sự đa dạng nhiều hình thức sở hữu nhằm phát huy mọi tiềm
lực của đất nước, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Trong những năm qua, các
DNNN nói chung - bộ phận nòng cốt của kinh tế nhà nước đã đóng góp rất lớn trong quá
trình xây dựng và phát triển kinh tế, đảm bảo ổn định chính trị - xã hội, góp phần thúc đẩy
nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, các DNNN
vẫn còn bộc lộ nhiều mặt hạn chế, quy mô nhỏ, hiệu quả kém, năng lực cạnh tranh thấp,
- “Hệ thống các lợi ích kinh tế và cơ chế thực hiện các lợi ích kinh tế trong nền kinh tế
nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay”, Bùi Thu Hà (2000), Luận án tiến sĩ, Trường Đại học
kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.
- “Quan hệ lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động trong các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Thành phố Hồ Chí Minh”, Mai Đức Chính, Luận văn
thạc sĩ, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, 2005.
- “Lợi ích kinh tế của người lao động, vai trò của công đoàn với việc bảo vệ lợi ích
này trong các doanh nghiệp công nghiệp tư nhân”, Nguyễn Lợi, Luận văn thạc sĩ, Học
viện CTQG Hồ Chí Minh, 1995.
- “Những vấn đề sau cổ phần hóa các DNNN trong ngành thương mại của thành
phố Đà Nẵng”, Lê Thị Phúc, Luận văn thạc sĩ, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, 2006.
- “Cổ phần hóa DNNN ở Việt Nam hiện nay, mấy vấn đề lý luận và thực tiễn”, Lê
Hữu Nghĩa, Tạp chí Cộng sản, số 22/2004.
- “Cổ phần hóa DNNN kết quả, vướng mắc và giải pháp” Hồ Xuân Hùng, Tạp chí
Cộng sản, số 18/2004…
Ngoài ra còn có một số cuộc hội thảo, hội nghị liên quan đến vấn đề quan hệ lợi ích
trong các doanh nghiệp.
Các công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập đến vấn đề lợi ích, lợi ích kinh tế, vai
trò của lợi ích kinh tế…dưới nhiều góc độ khác nhau; đề cập đến mục tiêu, kết quả, những
thuận lợi, khó khăn của quá trình CPH DNNN…mà chưa đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu về
quan hệ lợi ích kinh tế giữa người lao động và người sử dụng lao động trong các DNNN
sau CPH. Do đó, việc nghiên cứu đề tài này là cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục tiêu
Trên cơ sở kế thừa các tài liệu đã có, kết hợp với khảo sát thực tiễn về lợi ích kinh tế
của người lao động, tìm ra những vấn đề tồn tại và nguyên nhân trong việc thực hiện lợi ích
kinh tế của người lao động trong các DNNN sau CPH ở tỉnh Bình Định. Từ đó đề xuất
phương hướng và giải pháp góp phần giải quyết một cách hài hòa quan hệ lợi ích kinh tế
giữa doanh nghiệp và người lao động trong các DNNN sau CPH.
lợi ích kinh tế đối với người lao động trong hoạt động SXKD của doanh nghiệp. Trên cơ sở
đó có những chính sách, quy định phù hợp, tạo động lực phát triển sản xuất kinh doanh.
- Với những kết quả nghiên cứu đã đạt được, luận văn có thể sử dụng làm tài liệu
tham khảo trong quá trình học tập ở các trường Cao đẳng, Đại học trong khuôn khổ môn
Kinh tế chính trị.
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc soạn thảo các văn bản
pháp lý đối với việc đảm bảo lợi ích cho người lao động.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
được kết cấu thành 3 chương, 8 tiết.
