Nghiên cứu sự khác biệt về năng suất lao động giữa các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước ở các tỉnh miền trung - Pdf 39

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

NGUYỄN VĂN TIẾN

NGHIÊN CỨU SỰ KHÁC BIỆT VỀ
NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG GIỮA CÁC
DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
VÀ DOANH NGHIỆP TRONG NƯỚC Ở CÁC
TỈNH MIỀN TRUNG

Chuyên ngành : Kinh tế Phát triển
Mã số

: 60.31.01.05

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Đà Nẵng - Năm 2016


Công trình được hoàn thành tại
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN TRUNG KIÊN

Phản biện 1: GS. TS. Võ Xuân Tiến
Phản biện 2: PGS. TS. Nguyễn Thế Tràm

Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt
nghiệp Thạc sĩ Kinh tế phát triển họp tại Đại học Đà Nẵng vào

đất nước vào nền kinh tế thế giới. Hiện nay các doanh nghiệp đã quan
tâm tới việc khuyến khích tăng năng suất lao động. Việc tăng năng
suất lao động của các doanh nghiệp ở các tỉnh miền Trung có một ý
nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của xã hội loài người, nó là động
cơ thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội cho vùng góp phần thúc đẩy phát
triển kinh tế xã hội của đất nước, là cơ sở quan trọng trong các quyết


2
định ở tầm vi mô và vĩ mô. Xuất phát từ thực tiễn đó, em quyết định
chọn đề tài “Nghiên cứu sự khác biệt về năng suất lao động giữa
các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài và doanh nghiệp
trong nƣớc ở các tỉnh Miền Trung”
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát là nghiên cứu sự khác biệt về năng suất lao
động giữa các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các doanh
nghiệp trong nước ở các tỉnh Miền Trung.
Mục tiêu cụ thể nghiên cứu cần hướng tới, gồm:
- Hệ thống cơ sở lý thuyết về năng suất lao động và các nhân tố
ảnh hưởng đến sự khác biệt về năng suất lao động giữa các loại hình
doanh nghiệp;
- Phân tích thống kê mô tả về năng suất lao động của các doanh
nghiệp trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở các
tỉnh Miền Trung;
- Phân tích và kiểm định sự khác biệt về năng suất lao động giữa
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp trong
nước ở các tỉnh Miền Trung;
- Đề xuất các hàm ý chính sách.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu: Năng suất lao động của các doanh

Trên thế giới, các nhà kinh tế từ lâu đã tranh luận về sự khác
biệt về năng suất lao động giữa các loại hình doanh nghiệp. Tuy
nhiên phải đến giữa thập niên 1990, với sự trỗi dậy của kinh tế học
tăng trưởng và các nguồn số liệu phong phú về các đặc điểm kinh tế,
chính trị - xã hội của các quốc gia, nhiều nghiên cứu thực nghiệp về
sự khác biệt năng suất lao động giữa các loại hình doanh nghiệp mới
được thực hiện một cách có hệ thống. Kết quả điều tra về mức độ
chênh lệch của năng suất lao động giữa các loại hình doanh nghiệp


4
chỉ ra sự khác biệt giữa lý thuyết và thực tiễn.
Kết quả điều tra chỉ ra sự khác biệt giữa lý thuyết và thực tiễn
về năng suất lao động giữa các loại hình doanh nghiệp. Ví dụ cụ thể,
trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại Malaisia (Ahmad &
Binti, 2010; Oguchi, Amdzah, Bakar, Zainal Abidin, & Shafii, 2002)
và Thailand (Ramstetter, 2004, 2006) cho thấy sự khác biệt về năng
suất lao động giữa các công ty đa quốc gia (MNCs) và các công ty
không phải công ty đa quốc gia là tương đối nhỏ và thường là không
đáng kể về mặt thống kê.
Tuy nhiên, sự khác biệt thường trở nên không đáng kể về mặt
thống kê khi các nhà máy được phân theo ngành (cho thấy những sự
khác biệt về độ dốc của hàm sản xuất, Takii, 2006). Bằng chứng cho
thấy tại Trung Quốc có sự khác biệt đáng kể về cả nguồn vốn lẫn
năng suất lao động khi tất cả các công ty sản xuất được kết hợp
(Jefferson & Su, 2006). Đối với Trung Quốc, kết quả của Jefferson
và Su (2006) chỉ ra rằng vốn và năng suất lao động của doanh nghiệp
nhà nước là thấp hơn đáng kể so với doanh nghiệp tư nhân hoặc các
công ty đa quốc gia. Kết quả của Jefferson và Su cũng chỉ ra rằng
việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước làm tăng năng suất lao

