Đảm bảo lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp dệt may ở Thái Bình - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

PHẠM THỊ LINH

ĐẢM BẢO LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO
ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP DỆT MAY
Ở THÁI BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Hà Nội - Năm 2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT…………………………………………….I
DANH MỤC CÁC BẢNG……………………………………………………… II
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ ……………………………………….III
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LỢI ÍCH KINH TẾ
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 8
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LỢI ÍCH KINH TẾ 8
1.1.1 Các quan niệm về lợi ích kinh tế, bản chất, đặc trƣng và vai trò của lợi
ích kinh tế 8
1.1.2 Hệ thống lợi ích kinh tế ở Việt Nam hiện nay 19
1.2 LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH
NGHIỆP 21
1.2.1 Các yếu tố cấu thành lợi ích kinh tế của ngƣời lao động trong các
doanh nghiệp 21
1.2.2 Cơ chế, chính sách hiện hành của Nhà nƣớc trong việc đảm bảo lợi ích
kinh tế của ngƣời lao động 27
1.3 QUAN HỆ LỢI ÍCH KINH TẾ GIỮA NGƢỜI LAO ĐỘNG VÀ NGƢỜI SỬ
DỤNG LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 36
1.3.1 Mối quan hệ giữa việc làm, thu nhập và lợi nhuận 36
1.3.2 Mối quan hệ giữa đào tạo, bồi dƣỡng tay nghề cho ngƣời lao động với
lợi nhuận 39
1.3.3 Mối quan hệ giữa điều kiện làm việc, thời gian làm việc, cƣờng độ lao
động với năng suất lao động và lợi nhuận 40
1.4 KINH NGHIỆM THẾ GIỚI VÀ TRONG NƢỚC VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT
VẤN ĐỀ LỢI ÍCH KINH TẾ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 42
1.4.1 Kinh nghiệm thế giới. 42
1.4.2 Kinh nghiệm trong nƣớc 45
1.4.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra đối với việc giải quyết vấn đề lợi ích
kinh tế trong các doanh nghiệp 48

2.4.1 Những thành tựu đạt đƣợc trong việc thực hiện lợi ích kinh tế của
ngƣời lao động trong các doanh nghiệp dệt may tƣ nhân ở tỉnh Thái Bình . 86

iii
2.4.2 Những tồn tại trong việc giải quyết vấn đề lợi ích kinh tế phát sinh
trong quá trình hoạt động trong các doanh nghiệp dệt may tƣ nhân ở tỉnh
Thái Bình 88
2.4.3 Nguyên nhân 96
Kết luận chƣơng 2 98
Chƣơng 3. PHƢƠNG HƢỚNG, GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM ĐẢM BẢO LỢI
ÍCH KINH TẾ CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
DỆT MAY TƢ NHÂN Ở TỈNH THÁI BÌNH 99
3.1 ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN NGÀNH DỆT MAY CỦA TỈNH THÁI BÌNH
99
3.2 NHỮNG PHƢƠNG HƢỚNG CƠ BẢN NHẰM ĐẢM BẢO LỢI ÍCH KINH
TẾ CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP DỆT MAY TƢ
NHÂN Ở TỈNH THÁI BÌNH 100
3.2.1 Hoàn thiện cơ chế chính sách nhằm đảm bảo lợi ích kinh tế của ngƣời
lao động trong các doanh nghiệp dệt may tƣ nhân 100
3.2.2 Xây dựng củng cố nâng cao vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội,
kiểm tra giám sát của nhà nƣớc trong việc giải quyết mối quan hệ hài hòa về
lợi ích kinh tế trong các doanh nghiệp dệt may tƣ nhân 102
3.3 GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM ĐẢM BẢO LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƢỜI
LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP DỆT MAY TƢ NHÂN Ở TỈNH
THÁI BÌNH. 105
3.3.1 Nhóm giải pháp về hoàn thiện chính sách bảo đảm lợi ích kinh tế của
ngƣời lao động 105
3.3.2 Nhóm giải pháp về phía ngƣời lao động 113
3.3.3 Nhóm giải pháp về ngƣời sử dụng lao động 116
3.3.4 Nhóm giải pháp về nâng cao trách nhiệm vai trò của các cơ quan quản