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỢI ÍCH KINH TẾ
CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC SAU CỔ
PHẦN HÓA
1.1. Mét sè vÊn ®Ò lý luËn c¬ b¶n vÒ lîi Ých kinh tÕ
1.1.1. Bản chất và đặc điểm của lợi ích kinh tế
* Bản chất của lợi ích kinh tế
Có nhiều quan điểm khác nhau về lợi ích, nhưng hầu như các nhà lý luận đều thống
nhất khẳng định rằng lợi ích hình thành trên cơ sở nhu cầu và những hoạt động thỏa mãn
nhu cầu của con người. Vì vậy, tìm hiểu nhu cầu của con người và các mối quan hệ xã hội
trong đó con người hoạt động để thỏa mãn nhu cầu là cơ sở khách quan để xem xét lợi ích.
Nhu cầu là những đòi hỏi của con người, của từng cá nhân, của các nhóm xã hội
cầu của nhà tư bản mà là đáp ứng nhu cầu của người công nhân.
Vậy là cùng một sự vật, cùng một hiện tượng, thì đối với chủ thể này là lợi ích,
nhưng đối với chủ thể khác lại là tai họa. Điều đó cũng có nghĩa là, xét về mặt bản chất, lợi
ích chính là một quan hệ - quan hệ giữa các sự vật hiện tượng của thế giới bên ngoài với
nhu cầu của chủ thể. Còn xét về mặt nội dung thì lợi ích là cái thõa mãn nhu cầu, đáp ứng
nhu cầu.
Mối quan hệ giữa sự vật, hiện tượng của thế giới bên ngoài này với nhu cầu là mối
quan hệ khách quan không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan, vào nhận thức của chủ thể.
Nếu nhu cầu của con người, chủ thể là đa dạng và phong phú thì lợi ích của họ cũng đa
dạng và phong phú nhưng lại thể hiện thành các loại lợi ích cụ thể: lợi ích kinh tế, lợi ích
chính trị, lợi ích văn hóa…Những lợi ích này đáp ứng hay thỏa mãn cho nhu cầu của các đối
tượng khác nhau: lợi ích của cá nhân, lợi ích của tập thể, lợi ích của toàn xã hội.
Cũng cần nhấn mạnh thêm là trong mối quan hệ giữa nhu cầu và lợi ích, nhu cầu
quyết định đối với chủ thể là lợi ích, do đó nhu cầu là cơ sở của lợi ích, còn lợi ích
ngược lại xuất phát từ nhu cầu, dựa vào nhu cầu, là sự thể hiện của nhu cầu. Khi nhu
cầu bắt đầu xuất hiện thì con người chủ thể cũng bắt đầu hướng sự nhận thức của mình
vào việc tìm kiếm cái thỏa mãn nhu cầu đó, tức là lợi ích chưa có thì hành động của con
người nhằm đoạt lấy lợi ích cũng chưa có. Nhưng một khi lợi ích đã xuất hiện và đã
được tìm thấy, đã được nhận thức, thì nó trở thành mục tiêu của hành động con người.
Nói cách khác, sự phản ánh của lợi ích trong ý thức lúc này đã biến thành mục đích,
thành động cơ tư tưởng và chính động cơ tư tưởng đó trực tiếp thúc đẩy con người hành
động để dành lấy lợi ích đặng thỏa mãn nhu cầu.
Như vậy, lợi ích kinh tế luôn gắn chặt chẽ với nhu cầu. Nhưng nhu cầu ở đây không
phải là nhu cầu nói chung. Để nghiên cứu lợi ích kinh tế, điều có ý nghĩa khoa học và thực
tiễn không phải phạm trù nhu cầu nói chung, mà là nhu cầu về những của cải vật chất và
dịch vụ - sản phẩm của nền sản xuất xã hội. Những nhu cầu đó rất đa dạng và có thuộc tính
chung là chúng được thỏa mãn bằng các sản phẩm của sản xuất. Với tính chất đó, nên nhu
cầu về của cải vật chất và dịch vụ gần với lợi ích kinh tế.
Lợi ích kinh tế gắn chặt với nhu cầu kinh tế. Là một phạm trù kinh tế, lợi ích kinh tế
đó”[3, tr.12].