những vấn đề an sinh xã hội và các hình thức bồi thường không
lương khác là cao hơn so với các doanh nghiệp tư nhân. Hơn nữa, các
công ty đa quốc gia thường được yêu cầu phải trả tiền bồi thường
trên mỗi nhân viên là cao hơn so với các doanh nghiệp nhà nước, các
công ty đa quốc gia có 100% vốn nước ngoài thì phải trả nhiều hơn
so với các công ty liên doanh đa quốc gia. Tiền lương của người lao
động trong doanh nghiệp nhà nước được kiểm soát phần lớn bởi nhà
nước và có xu hướng được thiết lập dựa trên trình độ tay nghề của lao
động trong thị trường lao động.


6
7. Bố cục đề tài
Ngoài đặt vấn đề, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo,
đề tài được chia thành 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về sự khác biệt năng suất lao động
Chương 2: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp
nghiên cứu
Chương 3: Phân tích sự khác biệt về năng suất lao động giữa
các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài ở các tỉnh miền Trung
Chương 4: Bàn luận kết quả và hàm ý chính sách
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ KHÁC BIỆT
NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG
1.1. KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG
1.1.1. Khái niệm năng suất lao động
Năng suất lao động là hiệu quả sản xuất của lao động có ích
trong một đơn vị thời gian. Tăng năng suất lao động không chỉ đơn
thuần là chỉ tiêu phản ánh lượng sản phẩm sản xuất ra mà nó phải chỉ

tính năng suất lao động khác nhau, do đó, có nhiều loại chỉ tiêu để
tính năng suất lao động. Lựa chọn chỉ tiêu nào phụ thuộc vào điều
kiện của từng doanh nghiệp. Có 3 loại chỉ tiêu chủ yếu sau: năng suất
lao động tính bằng hiện vật, năng suất lao động tính bằng giá trị,
năng suất lao động tính bằng thời gian lao động.
1.2.1. Chỉ tiêu tính năng suất lao động bằng hiện vật
Là chỉ tiêu dùng sản lượng hiện vật của từng loại sản phẩm để
biểu hiện năng suất lao động của một công nhân.


8
1.2.2. Chỉ tiêu năng suất lao động bằng giá trị
Chỉ tiêu này dùng sản lượng tính bằng tiền (theo giá trị cố
định) của tất cả các loại sản phẩm thuộc doanh nghiệp (hoặc ngành)
sản xuất ra để biểu hiện mức năng suất lao động của một công nhân
(hoặc một công nhân viên).
1.2.3. Chỉ tiêu tính năng suất lao động bằng thời gian lao
động
Chỉ tiêu này dùng thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị
sản phẩm (hoặc hoàn thành một công việc) để biểu hiện năng suất lao
động.
1.3. SỰ KHÁC BIỆT NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG
1.3.1. Các nhân tố ảnh hƣởng đến sự khác biệt năng suất
lao động giữa các loại hình doanh nghiệp
Năng suất lao động chịu sự tác động của rất nhiều nhân tố khác
nhau, bao gồm yếu tố môi trường kinh tế - xã hội – chính trị, chính
sách kinh tế vĩ mô, tình hình thị trường, trình độ công nghệ, quản lý
và tổ chức sản xuất, mối quan hệ lao động – quản lý, khả năng về
vốn, phát triển nguồn nhân lực…
Các nhân tố cơ bản tác động tới năng suất lao động là: Chuyển

phần hóa doanh nghiệp nhà nước làm tăng năng suất lao động.
Một số nghiên cứu về năng suất lao động và các yếu tố ảnh
hưởng đến sự khác biệt năng suất lao động giữa các loại hình doanh
nghiệp trên các góc độ và quan điểm khác nhau. Nghiên cứu của
Baines (1997); Park & Miller (1998); Hoffman & Mehra (1999);
Chapman & Al-Khawadeh (2002); Khan (2003) cho thấy, cam kết
của quản lý cấp cao là một yếu tố không thể thiếu trong các chương
trình nâng cao năng suất lao động trong doanh nghiệp.
Đối với Việt Nam, Nguyen, Vu, Tran, and Nguyen (2006) cho
thấy các công ty đa quốc gia có doanh thu khá cao tính theo đầu nhân