Doanh nghiệp
8
DNNN
Doanh nghiệp nhà nƣớc
9
DNTN
Doanh nghiệp tƣ nhân
10
DNDMTN
Doanh nghiệp dệt may tƣ nhân
11
ĐH
Đại học
12
HĐH
Hiện đại hoá
13
LĐTBXH
Lao động thƣơng binh xã hội
14

Lao động
15
NN
Nƣớc ngoài
16
Nxb
Nhà xuất bản
17
NUTC

2
2.2
Lao động ngành dệt may ở tỉnh Thái Bình
57

3
2.3
Quy mô sử dụng lao động trong các doanh nghiệp
Dệt may Thái Bình
58
4
2.4
Mức lƣơng bình quân của ngƣời lao động trong các loại
hình doanh nghiệp ở Thái Bình
67
5
2.5
Tiền lƣơng bình quân/tháng của ngƣời lao động trong
DNTN ở một số ngành nghề
69
6
2.6
Doanh nghiệp trả tiền làm thêm cho ngƣời lao động
70

7
2.7
So sánh điều kiện lao động vƣợt tiêu chuẩn cho phép trong
các loại hình doanh nghiệp dệt may ở Thái Bình
73

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

STT
Biểu
Tên biểu
Trang
1
2.1
Cơ cấu các doanh nghiệp dệt may ở Thái Bình phân theo
loại hình doanh nghiệp
54
2
2.2
Cơ cấu lao động trong ngành dệt may tỉnh Thái Bình theo
nhóm tuổi
59
3
2.3
Cơ cấu lao động trong các doanh nghiệp dệt may ở Thái
Bình phân theo trình độ chuyên môn
60
4
2.4
Mức lƣơng bình quân của ngƣời lao động trong các loại
hình doanh nghiệp ở Thái Bình
68
5
2.5
Số giờ làm việc trung bình/ngày của công nhân lao động
trong các doanh nghiệp dệt may ở tỉnh Thái Bình

thủ công nặng nhọc, chất lƣợng nhà xƣởng kém, chật hẹp, ẩm thấp, đại bộ phận
ngƣời lao động không đƣợc trang bị các thiết bị bảo hộ lao động, không đƣợc theo
dõi, kiểm tra sức khỏe thƣờng xuyên, trên 80% ngƣời lao động làm việc trong các
doanh nghiệp này không đƣợc đóng bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội… Chính những
tồn tại này tiểm ẩn nguy cơ xảy ra xung đột lợi ích trong các doanh nghiệp dệt may
tƣ nhân ở tỉnh Thái Bình. Vì vậy đòi hỏi cần phải có sự lý giải khoa học để kết hợp
hài hòa lợi ích kinh tế giữa ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động trong các
doanh nghiệp dệt may và đƣa ra các giải pháp nhằm đảm bảo lợi ích kinh tế của
ngƣời lao động trong các doanh nghiệp dệt may ở tỉnh Thái Bình.
Xuất phát từ thực tế đó và bằng những kiến thức đã đƣợc tiếp thu trong quá
trình học tại Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, tác giả đã lựa chọn đề tài:
“Đảm bảo lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp dệt may ở
Thái Bình” làm luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị của mình. 2
2. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề lợi ích và lợi ích kinh tế bắt đầu thu hút đƣợc sự quan tâm nghiên cứu
của các nhà khoa học Việt Nam từ đầu những năm 1980, nhất là từ khi Đảng ta
quyết định thực hiện đƣờng lối đổi mới, phát triển nền kinh tế hàng hoá theo cơ chế
thị trƣờng có sự quản lý của Nhà nƣớc. Các công trình nghiên cứu có liên quan trực
tiếp đến đề tài có thể kể đến:
“Bàn về các lợi ích kinh tế” do Đào Duy Tùng chủ biên (1982), Nhà xuất
bản (Nxb) Sự thật, Hà Nội.
Cuốn sách tập hợp một số công trình nghiên cứu bƣớc đầu đã đƣợc trình bày
ở một số Hội nghị khoa học của các tác giả nhƣ Đào Duy Tùng, Phạm Thành, Vũ
Hữu Ngoạn… Trong đó các tác giả nói về cơ cấu lợi ích kinh tế trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội cùng với sự kết hợp hài hòa các lợi ích kinh tế đó. Theo đó,
cơ cấu lợi ích kinh tế dƣới chế độ xã hội chủ nghĩa bao gồm lợi ích kinh tế của xã
hội, lợi ích kinh tế của nhà nƣớc và lợi ích kinh tế của cá nhân ngƣời lao động. Ba