Ở Việt Nam, tác giả Đào Duy Tùng cho rằng: Lợi ích kinh tế là cái biểu hiện những
động cơ, mục đích, những nhân tố kích thích khách quan thúc đẩy hoạt động lao động của
con người. Lợi ích kinh tế gắn chặt với nhu cầu kinh tế, vì có nhu cầu mới có lợi ích.
Nhưng sẽ là không đúng nếu đồng nhất nhu cầu với lợi ích kinh tế…lợi ích kinh tế không
phải là nhu cầu nói chung mà là việc thỏa mãn nhu cầu một cách tốt nhất, bao gồm cả nội
dung của nhu cầu và phương thức thỏa mãn nhu cầu. Vì suy cho cùng cái thúc đẩy người ta
hành động chính là thỏa mãn trên thực tế nhu cầu một cách tối ưu…Có người hiểu lợi ích
kinh tế như là sự thống nhất giữa nội dung khách quan và hình thức chủ quan. Theo chúng
tôi, lợi ích kinh tế là phạm trù kinh tế khách quan, nó phát sinh và tồn tại trên cơ sở một
quan hệ sản xuất nhất định, không tùy thuộc vào ý muốn con người…Lợi ích kinh tế tồn tại
không tùy thuộc ở chỗ người ta có nhận thức được nó hay không, mà do địa vị của họ trong
hệ thống sản xuất - xã hội quy định. Vì vậy, về bản chất phải khẳng định rằng, lợi ích kinh
tế là tồn tại khách quan [33, tr.94 - 96].
Như vậy, lợi ích kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan, là hình thức biểu hiện
trước hết của quan hệ sản xuất, nó không tùy thuộc vào ý chí, lòng ham muốn của con
người.
Quan hệ sản xuất là khách quan. Nó luôn luôn tồn tại trong vận động. Sự vận
động của quan hệ sản xuất biểu hiện ở sự vận động của các quy luật kinh tế do nó trực
tiếp sinh ra. Thông qua sự vận động của các quy luật kinh tế mà quan hệ sản xuất ảnh
hưởng tới quá trình sản xuất. Ở đây, tính khách quan của quy luật kinh tế thể hiện qua
lợi ích để chi phối người ta phải hành động theo quy luật, do đó đảm bảo quan hệ sản
xuất khách quan. Lợi ích kinh tế bao giờ cũng phản ánh một quan hệ sản xuất, quan hệ
kinh tế nhất định.
Ý kiến trên còn được khẳng định bởi một số tác giả khác như Vũ Hữu Ngoạn: Lợi
ích kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan, là hình thức biểu hiện trước hết của quan
hệ sản xuất… Lợi ích kinh tế là cơ chế tác động chung của tất cả các quy luật kinh tế [31,
tr.54]. Hay tác giả Khoa Minh lại cho rằng: Lợi ích kinh tế là sự biểu hiện của những quan
hệ kinh tế đối với việc thõa mãn những nhu cầu vật chất cần thiết cho đời sống dưới hình
yếu sau:
Thứ nhất, lợi ích kinh tế luôn gắn với nhu cầu kinh tế, là động lực thúc đẩy sự phát
triển của xã hội.
Lợi ích và nhu cầu của con người luôn gắn bó chặt chẽ với nhau, bởi lẽ lợi ích là sự
hiện thực hóa nhu cầu, đáp ứng nhu cầu của con người. Như vậy, xét một cách khái quát,
lợi ích là mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng của thế giới bên ngoài với nhu cầu của
chủ thể, là điều kiện để thỏa mãn về nhu cầu nhất định của con người.