10
viên trong ba ngành sản xuất (cơ khí và điện tử, dệt may, hàng may
mặc, giày dép, và chế biến thực phẩm) trong giai đoạn 2001-2003.
Athukorala và Tien (2010) chỉ ra rằng các công ty đa quốc gia có
năng suất tương đối cao so với các loại hình công ty khác trong giai
đoạn đoạn 2000- 2005. Một nghiên cứu được biết đến về việc cổ
phần hóa các công ty ở Việt Nam (Trường, Lanjouw, & Lensink,
2006) cho thấy có sự cải tiến về năng suất lao động trong các công ty.
Mặt khác, Nguyễn (2004) nghiên cứu về ngành dệt may và các công
ty dệt may cho thấy doanh nghiệp nhà nước là hiệu quả hơn so với
công ty tư nhân, nhưng ít hiệu quả hơn so với các công ty đa quốc gia
trong ngành công nghiệp này.
Nghiên cứu của McCarty (1999) và Brassard (2004) trong
trường hợp tại Việt Nam cho thấy rằng các chính sách kinh tế quan
trọng củng cố cho xu hướng các công ty đa quốc gia là trả lương cao
hơn so với các doanh nghiệp tư nhân nói riêng.
CHƢƠNG 2
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƢƠNG PHÁP

độ tăng bình quân về vốn cố định của các doanh nghiệp nhà nước
(22.17%) và doanh nghiệp tư nhân (48.24%).
2.2.3. Về doanh thu trong các loại hình doanh nghiệp
Doanh thu của của các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp
chế biến, chế tạo luôn tăng qua các năm, tốc độ tăng bình quân về
doanh thu trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong giai đoạn
này là 24.52%. Năm 2014, doanh thu trong ngành công nghiệp chế
biến, chế tạo ở các tỉnh miền Trung là 175 nghìn tỷ đồng, gấp 2,4 lần
so với năm 2011 và gấp gần 1,3 lần so với cùng thời điểm năm 2013.


12
2.3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1. Phƣơng pháp pháp phân tích
a. Phƣơng pháp thống kê mô tả
Thống kê mô tả là phương pháp liên quan đến việc thu thập số
liệu, tóm tắt, trình bày, tính toán và mô tả các đặc trưng khác nhau để
phản ánh một cách tổng quát đối tượng nghiên cứu. Dựa vào nguồn
dữ liệu thu thập được từ cuộc điều tra doanh nghiệp của tổng cục
Thống kê, tác giả tính toán năng suất lao động của các loại hình
doanh nghiệp rồi so sánh với nhau.
b. Phƣơng pháp mô hình kinh tế lƣợng
Sự so sánh trong phương pháp thống kê mô tả không thể kiểm
soát được quy mô về lao động và vốn trong cái loại hình doanh
nghiệp. Do vậy, luận văn sử dụng thêm phương pháp mô hình kinh tế
lượng để phân tích sự khác biệt về năng suất lao động trong các loại
hình doanh nghiệp.
Để khắc phục vấn đề thiếu biến hay không quan sát được một
số biến độc lập trong mô hình, luận văn sử dụng phương pháp hồi
quy với số liệu màng theo từng tỉnh/thành phố ở các tỉnh miền Trung

đoạn này là 13.77%.
Trong giai đoạn này ta thấy năng suất lao động bình quân của
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là cao hơn 19.41% so với
các doanh nghiệp trong nước. Năm 2011, mức chênh lệch năng suất
lao động giữa các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với các
doanh nghiệp trong nước là 19.26% thì đến năm 2014 con số này lên
tới 23.74%. Đối với từng loại hình doanh nghiệp, thì năng suất lao
động bình quân giai đoạn 2011 – 2014 của các doanh nghiệp có vốn


14
đầu tư nước ngoài cao hơn lần lượt là 25.03% và 14.42% so với các
doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân trong ngành công
nghiệp chế biến, chế tạo ở các tỉnh miền Trung.
3.2. PHÂN TÍCH SỰ KHÁC BIỆT BẰNG MÔ HÌNH KINH TẾ
LƢỢNG
3.2.1. Mô hình các nhân tố ảnh hƣởng đến năng suất lao
động
Phương pháp chung phổ biến nhất để đánh giá sự khác biệt về
năng suất lao động là ước lượng hàm sản xuất, sau đó tính toán lại
chênh lệch năng suất sau khi tính toán mức độ của các yếu tố đầu
vào. Nếu đầu ra của các doanh nghiệp là doanh thu, đầu vào là lao
động và vốn thì hàm sản xuất được sử dụng phổ biến là hàm sản xuất
Cobb – Douglas, được biểu diễn như sau:
Y = A.Kα.Lβ
Trong đó: Y là sản phầm đầu ra của doanh nghiệp, A là năng
suất tổng hợp các nhân tố, K là vốn vật chất, L là lao động sống.
Lấy logarit cả 2 vế của phương trình ta được:
Ln (Y) = A + α.ln(K) + β.ln(L)