“Quan hệ lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động trong các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại thành phố Hồ Chí Minh”, Mai Đức
Chính (2005), luận văn Thạc sỹ, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
Luận văn đã trình bày một cách khái quát những lý luận chung về vấn đề lợi
ích kinh tế và quan hệ lợi ích kinh tế. Trên cơ sở lý luận đó luận văn đã nghiên cứu
thực trạng về giải quyết mối quan hệ lợi ích giữa ngƣời lao động và ngƣời sử dụng
lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài tại thành phố Hồ Chí
Minh và những nguyên nhân cơ bản của việc tồn tại những bất đồng, mâu thuẫn và
tranh chấp. Từ thực trạng đã phân tích, luận văn đã đƣa ra những phƣơng hƣớng
cùng giải pháp về hoàn thiện luật pháp, về nâng cao vai trò của các tổ chức công
đoàn, về giải quyết tranh chấp lao động ở doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài…
để giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao
động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài tại thành phố Hồ Chí Minh
“Vai trò động lực của lợi ích kinh tế đối với sự nghiệp xây dựng đất nước”,
Đỗ Nhật Tân (1991), luận án Tiến sĩ, Học viện Nguyễn Ái Quốc.

4
Luận văn nghiên cứu phạm trù lợi ích kinh tế dƣới khía cạnh là một động lực
cơ bản nhất của hoạt động con ngƣời, là động lực của mọi sự phát triển và tiến bộ
xã hội nói chung. Theo đó cần phải coi động lực lợi ích kinh tế là nhân tố cơ bản
nhất của phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội. Luận văn cũng đƣa ra vấn đề: muốn sử
dụng đƣợc động lực lợi ích kinh tế trong công cuộc xây dựng đất nƣớc thì cần giải
quyết tổng hợp các mối quan hệ đa dạng phức tạp của lợi ích kinh tế. Điều đó đòi
hỏi sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân. Trong đó tập trung vào các giải pháp nhƣ
giải quyết các quan hệ sở hữu tƣ liệu sản xuất, giải quyết vấn đề tiền lƣơng, chặn
đứng và đẩy lùi nạn tham nhũng…
Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu, bài báo có liên quan đến vấn đề
lợi ích kinh tế của ngƣời lao động nhƣ “Lợi ích kinh tế - động lực thu hút mọi
nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay” của PGS.TS Đào
Duy Huân trên Tạp chí Phát triển kinh tế số 200 xuất bản năm 2007; “Vấn đề bảo

kinh tế của ngƣời lao động trong các doanh nghiệp và mối quan hệ lợi ích kinh tế
giữa ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động trong các doanh nghiệp.
-Phân tích, đánh giá thực trạng việc thực hiện lợi ích kinh tế của ngƣời lao
động trong các doanh nghiệp dệt may tƣ nhân ở tỉnh Thái Bình những năm qua.
- Đề xuất phƣơng hƣớng và hệ thống các giải pháp chủ yếu nhằm đảm bảo
ngày càng tốt hơn lợi ích kinh tế của ngƣời lao động trong các doanh nghiệp dệt
may tƣ nhân ở tỉnh Thái Bình.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu tình hình thực hiện lợi ích kinh tế của ngƣời
lao động trong các doanh nghiệp dệt may tƣ nhân trên địa bàn tỉnh Thái Bình từ
năm 2005 đến 2010.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phƣơng pháp nhƣ: trừu tƣợng hoá khoa học, phân tích
tổng hợp, thống kê so sánh, lô gíc và lịch sử. Gắn lý luận với thực tiễn để làm sáng
tỏ vấn đề.
- Phương pháp trừu tượng hóa khoa học.