Con người luôn mong muốn có đời sống vật chất và đời sống tinh thần ngày càng
cao hơn, đầy đủ hơn, do đó các nhu cầu của con người là không ngừng phát triển. Muốn
thỏa mãn nhu cầu thì lợi ích phải được thực hiện. Lợi ích không phải tự nhiên xuất hiện và
ban phát đầy đủ cho mỗi cá nhân mà nó đòi hỏi con người phải hành động. Từng cá nhân,
tập thể cho đến toàn xã hội đều phải hành động mới đạt được mục đích. Điều đó đã gây
nên những biến đổi lớn lao trong đời sống cộng đồng. Vì vậy chúng ta có thể khẳng định:
lợi ích là một trong những động lực quan trọng, trực tiếp thúc đẩy hành động của con
người và thông qua đó gây nên những biến đổi của thế giới vật chất và lịch sử xã hội.
Thứ hai, lợi ích kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan, bắt nguồn từ các quan
hệ kinh tế của các chủ thể mang những lợi ích nhất định.
Nói đến lợi ích kinh tế là nói đến quan hệ phân phối kết quả sản xuất hình thành thu
nhập của những người tham gia vào quá trình sản xuất xã hội. Theo C. Mác thì quan hệ
phân phối này lại phụ thuộc vào quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất. Mỗi quan hệ sản xuất
có một phương thức phân phối do đó có một hình thức thực hiện lợi ích kinh tế. Tính chất
của lợi ích kinh tế là do quan hệ sản xuất quyết định, mà quan hệ sản xuất này lại do trình
độ của lực lượng sản xuất quyết định. Vì vậy lợi ích kinh tế có tính khách quan.
Lợi ích kinh tế biểu hiện mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao
động. Để tối đa hóa lợi ích kinh tế, người lao động và người sử dụng lao động buộc phải
quan hệ với nhau bằng cách này hay cách khác để đôi bên đều có thể thụ hưởng phần lợi
ích nhất định do sản xuất tạo ra.
Ở Việt Nam, trong điều kiện nền kinh tế đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội, mục đích chung của toàn bộ nền kinh tế là thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện
nó luôn là động lực kích thích đối với con người, đối với tập thể và đối với toàn xã hội.
Đồng tời, khi lợi ích kinh tế được thực hiện thì nó cũng tạo cơ sở, tiền đề để thực hiện các
loại lợi ích khác. Đời sống xã hội phồn vinh thì đời sống tinh thần mới được nâng cao.
Lợi ích kinh tế còn có vai trò quan trọng trong việc củng cố, duy trì các mối
quan hệ kinh tế giữa các chủ thể sản xuất kinh doanh. Một khi con người (chủ thể)
tham gia vào các hoạt động kinh tế đều nhằm đạt tới các lợi ích nhất định. Đạt được
những lợi ích tương xứng với kết quả SXKD thì mới đảm bảo nâng cao tính ổn định
và sự phát triển của các chủ thể lợi ích. Ngược lại, khi không mang lại lợi ích hoặc lợi
ích không được thực hiện đầy đủ thì sẽ làm cho mối quan hệ giữa các chủ thể xuống
cấp. Nếu tình trạng đó kéo dài thì sớm muộn sẽ dẫn đến tình trạng tiêu cực trong hoạt
động SXKD.
Từ sự phân tích trên, ta thấy lợi ích vật chất có vai trò vô cùng quan trọng, có tính
chất quyết định trong sự phát triển xã hội vì những lẽ sau:
- Lợi ích kinh tế là cơ sở, điều kiện đảm bảo sự tồn tại và phát triển của con người
và xã hội loài người. Xã hội vận động về cơ bản là vận động thông qua việc thực hiện các
lợi ích kinh tế.
- Các quan hệ kinh tế giữ vai trò quyết định và chi phối đời sống chính trị, tư tưởng
của xã hội một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.
- Vì động lực lợi ích kinh tế là nền tảng, là cơ sở cho việc hình thành và giải quyết
các động lực lợi ích khác của con người, cho nên đòi hỏi chúng ta phải giải quyết hợp lý
quan hệ lợi ích kinh tế và không ngừng nâng cao lợi ích kinh tế cho con người để tạo cơ sở
cho việc giải quyết mọi vấn đề khác của đời sống xã hội.