Thuận).
3.2.2. Đặc trƣng các biến số của mô hình
a. Đặc trưng các biến số của các doanh nghiệp nhà nước
Đặc trưng cơ bản về các biến của các doanh nghiệp nhà nước
trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở các tỉnh miền Trung, giá
trị lao động bình quân là 284.44 lao động, giá trị nhỏ nhất là 3 lao
động, giá trị lớn nhất là 5,347. Giá trị doanh thu bình quân là
179085.05 triệu đồng, giá trị nhỏ nhất là 53 triệu đồng, giá trị lớn
nhất là 6,812,845 triệu đồng.
b. Đặc trưng các biến số của các doanh nghiệp tư nhân
Đặc trưng cơ bản các biến của các doanh nghiệp tư nhân trong
ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở các tỉnh miền Trung. Giá trị
doanh thu bình quân là 221,135.89 triệu đồng, giá trị nhỏ nhất là 48


16
triệu đồng, giá trị lớn nhất là 4,600,000 triệu đồng.
c. Đặc trưng các biến số của các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài
Đặc trưng cơ bản các biến của các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở các tỉnh
miền Trung. Giá trị doanh thu bình quân là 233,639.13 triệu đồng,
giá trị nhỏ nhất là 191 triệu đồng, giá trị lớn nhất là 11,000,000 triệu
đồng.
d. Đặc trưng và phân phối xác suất của các biến trong mô
hình
Đặc trưng cơ bản về các biến trong mô hình. Giá trị Ln(Y)
bình quân là 4.6213, giá trị nhỏ nhất là 1.6812, giá trị lớn nhất là
7.0414.
Phân bố xác suất của biến lao động, vốn cố định, giá trị sản


DS

(0.031)**

Biến cho doanh nghiệp có vốn đầu tư

0.142

nước ngoài - DF

(0.032)**

Biến giả cho khu vực điều tra doanh

0.024

nghiệp – DR1

(0.034)**

Biến giả cho khu vực điều tra doanh

-0.012

nghiệp – DR2

(0.033)**

R2

Từ kết quả hồi quy ta thấy sự khác biệt về năng suất lao động
giữa các loại hình doanh nghiệp là khác nhau do sự khác biệt nhau về
độ dốc của các hàm sản xuất. Ngoài ra sự khác biệt về năng suất lao
động giữa các loại hình doanh nghiêp cũng bị ảnh hưởng bởi khu vực
điều tra của doanh nghiệp. Kết quả hồi quy cho ta thấy, với các yếu
tố khác không đổi với mức ý nghĩa 5% thì các doanh nghiệp ở vùng
kinh tế trọng điểm miền Trung tạo ra năng suất lao động cao hơn so
với các doanh nghiệp ở các vùng khác. Từ kết quả hồi quy ta thấy,
với các yếu tố khác không đổi với mức ý nghĩa 5%, thì mức chênh
lệch năng suất lao động bình quân giữa các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài so với các doanh nghiệp trong nước trong giai đoạn
2011 – 2014 là 15.25%. Biến giả DS nhận hệ số âm điều này phản
ánh rằng các doanh nghiệp nhà nước là có năng suất lao động thấp
hơn so với các doanh nghiệp thuộc khối tư nhân.
b. Mô hình hồi quy bị ảnh hưởng bới yếu tố thời gian
Sử dụng phần mềm SPSS ước lượng mô hình hồi quy trên ta
có kết quả:
Bảng 3.12. Tóm tắt kết quả về sự chênh lệch năng suất lao động
giữa các loại hình doanh nghiệp
Biến giải thích
Lao động – Ln(L)
Vốn cố định – Ln(K)
Biến giả cho doanh nghiệp nhà nước DS
Biến cho doanh nghiệp có vốn đầu tư

OLS
0.586
(0.029)*
0.354
(0.019)*

-0.010
(0.033)**
0.027
(0.035)**
-0.014
(0.031)**
0.477
0.0000
Nhỏ hơn 5
1.683
2331