6
Trong luận văn, ngƣời viết sẽ sử dụng phƣơng pháp trừu tƣợng hóa khoa học
để gạt bỏ khỏi quá trình nghiên cứu những cái đơn giản, ngẫu nhiên, tạm thời hoặc
tạm gác lại một số nhân tố nào đó nhằm tách ra những cái điển hình, ổn định, vững
chắc, từ đó tìm ra bản chất các hiện tƣợng và quá trình, hình thành các phạm trù –
khái niệm về lợi ích kinh tế, và phát hiện ra quy luật phản ánh những bản chất đó.
Qua đó xem xét vào vấn đề đảm bảo lợi ích kinh tế của ngƣời lao động trong các
doanh nghiệp dệt may ở tỉnh Thái Bình
-Phương pháp phân tích tổng hợp
Phƣơng pháp phân tích tổng hợp đƣợc tiến hành thông qua các công đoạn:
thu thập dữ liệu, kiểm tra dữ liệu, phân tích dữ liệu, và kiểm tra kết quả phân tích
(Các số liệu đƣợc tổng hợp từ các báo cáo của Sở Lao động thƣơng binh xã hội tỉnh
Thái Bình, Sở Kế hoạch và đầu tƣ tỉnh Thái Bình, Liên đoàn lao động tỉnh ). Trên

riêng và trong ngành dệt may nói chung trên địa bàn tỉnh Thái Bình.
Ba là; kết quả nghiên cứu của luận văn giúp cho doanh nghiệp dệt may ở
Thái Bình có quan điểm và nhận thức sâu sắc về vai trò của lợi ích kinh tế đối với
ngƣời lao động trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Trên cơ sở đó họ có thái độ cƣ
xử đúng đắn, phù hợp với đạo đức, với quy ƣớc của pháp luật trong quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh của mình, tạo động lực phát triển sản xuất kinh doanh.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc
kết cấu với 3 chƣơng, 11 tiết.
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về lợi ích kinh tế trong các doanh
nghiệp.
Chƣơng 2: Thực trạng việc đảm bảo lợi ích kinh tế của ngƣời lao động trong
các doanh nghiệp dệt may tƣ nhân ở tỉnh Thái Bình.
Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng, giải pháp cơ bản nhằm đảm bảo lợi ích kinh tế
trong các doanh nghiệp dệt may tƣ nhân ở tỉnh Thái Bình.

8
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LỢI ÍCH KINH TẾ
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LỢI ÍCH KINH TẾ
1.1.1 Các quan niệm về lợi ích kinh tế, bản chất, đặc trƣng và vai trò
của lợi ích kinh tế
1.1.1.1 Các quan niệm về lợi ích kinh tế
Lợi ích theo tiếng la tinh là “interest” nghĩa là có ý nghĩa quan trọng, là
nguyên nhân hiện thực của các hoạt động xã hội, các sự kiện, thành tựu ẩn dấu đằng

Những năm gần đây, trên cơ sở những ý kiến tranh luận về vấn đề này từ
những năm 60 của thế kỷ XX, một số tác giả đã đi sâu vạch ra những mặt cơ bản
khác nhau của quan hệ lợi ích. Z.U.Sôraép (1986) cho rằng: Lợi ích là sự phản ánh
những hệ thống quan hệ phức tạp của một số mặt hoạt động của con ngƣời thông
qua một trong những mặt hoạt động khác nhau của họ trong quá trình thực tiễn tác
động lẫn nhau của con ngƣời. Hay lợi ích là trạng thái quy định hoạt động, là sản
phẩm tất yếu của các quan hệ xã hội hiện có, phản ánh nhận thức của chủ thể, và
đƣợc xác định bởi môi trƣờng xã hội, là khả năng và mục đích của sự hoạt động của
chủ thể theo sự thỏa mãn nhu cầu của cá nhân và xã hội. Ông còn khẳng định, lợi
ích xuất hiện trong quá trình hoạt động của cá nhân, nhóm, giai cấp với tƣ cách là
mặt cơ bản của hoạt động thực tiễn. A.X.Điđcốpxki (1986) nói một cách cụ thể
rằng: Lợi ích phản ánh mâu thuẫn giữa nhu cầu và việc thỏa mãn những nhu cầu, nó
là sự định hƣớng hoạt động sản xuất của con ngƣời.
Nhƣ vậy đa số các tác giả khẳng định lợi ích là cái phản ánh những quan hệ
kinh tế, do các quan hệ kinh tế sinh ra và nó gắn liền với việc thỏa mãn những nhu
cầu của con ngƣời.
Tùy theo cách tiếp cận, có thể phân biệt lợi ích theo lĩnh vực nhƣ lợi ích
kinh tế, lợi ích chính trị, lợi ích tinh thần; theo phạm vi cộng đồng nhƣ lợi ích cá
nhân, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội; theo tính chất chủ thể nhƣ lợi ích dân tộc, lợi ích
nhà nƣớc, lợi ích của đảng Ở đây, luận văn đề cập sâu tới vấn đề lợi ích kinh tế.