- Để kích thích tính tích cực ở mức độ cao nhát, cần quan tâm đặc biệt đến lợi ích
kinh tế, đồng thời không quên các lợi ích khác của mỗi cá nhân. Sự kết hợp đó không chỉ
khai thác được thế mạnh của lợi ích kinh tế mà cả thế mạnh của các lợi ích khác và thế
mạnh tương hỗ giữa các lợi ích đó trong mỗi con người.
- Quan tâm đến lợi ích cá nhân, tạo điều kiện để mỗi người lao động có thể thực
hiện được lợi ích cá nhân của mình, nhưng không khuyến khích họ thực hiện lợi ích cá
nhân bằng mọi cách. Việc khuyến khích lợi ích kinh tế cá nhân phải nằm trong mối quan
tiễn sản xuất, đồng thời cải tạo chính bản thân mình. Tính tích cực và sáng tạo là đặc trưng
chủ yếu, vốn có của con người - với tư cách là chủ thể. Nói một cách khác, chỉ có những
tác động vào tự nhiên và xã hội thì con người mới bộc lộ mình như là một chủ thể của lịch
sử. Như vậy, nói đến chủ thể là nói đến con người với những phẩm chất nhất định đang
hành động nhận thức và cải tạo thế giới.
Cần phân biệt chủ thể và cá thể. Mọi chủ thể đều có tư cách như một cá thể, nhưng
chỉ có những cá thể nào tham gia hoạt động SXKD … mới trở thành chủ thể. Như vậy, tùy
thuộc vào chủ thể là cá nhân thì có lợi ích kinh tế của cá nhân, nếu chủ thể là tập thể thì có
lợi ích kinh tế của tập thể, nếu chủ thể là toàn xã hội thì có lợi ích kinh tế của xã hội. Dĩ
nhiên các lợi ích này luôn luôn tồn tại trong mối quan hệ gắn bó, tác động lẫn nhau.
Lợi ích kinh tế luôn luôn gắn với các chủ thể nhất định. Các chủ thể đó lại được
phân bổ, điều động vào các quá trình, các khâu, các lĩnh vực của sản xuất xã hội - sự phân
bổ, điều động các chủ thể ấy không chỉ là sự phân bổ, điều động cho hiện tại mà cho cả
tương lai. Cho nên, mỗi chế độ kinh tế xã hội luôn hình thành một hệ thống lợi ích đa dạng,
phong phú và phức tạp. Hệ thống lợi ích này không ngừng biến đổi, mở rộng theo thời gian
và theo không gian. Tính phong phú, đa dạng và phức tạp của hệ thống lợi ích càng trở nên
phong phú, đa dạng và phức tạp hơn trong hoàn cảnh và điều kiện của nền kinh tế trong
thời kỳ quá độ ở nước ta hiện nay. Hiện nay, với nhiều cách tiếp cận khác nhau, có thể xác
định lợi ích kinh tế ở nước ta hiện nay gồm các loại lợi ích sau:
- Lợi ích kinh tế xã hội
- Lợi ích kinh tế tập thể
- Lợi ích kinh tế cá nhân
- Lợi ích kinh tế của các thành phần kinh tế
- Lợi ích kinh tế của các khâu (các giai đoạn của quá trình tái sản xuất xã hội đó là
sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng)
- Lợi ích kinh tế hiện tại
- Lợi ích kinh tế tương lai …
Ba loại lợi ích kinh tế: lợi ích kinh tế xã hội, lợi ích kinh tế tập thể, lợi ích kinh tế cá
nhân mang tính chất khái quát nhất. Bởi lẽ, lợi ích kinh tế của các thành phần kinh tế, lợi
Vì lý do trên, đồng thời với yêu cầu của đề tài, luận văn đi sâu vào phân tích lợi ích
kinh tế của cá nhân.
