Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o
trêng §¹i häc Vinh
NGÔ THỊ THANH NGA
NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC PHÁP
LUẬT CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
CƠ SỞ Ở HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
CHUYÊN NGÀNH: LL VÀ PPDH BỘ MÔN CHÍNH TRỊ
M· sè: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
TS. ĐINH TRUNG THÀNH
NghÖ An, 2013
LỜI CẢM ƠN
2
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ tình cảm chân thành và
lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô khoa Giáo dục chính trị, Khoa sau đại
học, Hội đồng khoa học của trường Đại học Vinh; xin chân thành cảm ơn
lãnh đạo Huyện ủy, Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân, Phòng Tư pháp,
Hội đồng phổ biến giáo dục pháp luật, Phòng Nội vụ cùng lãnh đạo các xã,
thị trấn, ban ngành, đồng chí đồng nghiệp trên địa bàn huyện đã giúp đỡ
nhiệt tình để tôi hoàn thành luận văn này.
Hội đồng nhân dân
Ủy ban nhân dân
Cán bộ công chức
Hội đồng phổ biến giáo dục pháp luật
Phổ biến giáo dục pháp luật
Giáo dục pháp luật
Tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật
Ví dụ
An toàn giao thông
Ủy ban mặt trận tổ quốc
Quy phạm pháp luật
Kinh tế xã hội
MỤC LỤC
Dưới góc độ luận văn, luận án, cũng đã có một số đề tài nghiên cứu vấn đề giáo
dục pháp luật cho cán bộ, công chức như: "Nâng cao hiệu quả giáo dục pháp
luật cho cán bộ, công chức cơ sở ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An trong điều
kiện cải cách hành chính", Nguyễn Đình Nam, Luận văn Thạc sỹ Khoa học
Giáo dục, Đại học Vinh, 2012; "Nâng cao chất lượng thực hiện Quy chế dân
chủ ở cấp xã trên địa bàn huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp trong xây dựng
nông thôn mới"; Trần Văn Tám, (Qua khảo sát ở xã Bình Thạnh, Huyện Cao
Lãnh, Tỉnh Đồng Tháp), luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Lý luận và phương
pháp giảng dạy bộ môn Giáo dục chính trị, Đại học Vinh, 2012 .......................8
49. Trần Văn Tám, Nâng cao chất lượng thực hiện Quy chế dân chủ ở cấp xã
trên địa bàn huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp trong xây dựng nông thôn mới;
luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Lý luận và phương pháp giảng dạy bộ môn
Giáo dục chính trị, Đại học Vinh, 2012 .........................................................100
6
truyền, giáo dục pháp luật cho nhân dân. Nếu như mỗi người cán bộ, công
chức có trình độ am hiểu pháp luật toàn diện, sâu sắc, có thái độ tôn trọng và
chấp hành tốt pháp luật, chủ trương chính sách cũng như đường lối của Đảng,
thì quá trình thực thi pháp luật, thực hiện việc chuyên môn của mình tại cơ sở
sẽ đạt hiệu quả cao.
Nhưng hiện nay, từ thực tiễn hoạt động thực thi pháp luật ở nhiều địa
phương có thể thấy rằng, việc vi phạm pháp luật, làm trái pháp luật của cán
bộ, công chức không phải là ít. Công cuộc đổi mới đất nước đã và đang đặt ra
nhiều thách thức đối với đội ngũ cán bộ, công chức nói riêng, cũng như nền
hành chính quốc gia nói chung. Yêu cầu đối với việc nâng cao hiệu quả hoạt
động cũng như trình độ hiểu biết pháp luật của CBCC là vấn đề hết sức cần
thiết.
Trong thời gian qua trên địa bàn huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, công
tác GDPL đối với đội ngũ CBCC cơ sở, đã và đang đạt được kết quả nhất
định. Tuy nhiên, cần thẳng thắn nhìn nhận rằng công tác GDPL cho đội ngũ
CBCC cơ sở còn nhiều khó khăn, hiệu quả chưa cao; đặc biệt là đội ngũ làm
công tác GDPL chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác; nội dung và hình
thức phương pháp giáo dục còn nhiều lúng túng. Có một bộ phận khá lớn cán
bộ, công chức hiểu biết pháp luật rất sơ sài, hời hợt. Nhiều cán bộ, công chức
chưa phân biệt được giữa các loại vi phạm pháp luật hành chính, dân sự, hình
sự... Có trường hợp vi phạm pháp luật hình sự nghiêm trọng, nhưng chính
quyền địa phương chỉ xử lý nhẹ nhàng, đơn giản trong nội bộ. Ngược lại, có
vụ việc đơn giản lại nghĩ nghiêm trọng và xử lý khá nặng nề. Vì vậy dẫn đến
tình trạng một bộ phận CBCC cơ sở còn quan liêu, sách nhiễu, hách dịch,
thậm chí là cố tình làm sai các quy định của pháp luật, xem thường pháp
luật... Điều này đặt ra cho CBCC toàn huyện cần phải nâng cao hiệu quả
GDPL cho đội ngũ CBCC cơ sở, để đội ngũ CBCC cơ sở nắm vững cũng như
thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, góp phần xây dựng nền hành chính quốc gia
mới, phát huy quyền làm chủ của công dân. Xuất phát từ yêu cầu và thực tế
pháp luật đáp ứng đòi hỏi của nhiệm vụ đưa pháp luật vào cuộc sống”, Lê Thị
Thu Ba, Tạp chí dân chủ và pháp luật, Bộ tư pháp số chuyên đề tháng 4/2006.