10
Ở Việt Nam, tác giả Lê Xuân Tùng cho rằng:
Lợi ích kinh tế là cái biểu hiện những động cơ, mục đích, những nhân tố kích
thích khách quan thúc đẩy hoạt động lao động của con ngƣời. Lợi ích kinh tế gắn
chặt với nhu cầu kinh tế, vì có nhu cầu mới có lợi ích. Nhƣng sẽ là không đúng nếu
đồng nhất nhu cầu với lợi ích kinh tế… Lợi ích kinh tế không phải là nhu cầu nói
chung (nhƣ nhu cầu về ăn, mặc, ở…) mà là việc thỏa mãn nhu cầu một cách tốt
nhất, bao gồm cả nội dung của nhu cầu và phƣơng thức thỏa mãn nhu cầu. Vì suy
cho cùng, cái thúc đẩy ngƣời ta hành động chính là nhằm thỏa mãn trên thực tế nhu

giữa lợi ích kinh tế và nhu cầu kinh tế có mối quan hệ nhƣ thế nào? Chúng có đồng
nhất với nhau hay không? Để hiểu rõ thêm về lợi ích kinh tế ta đi tìm hiểu về mối
quan hệ giữa lợi ích kinh tế và nhu cầu kinh tế.
Một số tác giả cho rằng, lợi ích và nhu cầu là những phạm trù phản ánh sự
khác biệt hoàn toàn về bản chất và sự tồn tại. Theo họ, cơ sở tác động của lợi ích là
các quá trình lao động sản xuất xã hội, còn nhu cầu thì nảy sinh trong mối quan hệ
giữa con ngƣời với tự nhiên, giữa con ngƣời với con ngƣời mà trong đó hƣớng vào
mục đích nhằm thỏa mãn “cơ thể sống chung”.
Những tác giả khác lại đồng nhất nhu cầu và lợi ích. Họ cho rằng, lợi ích là
nhu cầu đƣợc quyết định bởi xã hội, là nhu cầu khách quan đƣợc chế định bởi vị trí
xã hội giữa các cá nhân, các giai cấp, các dân tộc, các nhóm xã hội, là sự phản ánh
chủ quan các nhu cầu tồn tại khách quan.
Từ những quan điểm nêu trên có thể thấy không thể tách rời lợi ích kinh tế ra
khỏi nhu cầu kinh tế để xét nó nhƣ một hiện tƣợng riêng rẽ. Nhƣng cũng không thể
đồng nhất nhu cầu kinh tế với lợi ích kinh tế. Giữa lợi ích kinh tế và nhu cầu kinh tế
có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau. Nếu không có nhu cầu kinh tế thì cũng
không có lợi ích kinh tế. Lợi ích kinh tế chỉ có ý nghĩa khi nó đƣợc đặt trong mối
quan hệ với nhu cầu kinh tế. Nhu cầu kinh tế thể hiện quan hệ chung của con ngƣời
với hoàn cảnh kinh tế xung quanh còn lợi ích kinh tế chẳng những thể hiện mối
quan hệ của con ngƣời với hoàn cảnh kinh tế xung quanh mà còn thể hiện mối quan
hệ giữa ngƣời với ngƣời có cùng nhu cầu kinh tế và đối tƣợng thỏa mãn nhu cầu

12
kinh tế với nhau trong việc thực hiện nhu cầu kinh tế ở các giai đoạn lịch sử nhất
định.
Giữa nhu cầu kinh tế và lợi ích kinh tế có cái chung. Cả hai đều chịu sự chi
phối bởi sự phát triển của trình độ sản xuất và quan hệ sản xuất xã hội, do đó chúng
đều mang tính lịch sử. Cơ sở xuất hiện chúng, động cơ hành động của chúng đều là
quá trình lao động, quá trình hoạt động của con ngƣời.
Nhu cầu kinh tế và lợi ích kinh tế đều chịu sự chi phối của các quan hệ kinh