Lợi ích cá nhân gắn liền với sự quan tâm trực tiếp, thiết thân của mỗi con người
trong cuộc sống hằng ngày của họ. Cái mà người lao động quan tâm và cần thiết, cần có
là sau quá trình lao động, SXKD, họ thu nhận được những gì, bao nhiêu, chứ không
phải làm gì, ở đâu. Song các quyết định để họ thu được những gì và bao nhiêu lại là số
lượng và chất lượng lao động của họ. Do đó lợi ích cá nhân gắn liền trực tiếp với lao
động cá nhân (lao động cá biệt).
Trong nền kinh tế hàng hóa, người kinh doanh (chủ thể) chỉ có thể có lợi khi mà
hao phí lao động cá biệt của họ bằng hoặc nhỏ hơn hao phí lao động xã hội. Để có thể đạt
được điều đó, người lao động cá biệt phải có số lượng lao động nhiều và chất lượng tốt,
muốn vậy họ phải tự học hỏi, tự đào tạo để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phải
thường xuyên cải tiến quy trình sản xuất đổi mới kỹ thuật công nghệ. Như vậy, nói lợi ích
cá nhân gắn liền với lao động cá nhân nghĩa là gắn liền với số lượng và chất lượng lao
động cá nhân của họ. Do đó, muốn đạt được lợi ích cá nhân thỏa đáng, bản thân người lao
động phải tìm mọi cách để nâng cao chất lượng lao động và tăng số lượng lao động.
Trong nền kinh tế hàng hóa, lợi ích cá nhân của người lao động thể hiện trước hết ở
tiền lương (kể cả tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế) mà người lao động nhận
được trước hoặc trong quá trình tái sản xuất xã hội. Tiền lương hay tiền công, theo Mác lại
chính là giá trị hay giá cả của hàng hóa sức lao động mà, mà sức lao động lại là toàn bộ
khả năng về thể lực và trí lực tồn tại trong cơ thể sống. Khả năng thể lực, trí lực đó chính là
sức khỏe và bằng cấp kiến thức. Vì vậy mà sự thực hiện lợi ích cá nhân thể hiện trước hết
trong lĩnh vực tiêu dùng - tiêu dùng để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động. Trong lĩnh
vực tiêu dùng nói chung, thì sự tiêu dùng mà người lao động quan tâm trước nhất để làm
tăng số lượng và chất lượng lao động của mình là tự đào tạo và đào tạo lại để nâng cao
trình độ nghề nghiệp, trình độ văn hóa.
Lợi ích cá nhân còn được thực hiện về mặt pháp luật. Nghĩa là, luật pháp luôn tạo
điều kiện và khuyến khích việc thực hiện lợi ích cá nhân trên cơ sở lao động và tính sáng
tạo lao động của cá nhân. Sự khuyến khích và tạo mọi điều kiện về mặt luật pháp để thực
thực, tức là lợi ích kinh tế cá nhân người lao động được thực hiện, thì nó trở thành động
lực trực tiếp của sản xuất, thúc đẩy sản xuất kinh doanh của các DNNN sau CPH phát
triển.
1.2. ĐẶC TRƯNG VÀ HÌNH THỨC BIỂU HIỆN LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI
LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC SAU CỔ PHẦN HÓA
1.2.1. Thu nhập của người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước sau cổ
phần hóa
1.2.1.1. Thu nhập của người lao động được thực hiện trực tiếp dưới hình thức
tiền lương và tiền thưởng theo nguyên tắc phân phối theo lao động kết hợp với phân
phối theo giá trị sức lao động
Để lợi ích kinh tế cá nhân người lao động được thực hiện, trở thành động lực của
sản xuất và động lực đó không có gì khác hơn là tính tích cực, tinh thần và thái độ lao
động, tính chủ động, sáng tạo của người lao động được phát huy trong quá trình sản xuất,
gắn bó với các doanh nghiệp, quan tâm đến sự sống còn và thành quả hoạt động của các
doanh nghiệp. Đồng thời động lực đó chỉ trở thành hiện thực khi người lao động được thực
hiện quyền lao động và được hưởng thụ một cách thỏa đáng những thành quả lao động mà
họ đã cống hiến.