8
Nghiên cứu về vấn đề GDPL cho CBCC tiêu biểu có các công trình
nghiên cứu sau đây:
“GDPL cho CBCC hành chính ở nước ta hiện nay”, Nguyễn Quốc Sửu,
Tạp chí nghiên cứu lập pháp, Văn phòng quốc hội, Số 7/2010;
“Đổi mới phương pháp và hình thức GDPL cho CBCC hành chính”,
Nguyễn Quốc Sửu, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Bộ Tư pháp, Số 5/1011;
“Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động GDPL cho CBCC hành chính ở
nước ta hiện nay” Nguyễn Quốc Sửu, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Viện
nhà nước và pháp luật, số 4/2010;
“GDPL cho CBCC cấp xã tại Thành phố Hồ Chí Minh”, Nguyễn Thị
Bưởi, Trường cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh;
“Những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp
luật”, Phạm Văn Chung, Bộ tư pháp, Số chuyên đề tháng 10/2010;
“Thiết chế hội đồng phổ biến, giáo dục pháp luật”, Bộ Tư pháp số
chuyên đề tháng 10/2010.
Ngoài ra có một số công trình nghiên cứu khác nhau đã được đăng ở các
tạp chí, các báo Trung ương và địa phương.
Những công trình trên đã có nhiều đóng góp quan trọng không những
về măt lý luận, mà còn phần nào kết quả nghiên cứu còn được ứng dụng trong
thực tiễn GDPL nói chung, GDPL cho đội ngũ CBCC cơ sở nói riêng.
Dưới góc độ luận văn, luận án, cũng đã có một số đề tài nghiên cứu vấn
đề giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức như: "Nâng cao hiệu quả giáo
dục pháp luật cho cán bộ, công chức cơ sở ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An
trong điều kiện cải cách hành chính", Nguyễn Đình Nam, Luận văn Thạc sỹ
Khoa học Giáo dục, Đại học Vinh, 2012; "Nâng cao chất lượng thực hiện
CBCC cơ sở ở huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
- Luận văn có thể làm tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu, tuyên
truyền và phổ biến GDPL.
7. Giả thuyết khoa học
11
Thực hiện các giải pháp như đề xuất sẽ góp phần nâng cao hiệu quả
GDPL cho đội ngũ CBCC cơ sở ở huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh trong giai
đoạn hiện nay.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ,
công chức cơ sở.
Chương 2: Thực trạng công tác giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ,
công chức cơ sở ở huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả công
tác giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở ở huyện Nghi
Xuân, tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay.
12
B. NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CƠ SỞ
1.1. Một số khái niệm trong đề tài
1.1.1. Pháp luật và giáo dục pháp luật
minh bộ lạc có hai thủ lĩnh tối cao, không ai hơn ai về quyền hạn và chức
trách. Nhưng càng ngày sự phát triển của lực lượng sản xuất đã tạo ra những
chuyển biến vô cùng to lớn cả về kinh tế và xã hội, làm cho tổ chức công xã
nguyên thủy tan rã, và nhường bước cho sự ra đời của nhà nước. Sự ra đời của
nhà nước đã đánh dấu quan trọng trong sự ra đời của pháp luật vì pháp luật ra
đời khi nhà nước xuất hiện.
Trong buổi ban đầu, trước tiên và phổ biến nhất là nhiều phong tục tập
quán được "nhà nước hóa" thành tập quán pháp. Có những tập quán pháp
không được nhà nước chính thức thừa nhận nhưng được mặc nhiên công
nhận, và được giai cấp thống trị sử dụng như là một công cụ đắc lực cho quá
trình điều hành xã hội của giai cấp mình. Nó có vai trò hết sức quan trọng
trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển
của xã hội thì sự ra đời của luật thành văn là một tất yếu, bởi vì tập quán pháp
không thể "đảm đương" được việc điều chỉnh các quan hệ xã hội rộng rãi,
phong phú, sâu rộng nảy sinh trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa.