thành thu nhập của những ngƣời tham gia vào quá trình sản xuất xã hội. Theo
C.Mác thì quan hệ phân phối này lại phụ thuộc vào quan hệ sở hữu về tƣ liệu sản
xuất. Mỗi quan hệ sản xuất có một phƣơng thức phân phối, do đó có một hình thức
thực hiện lợi ích kinh tế. Tính chất của lợi ích kinh tế là do quan hệ sản xuất quyết
định, mà quan hệ sản xuất này lại do trình độ lực lƣợng sản xuất quyết định. Rõ
ràng nội dung, hình thức, cũng nhƣ phƣơng tiện thực hiện lợi ích đƣợc quyết định
bởi điều kiện xã hội, không phụ thuộc vào ý muốn của chủ thể. Vì vậy, lợi ích kinh
tế là phạm trù kinh tế khách quan, nó chỉ xuất hiện giữa những ngƣời sản xuất có
mối quan hệ kinh tế với nhau.
Trong bài viết của Hồ Tấn Phong đăng trên Tạp chí phát triển kinh tế số 27,
ông viết: Theo Ăngghen: “Các quan hệ kinh tế của một xã hội đƣợc biểu hiện trƣớc
hết nhƣ những lợi ích” [32].
Quan hệ kinh tế quyết định tới lợi ích kinh tế thông qua vị trí, vai trò của các
chủ thể mang tính lợi ích trong hệ thống sản xuất xã hội. Do đó, lợi ích kinh tế là
sản phẩm của những quan hệ kinh tế, là hình thức vốn có, bên trong, hình thức tồn
tại và biểu hiện của các quan hệ kinh tế.
Mặt khác, quan hệ kinh tế là khác quan, cũng nhƣ mọi sự vật, hiện tƣợng nó
luôn luôn tồn tại trong vận động. Hình thức vận động của nó chính là sự vận động
của các quy luật kinh tế do nó trực tiếp sinh ra. Thông qua sự vận động của các quy
luật kinh tế mà quan hệ sản xuất ảnh hƣởng đến quá trình sản xuất. Nhƣng, các quy
luật kinh tế chỉ có thể tác động thông qua con ngƣời tức là thông qua lợi ích kinh tế
của con ngƣời. Nhƣ vậy, lợi ích kinh tế đóng vai trò là cơ chế tác động của các quy
luật kinh tế.

14
Vì vậy, có thể khẳng định lợi ích kinh tế là sự thống nhất biện chứng giữa
nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan.
Về mặt khách quan: lợi ích kinh tế là hình thức biểu hiện của quan hệ sản
xuất, là cơ chế tác động chung của các quy luật kinh tế do quan hệ sản xuất trực tiếp
dinh ra.

nhƣ là cái bản chất nhất của quan hệ sản xuất, chi phối các mối liên hệ cơ bản giữa
những ngƣời sản xuất với nhau; 2-Nhu cầu, với tƣ cách là nhu cầu kinh tế, bị quyết
định bởi phƣơng thức sản xuất, mà trực tiếp là quan hệ sản xuất…3-Lợi ích kinh tế,
bắt nguồn trực tiếp từ nhu cầu kinh tế, vì không có nhu cầu thì không có lợi ích; 4-
Cuối cùng là hoạt động của con người, đƣợc kích thích bởi lợi ích nhằm thỏa mãn
các nhu cầu kinh tế.” [19, tr.95]. Nhƣ vậy, lợi ích kinh tế chính là một khâu trung
gian, qua đó mà tính tất yếu khách quan chuyển thành hành động có ý thức của con
ngƣời. Vì lẽ đó mà ngƣời ta thấy lợi ích kinh tế là khâu nhạy cảm nhất trong toàn bộ
chuỗi quy định nhân quả gây nên hoạt động của con ngƣời, là yếu tố mà tác động
vào đó sẽ gây nên phản ứng nhanh nhạy nhất của cơ thể xã hội.
Thứ ba, lợi ích kinh tế bao giờ cũng mang tính lịch sử và tính giai cấp.
Mỗi xã hội bao giờ cũng đều có một hệ thống lợi ích kinh tế nhất định do
toàn bộ những quan hệ kinh tế quyết định. Chúng thể hiện tính chất và cơ cấu của
những quan hệ sản xuất ấy. Mức độ thỏa mãn những nhu cầu lợi ích là do trình độ
phát triển lực lƣợng sản xuất và tính chất quan hệ sản xuất của xã hội đó quyết định.
Đồng thời, mỗi một hệ thống lợi ích kinh tế lại có sự khác nhau về tính chất lịch sử,
về cơ cấu, về vị trí và mối quan hệ giữa những bộ phận trong cơ cấu đó.
Thật vậy, lợi ích kinh tế chính là sự hiện thực hóa các nhu cầu. Song không
phải mọi nhu cầu của con ngƣời đều có khả năng hiện thực hóa mà chỉ có nhu cầu
nào xuất phát từ chính năng lực đáp ứng của nền sản xuất xã hội mới đƣợc hiện
thực hóa. Theo C.Mác: “Quy mô của nhu cầu đƣợc gọi là tất yếu và những phƣơng
thức để thỏa mãn nhu cầu ấy chính là sản phẩm của lịch sử và phụ thuộc phần lớn
vào trình độ văn hóa của đất nƣớc” [17, tr.27]. Vì vậy lợi ích kinh tế phụ thuộc vào
hoàn cảnh của đất nƣớc trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định.