Cùng với quá trình chuyển nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế thị trường, thì sức
lao động của người lao động trong các DNNN sau CPH cũng được thừa nhận là hàng hóa.
Việc mua bán sức lao động đó được thực hiện thông qua hợp đồng lao động giữa người lao
động và chủ doanh nghiệp sử dụng sức lao động trên cơ sở pháp luật hiện hành. Một khi
sức lao động đã trở thành hàng hóa, thì tiền lương chẳng qua là hình thức biểu hiện bằng
tiền của giá trị hay giá cả sức lao động của người lao động.
Để cho người lao động thật sự yên tâm, từ đó hăng say và sẵn sàng mang hết sức
sáng tạo của mình trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đòi hỏi các doanh nghiệp phải trả
công cho họ đầy đủ, kịp thời, phù hợp với sức lao động của họ đã hao phí trong quá trình
sản xuất. Có như vậy mới đảm bảo tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng sức lao
động của họ được.
Trong mỗi doanh nghiệp, tổng tiền lương cơ bản hay quỹ lương theo hợp đồng là
động của chính mình chứ không phải ai khác. Hình thức “làm thuê” của người lao động
cho Nhà nước ở đây không phản ánh quan hệ giữa các giai cấp khác nhau mà là quan hệ
giữa cá nhân người lao động với xã hội của mình. Lợi nhuận của doanh nghiệp không
phải do nhà tư bản chiếm đoạt mà thuộc về Nhà nước đại diện cho toàn dân và của
người lao động trong doanh nghiệp. Tùy theo tình hình kinh tế - xã hội trong từng giai
đoạn mà Nhà nước có cơ chế chính sách phân phối đảm bảo lợi ích người lao động.
Xuất phát từ quan điểm tiền lương của người lao động trong doanh nghiệp phụ
thuộc vào sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động và trên cơ sở
hình thức cơ bản của tiền lương, ở nước ta Chính phủ công bố thang lương, bảng lương
riêng đối với các doanh nghiệp để làm cơ sở tính các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm
y tế và chế độ phụ cấp lương, tiền lương ngừng việc, nghỉ hàng năm và các trường hợp
nghỉ việc khác của người lao động. Các chế độ phụ cấp lương trong DNNN sau CPH
cũng có thể được thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động dựa trên
cơ sở luật lao động.
Việc xác định hợp lý và chính xác bậc lương và ngạch lương cũng như các chế độ
phụ cấp lương theo từng ngành, từng khu vực có tính đến trình độ chuyên môn và điều
kiện lao động có ý nghĩa quan trọng. Nó bảo đảm tính công bằng trong chế độ trả lương,
thúc đẩy người lao động không ngừng học tập, nâng cao trình độ tay nghề, quan tâm hoàn
thành tốt công việc và gắn bó với doanh nghiệp.
Cùng với tiền lương cơ bản, tiền thưởng cũng là một bộ phận thu nhập quan trọng
của người lao động. Vì thực chất tiền thưởng là phần thưởng cho người lao động khi làm
tốt công việc của mình hơn mức trung bình, nó kích thích người lao động hăng say làm
việc, cống hiến và sáng tạo, thúc đẩy tăng năng suất lao động.
Tuy đều gắn với lợi ích kinh tế của người lao động nhưng tiền lương và tiền thưởng
có sự khác nhau. Tiền lương thuộc phạm trù chi phí sản xuất, còn tiền thưởng thuộc phạm
trù phân phối lợi nhuận.