Tóm lại: Có thể hiểu một cách chung nhất pháp luật là hệ thống những
qui tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận
và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và là nhân tố điều
chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình.
Từ khái niệm trên ta có thể hiểu các thuộc tính của pháp luật:
- Tính bắt buộc chung (tính qui phạm phổ biến): Trước hết, quy phạm
được hiểu là những quy tắc xử sự chung, được coi là khuôn mẫu, chuẩn mực,
mực thước đối với hành vi của 1 phạm vi cá nhân, tổ chức. Pháp luật được
biểu hiện cụ thể là những quy phạm pháp luật. Do vậy nó cũng là quy tắc xử
sự chung cho phạm vi cá nhân hoặc tổ chức nhất định. Pháp luật được Nhà
14
nước ban hành hay thừa nhận không chỉ dành riêng cho một cá nhân, tổ chức
cụ thể mà áp dụng cho tất cả các chủ thể. Tuy nhiên, điểm khác biệt giữa
15
- Quan niệm thứ nhất cho rằng, pháp luật là quy tắc xử sự có tính bắt
buộc chung. Khi pháp luật mang tính chất bắt buộc chung, đồng nghĩa với
việc mọi công dân đều phải có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật, do đó không cần
đặt vấn đề giáo dục pháp luật cho mọi công dân. Pháp luật không thể là cái
thuộc tính tuyên truyền vận động; ngược lại, bản thân pháp luật sẽ tự thực
hiện chức năng của mình bằng các quy định về quyền và nghĩa vụ thông qua
các chế tài đối với những người tham gia vào các quan hệ xã hội do pháp luật
điều chỉnh.
- Quan niệm thứ hai, đồng nhất hoặc coi giáo dục pháp luật là một bộ
phận của giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục đạo đức. Chỉ cần thực hiện tốt
quá trình giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục đạo đức là mọi người đã có ý
thức pháp luật cao, có sự tôn trọng và tuân thủ pháp luật. Như vậy theo quan
niệm này, thì chỉ cần giáo dục tốt chính trị tư tưởng, và đạo đức là được, qua
đó công dân tự sẽ có ý thức chấp hành và tôn trọng pháp luật, không cần đến
tuyên truyền hay phổ biến giáo dục pháp luật.
- Quan niệm thứ ba, coi giáo dục pháp luật đồng nhất với việc tuyên
truyền, giới thiệu, phổ biến các văn bản pháp luật. Theo quan niệm này, việc
giáo dục pháp luật thực chất chỉ là các đợt tuyên truyền, giới thiệu tinh thần
văn bản pháp luật khi có văn bản pháp luật quan trọng mới ban hành như:
Hiến pháp, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự... hoặc trước các kỳ bầu cử Quốc
hội, bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp. Như vậy theo những cách hiểu này,
việc tuyên truyền và phổ biến giáo dục pháp luật chỉ diễn ra trong thời gian
ngắn, khi có những sự kiện khác nhau liên quan đến các văn bản pháp luật.
Các quan niệm nói trên đều đem ra những khía cạnh của vấn đề, tuy
nhiên những khái niệm đó đều mang tính phiến diện, một chiều, chưa thấy hết
đặc thù, sự tác động của giáo dục pháp luật, nên đă vô tình hoặc cố ý hạ thấp
vai trò, giá trị của giáo dục pháp luật. Bởi vì, bản thân pháp luật mới chỉ là
văn bản quy phạm pháp luật, là mô hình ở dạng "tiềm năng". Pháp luật chỉ
17
động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch và định hướng của con người lên
việc hình thành những phẩm chất, kỹ năng nhất định của đối tượng giáo dục.