16
Trong xã hội có giai cấp, lợi ích tất yếu mang tính giai cấp. Bởi vì các chủ
thể trong một xã hội nhất định bao giờ cũng thể hiện tính giai cấp của mình ngay
trong những lợi ích kinh tế.
Chẳng hạn trong xã hội tƣ bản chủ nghĩa, lợi ích kinh tế của giai cấp tƣ sản là

Hai là, lợi ích kinh tế là động lực mạnh mẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển, là
biện pháp cơ bản nhất để kích thích tính tích cực, năng động và sáng tạo của ngƣời
lao động.
Lợi ích kinh tế là một trong những vấn đề sống còn của sản xuất và đời sống
xã hội. Lịch sử đã từng chứng minh, động lực thúc đẩy con ngƣời hoạt động trong
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội không phải là cái gì khác ngoài lợi ích của họ.
Chính những lợi ích đó đã gắn bó con ngƣời với cộng đồng của mình và tạo ra ở
con ngƣời những sự kích thích, thôi thúc, khát vọng và sự say mê trong hoạt động
sản xuất kinh doanh.
Lợi ích kinh tế đƣợc nhận thức và thực hiện đúng thì nó sẽ là động lực kinh
tế thúc đẩy con ngƣời hành động. Khi các lợi ích kinh tế đƣợc nhận thức và thực
hiện đúng sẽ làm nảy sinh hoạt động của các chủ thể, đồng thời tạo ra sự say mê,
kích thích hoạt động thực tiễn của con ngƣời.
Lợi ích kinh tế là sự thống nhất biện chứng giữa nhân tố khách quan và nhân
tố chủ quan cho nên nó trở thành động lực mạnh mẽ ở bên trong nền kinh tế, thúc
đẩy nền kinh tế phát triển. Một mặt, thông qua lợi ích kinh tế, con ngƣời mƣu cầu
cuộc sống. Mặt khác, thông qua lợi ích kinh tế mà xu hƣớng phát triển khách quan
của nền sản xuất xã hội đƣợc thực hiện.
Nhƣ vậy, lợi ích kinh tế không chỉ phản ánh những quan hệ kinh tế và những
quy luật kinh tế, mà còn bao hàm trong nó mục đích và sự lựa chọn những phƣơng
thức hoạt động nhằm thỏa mãn những nhu cầu khách quan của cuộc sống.
Ba là, lợi ích kinh tế còn có vai trò quan trọng trong việc củng cố, duy trì các
mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể sản xuất kinh doanh.
Một khi con ngƣời (chủ thể) tham gia vào các hoạt động kinh tế đều nhằm
đạt tới các lợi ích nhất định. Đạt đƣợc những lợi ích tƣơng xứng với kết quả sản
xuất, kinh doanh thì mới đảm bảo nâng cao tính ổn định và sự phát triển của các chủ

Trích đoạn Về phía người sử dụng lao động Về phía nhà nước Về phía các tổ chức chính trị xã hộ Về phía các cơ quan quản lý nhà nước ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN NGÀNH DỆT MAY CỦA TỈNH THÁI BÌNH
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status