Ghi chú: trong () là độ lệch chuẩn, ** là mức ý nghĩa 5%
Từ bảng hồi quy, có thể thấy rằng giá trị R2 = 0,477, nó cho
biết rằng sự biến động của giá trị đầu ra chịu tác động 47.7% là do
các nhân tố trong mô hình đã chọn.
Các kiểm định cũng cho thấy các biến DY2, và DY3 là không
phù hợp nên bị loại khỏi mô hình.
Từ kết quả ước lượng mô hình hồi quy ta thấy yếu tố thời gian
có tác động đến sự chênh lệch năng suất lao động giữa các loại hình
doanh nghiệp. Từ kết quả hồi quy ta thấy, với các yếu tố khác không
đổi với mức ý nghĩa 5%, thì mức chênh lệch năng suất lao động bình
quân giữa các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài so với các
doanh nghiệp trong nước trong giai đoạn 2011 – 2014 là 15.25%.


20
Tuy bị ảnh hưởng bởi các yếu tố thời gian trong năm 2011 nhưng
chênh lệch mức năng suất lao động bình quân giữa các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp nhà nước là không thay

hay không, nhưng vai trò của yếu tố tổ chức sản xuất khoa học, hợp
lý lại phụ thuộc nhiều vào ý chí của bộ máy quản lý, điều hành doanh
nghiệp.
Bên cạnh đó thì Nhà nước phải rà soát, hoàn thiện cơ chế chính
sách, tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương và chiến lược phát
triển khoa học công nghệ.
Phát triển “cầu nối” giữa các nhà khoa học và doanh nghiệp là
cần thiết.
4.2.2. Nâng cao chất lƣợng lao động
Việc trang bị cho người lao động những kỹ năng cần thiết sẽ là
một phần quan trọng trong nỗ lực để tăng năng suất lao động góp
phần tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế và tiếp tục quá trình cải cách
kinh tế.
4.2.3. Nâng cao chất lƣợng và đổi mới biện pháp quản lý,
điều hành doanh nghiệp
Năng suất lao động là nhân tố quyết định nâng cao năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp trong thời kỳ dài chứ không chỉ trong
ngắn hạn và nâng cao thu nhập chính đáng của người lao động. Muốn
nâng cao chất lượng bộ máy quản lý, điều hành của doanh nghiệp
trước hết phải đổi mới công tác tuyển dụng, bố trí, sử dụng, bổ nhiệm
cán bộ, lựa chọn được những thành viên có đủ tài, đủ tầm và có tâm
với công việc. Chú trọng việc đào tạo nâng cao năng lực lãnh đạo,


22
chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với từng vị trí công việc.
4.2.4. Các chính sách thúc đẩy sự dịch chuyển lao động
Nguồn lực lao động của nước ta dồi dào, lưc lượng lao động
trẻ là to lớn, sẵn sàng làm việc cho các doanh nghiệp và chấp nhận
mức lương chưa phải là cao. Phần lớn các khoản đầu tư mới đều tập

các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp
trong nước ở các tỉnh miền Trung”, đề tài đã thực hiện được những
mục tiêu nghiên cứu đề ra. Đề tài đã tập trung nghiên cứu những lý
luận và bằng chứng thực nghiệm về sự khác biệt về năng suất lao
động giữa các loại hình doanh nghiệp, lượng hóa được sự chênh lệch
về năng suất lao động giữa các loại hình doanh nghiệp giai đoạn 2011
– 2014. Những kết luận mà đề tài rút ra bao gồm:
- Thông qua phân tích đánh giá các đặc trưng về lao động, vốn
cố định và doanh thu giữa các loại hình doanh nghiệp ở các tỉnh miền
Trung, đề tài đã chỉ rõ: lao động và vốn cố định của các doanh nghiệp
trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở các tỉnh miền Trung có
sự tăng lên đáng kể kéo theo đó là sự tăng lên về doanh thu của các
doanh nghiệp. Trong giai đoạn này thì doanh thu của các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong ngành công nghiệp chế biến,
chế tạo ở các tỉnh miền Trung là cao hơn so với các doanh nghiệp
trong nước.
- Đề tài cho thấy sự khác biệt về năng suất lao động giữa các
loại hình doanh nghiệp bằng 2 phương pháp là: thống kê mô tả và mô
hình kinh tế lượng. Kết quả phân tích định lượng có sự kiểm soát về
quy mô vốn và lao động trong doanh nghiệp cho thấy sự chênh lệch
về năng suất lao động giữa các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài với các doanh nghiệp trong nước là thấp hơn so với phương



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status