Theo nghĩa hẹp, giáo dục là hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế
hoạch của chủ thể giáo dục tác động lên khách thể giáo dục, nhằm đạt được
các mục tiêu nhất định như: Truyền bá những kinh nghiệm trong sản xuất,
trong đấu tranh; những tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy để khách thể (hay
đối tượng) có đủ khả năng tham gia vào đời sống xã hội. "Phổ biến giáo dục
pháp luật là một khâu của hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật, là hoạt động
có định hướng, có tổ chức, có chủ định (thông qua các hình thức giáo dục,
thuyết phục, nêu gương...) nhằm mục đích hình thành ở đối tượng tri thức pháp
lý, tình cảm và hành vi xử sự phù hợp với các đòi hỏi của các hệ thống pháp
luật hiện hành với các hình thức, phương tiện, phương pháp đặc thù. Phổ biến
giáo dục pháp luật là quá trình tác động thường xuyên, liên tục, lâu dài của chủ
thể lên đối tượng, là cầu nối để chuyển tải pháp luật vào cuộc sống" [11, tr38 ]
Trong thực tiễn, tuy thừa nhận ảnh hưởng của các điều kiện khách quan
là to lớn đối với việc hình thành ý thức cá nhân con người, các nhà lý luận, các
nhà khoa học sư phạm vẫn nhấn mạnh đến yếu tố tác động hàng đầu, cực kỳ
quan trọng, thậm chí mang yếu tố quyết định của nhân tố chủ quan trong giáo
dục. Vì thế, khái niệm giáo dục hiện nay thường được hiểu theo nghĩa hẹp.
1.1.2. Giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức cơ sở
1.1.2.1. Cán bộ, công chức cơ sở
Khái niệm công chức ở nước ta được đánh dấu từ Sắc lệnh 76/SL ngày
20/5/1950 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ban hành "Quy chế công chức của nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa". Sau đó, trong một thời gian dài do nhiều
nguyên nhân chúng ta không hay sử dụng thuật ngữ "công chức" mà thường
dùng cụm từ "cán bộ công nhân viên chức" để chỉ toàn bộ những người làm
việc trong tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức Đảng, các đoàn thể quần
- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ
thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;
19
- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ
thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được
xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp trong các cơ quan nhà nước; mỗi
ngạch thể hiện chức và cấp về chuyên môn nghiệp vụ, có chức danh, tiêu
chuẩn riêng;
- Thẩm phán Tòa án nhân dân; kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân;
- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ
thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà
không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm
việc trong các cơ quan đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sĩ
quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp.
Sau khi Pháp lệnh đã ban hành, Chính phủ đã ra ba nghị định, chủ yếu
là giải thích và hướng dẫn về vấn đề công chức:
- Nghị định 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 về tuyển dụng, sử dụng
và quản lý công chức;
- Nghị định 96/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 về chế độ thôi việc đối
với cán bộ, công chức;
- Nghị định 97/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 về xử lý kỷ luật và trách
nhiệm vật chất đối với công chức.
Theo Nghị định 95/1998/NĐ-CP thì công chức là những người quy
định tại khoản 3 và khoản 5 của Điều 1 Pháp lệnh Cán bộ công chức.
Năm 2010 Luật cán bộ, công chức có hiệu lực và trong đó có quy định
rõ ràng về khái niệm CBCC. Theo quy định tại điều 4 Luật cán bộ, công chức
thì có thể hiểu rằng:
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào
thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch;
Văn hóa - xã hội. Công chức cấp xã do huyện quản lý được quy định tại
khoản 3 điều 61 Luật cán bộ, công chức năm 2010.
21
Chúng ta đã biết rằng, từ khi xuất hiện và hình thành nhà nước thì nhà
nước đã có sự phân chia thành các đơn vị, lãnh thổ khác nhau để nhà nước dễ
dàng trong việc quản lý các vấn đề về kinh tế, chính trị, xã hội. Ở nước ta, vấn
đề này ngay từ khi thành lập nhà nước, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn
quan tâm đến tổ chức nhà nước thành các cấp hành chính khác nhau để thuận
tiện trong việc tổ chức và quản lý. Theo hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam
năm 1992 (được sửa đổi bổ sung năm 2002), và tại điều 4 Luật tổ chức
HĐND và UBND có quy định HĐND và UBND được tổ chức thành các đơn
vị hành chính sau đây:
Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh);
Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện);
Xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã).
Chính quyền cấp xã, phường, thị trấn là chính quyền gần dân nhất
trong hệ thống chính quyền 4 cấp. Gọi chính quyền cấp xã, phường, thị trấn
chính là chính quyền cấp cơ sở bởi những lý do sau:
Thứ nhất, cấp này thỏa mãn được các yếu tố cấu thành một cấp chính
quyền:
Được nhà nước giao cho các chức trách nhiệm vụ, quyền hạn để thay
mặt nhà nước quản lý các công việc của địa phương.
Có cơ chế bầu cử cán bộ địa phương.
Có tính tự quản lý nhất định.