Việc trích một phần lợi nhuận để thưởng cho người lao động hiện nay không
phải là điều mới mẻ ở các nước trên thế giới. Ở nước ta, Đảng và Nhà nước rất coi
trọng vấn đề tiền thưởng ngay từ trong cơ chế cũ. Song do quá chú ý đến động viên
thể cho một phần hoặc toàn phần cổ phần, có quyền biểu quyết hoặc phủ quyết bất kỳ chủ
trương kế hoạch nào của doanh nghiệp mà mình đồng ý hoặc chưa đồng ý…Trách nhiệm của
cổ đông cũng rất rõ ràng: phải chịu đền bù, chịu mất mát, tổn thất trong phạm vi số lượng vốn
góp, phải chịu góp đủ vốn khi doanh nghiệp đó chính thức hoạt động, phải thực hiện đầy đủ,
nghiêm túc mọi quy định trong điều lệ của công ty…
Quyền và nghĩa vụ của cổ đông làm cho vai trò người chủ của người lao động có cổ
phần trong các DNNN sau CPH thể hiện một cách thực chất, rõ ràng nhất, tạo ra một cơ
chế hoạt động quản lý nhân sự trong doanh nghiệp một cách trôi chảy.
Quyền sở hữu một phần tài sản của doanh nghiệp tương đương với số lượng vốn
góp đã làm cho bản thân người lao động trong DNNN sau CPH thu được lợi ích thiết thực
chẳng những từ lao động do mình bỏ ra, mà còn do đồng vốn góp của mình, nên việc đó
tạo ra cho người lao động trực tiếp một động lực mạnh mẽ, trong sáng để họ toàn tâm, toàn
lực lao động. Điều đó đã làm cho lợi ích của cá nhân, tập thể và xã hội không chỉ được bảo
đảm, không ngừng tăng lên về số lượng, mà còn tạo ra một mối quan hệ chặt chẽ gắn bó và
làm tiền đề cho nhau phát triển. Người lao động tự mình kiểm soát, giám sát, và tìm mọi
cách để lao động đạt hiệu quả cao nhất, không cần phải có sự giám sát, đôn đốc của cấp
trên. Như vậy, vai trò, vị trí của người lao động trong các DNNN sau CPH đã làm thay đổi
căn bản tính chất, đặc điểm hoạt động lao động, kinh doanh của họ, làm cho sự làm chủ tập
thể không chỉ là hình thức. Trong DNNN sau CPH, mỗi cổ đông làm việc cho chính họ,
cho chính lợi ích của họ, của gia đình họ và của doanh nghiệp. Điều đó cũng có nghĩa là
cho toàn xã hội.
1.2.1.3. Thu nhập của người lao động từ quỹ phúc lợi tập thể
Ngoài thu nhập do lao động và thu nhập do quyền sở hữu vốn, người lao động trong
các DNNN sau CPH còn được bổ sung bằng các phúc lợi của tập thể.
Hình thức phân phối từ quỹ phúc lợi trong các DNNN sau CPH ở nước ta là hết sức
cần thiết. Trước hết, trong điều kiện kinh tế của ta còn nhiều khó khăn, sự nghiệp phúc lợi
chưa được đảm bảo thống nhất, đầy đủ trong xã hội. Điều đó đòi hỏi mỗi doanh nghiệp
phải có quỹ phúc lợi riêng hỗ trợ thêm cho người lao động trong doanh nghiệp, đảm bảo
các sự nghiệp về văn hóa, giáo dục, y tế, đời sống, nghỉ ngơi và cả những việc làm từ thiện,
thêm thu nhập thực tế của gia đình người lao động, tạo điều kiện thuận lợi cho người lao
động phát huy năng lực của mình. Hình thức thu nhập này tạo động lực gián tiếp, giúp
người lao động yên tâm hơn với công việc mình đang làm, gắn bó hơn với doanh nghiệp,
đồng thời tạo được mối quan hệ chặt chẽ giữa người lao động và người sử dụng lao động,
góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển.
Ở nhiều nước trên thế giới, tùy theo mức độ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
mà ở đó cũng hình thành quỹ phúc lợi của mình, nhưng chủ yếu nhằm đem lại lợi ích cho
chủ doanh nghiệp và đáp ứng phần nào phúc lợi cho người lao động. Bằng các hình thức
giúp đỡ, tài trợ, các doanh nghiệp vừa thực hiện được mục đích trên, vừa là một hình thức
quảng cáo nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thương trường.