Chịu sự kiểm soát của chính quyền cấp trên
Thứ hai, đây là cấp chính quyền thấp nhất, không có cấp chính quyền
nào thấp hơn cấp chính quyền cấp xã, phường, thị trấn. Ở cấp này, thường
Như vậy ta có thể khẳng định rằng, CBCC có đầy đủ các tiêu chuẩn
được tuyển dụng hoặc bầu cử theo quy định của Luật công chức 2010 mà làm
việc ở chính quyền cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) thì được gọi
là CBCC cấp cơ sở.
1.1.2.2. Đặc điểm trong giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức
Quá trình GDPL cho CBCC có những đặc điểm khác biệt so với GDPL
cho những đối tượng giáo dục khác như: GDPL trong nhà trường đối tượng
chủ yếu là học sinh, sinh viên; GDPL cho người lao động, người quản lý
trong các doanh nghiệp, hay là GDPL cho thanh thiếu niên...
23
Nếu như quá trình GDPL cho đối tượng là thanh thiếu niên, cần tập
trung vào những kiến thức pháp luật phổ thông, cơ bản về nhà nước và pháp
luật, các quyền và nghĩa vụ của công dân, một số kiến thức pháp luật thiết yếu
phục vụ cuộc sống, học tập phong phú phù hợp với lứa tuổi như: an toàn giao
thông, bảo vệ môi trường... Còn với người lao động và người quản lý trong
doanh nghiệp, vấn đề GDPL cần giáo dục những nội dung liên quan trực tiếp
đến hoạt động quản lý, sản xuất kinh doanh, lao động của người quản lý. Với
các hình thức tư vấn pháp luật, nói chuyện theo chuyên đề, sinh hoạt các câu
lạc bộ... Những đối tượng được giáo dục nói trên có những đặc điểm khác biệt
so với đội ngũ CBCC, vì thế đặc điểm trong quá trình GDPL cho CBCC cần
phải chú trọng hơn về nội dung, đặc biệt là những nội dung pháp luật mới, có
ảnh hưởng đến chính quyền địa phương, và chức danh mà CBCC đó được
đảm nhận.
Đối với quá trình GDPL cho CBCC ngoài việc đào tạo, bồi dưỡng kiến
thức pháp luật theo một chương trình tương ứng, việc GDPL cho CBCC còn
được thực hiện thông qua các lớp tập huấn theo chuyên đề, các hội nghị giới
thiệu hoặc triển khai các văn bản. Hiện nay trình độ năng lực của CBCC cơ sở
có nhiều bất cập, vì vậy khi tiếp thu, triển khai các chủ trương, chính sách
đối tượng giáo dục pháp luật sử dụng để nhằm thỏa măn mục đích truyền đạt
và lĩnh hội nội dung giáo dục pháp luật.
Hiệu quả của công tác giáo dục pháp luật không chỉ phụ thuộc vào nội
dung mà cgòn phụ thuộc vào phương pháp giáo dục pháp luật. Bởi vì, để
truyền tải được nội dung giáo dục pháp luật đ gòi hỏi chủ thể giáo dục pháp luật
phải có cách thức, biện pháp tác động phù hợp với khả năng tiếp nhận của đối
tượng. Có phương pháp giáo dục pháp luật tốt là một trong những yếu tố
quyết định chất lượng, hiệu quả của công tác giáo dục pháp luật.
Đối với quá trình GDPL cho CBCC có những phương pháp khác biệt so
với những đối tượng giáo dục khác. Nhưng trước tiên phải khẳng định rằng
không có một phương pháp GDPL nào là phương pháp tối ưu nhất, bởi vì có
nhiều lý do khác nhau:
25
- Thứ nhất, mỗi CBCC ở các địa phương có một đặc điểm khác nhau;
những đặc điểm thuộc về vùng miền có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của
CBCC.
- Thứ hai, mỗi chức danh CBCC được đảm nhận có những đặc điểm
riêng, ngoài những hiểu biết pháp luật chung nhất thì đều cần thiết đi chuyên
sâu vào những văn bản pháp luật có liên quan đến ngành, lĩnh vực chuyên
môn mà CBCC đó đảm nhận, phụ trách.
Vì thế, để có những phương pháp GDPL cho đội ngũ CBCC đạt được
hiệu quả cao ngoài việc đào tạo bồi dưỡng kiến thức pháp luật theo chương
trình tương ứng với từng chức danh CBCC, việc GDPL có thể thực hiện bằng
phương pháp thông qua các lớp tập huấn chuyên đề (hình thức nói, truyền
đạt), các hội nghị giới thiệu hoặc triển khai các văn bản, qua tài liệu phát tờ
rơi thông qua các đợt tuyên truyền và phổ biến GDPL. Phương pháp GDPL
tốt thì sẽ đạt được những hiệu quả nhất định từ công tác GDPL.
1.2. Nội dung và hình thức giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