Khoá luận tốt nghiệp
Hoàng Thị Thuý - K29C Ngữ văn
phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Tác phẩm văn học là một công trình nghệ thuật ngôn từ do cá nhân
hay tập thể sáng tạo ra nhằm khái quát bằng hình tượng về cuộc sống và con
người, qua đó thể hiện tâm tư tình cảm, thái độ của chủ thể trước thực tại. Một
tác phẩm văn chương được coi là thành công và có giá trị khi ngôn ngữ trong
tác phẩm ấy đạt đến mức điêu luyện, chính xác và chuẩn mực. Điều này cho
thấy việc nghiên cứu và đánh giá ngôn ngữ trong một tác phẩm là việc đặc
biệt quan trọng. PGS. TS Đinh Trọng Lạc đã nhận xét: Cái làm nên sự kỳ
diệu của ngôn ngữ chính là các phương tiện, biện pháp tu từ [4, tr.4]. Chính
vì thế mà ta hoàn toàn có thể khẳng định, cánh cửa đầu tiên mở đường cho
chúng ta tiếp cận với một tác phẩm văn học là tìm hiểu, khám phá các phương
tiện, biện pháp tu từ. Trong số các biện pháp tu từ thường gặp trong văn
chương, chúng ta thấy tiêu biểu hơn cả là biện pháp tu từ hoán dụ. Đây là một
trong những biện pháp tu từ quan trọng làm nên giá trị nhận thức cho đối
tượng được nói đến trong tác phẩm, đồng thời cũng thể hiện đầy đủ dấu ấn cá
nhân của người sáng tạo. Có thể nói biện pháp tu từ hoán dụ là đặc điểm nổi
bật giúp chúng ta nhận biết phong cách riêng của mỗi một nghệ sĩ trong quá
trình lao động nghệ thuật.
1.2. Nguyễn Tuân là cây bút tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại.
Ông được xem là nhà văn mở đường và đắp nền cho văn xuôi hiện đại Việt
Nam thế kỷ XX (Hoài Anh) [10, tr.186], là nhà nghệ sĩ ngôn từ đã đưa cái
đẹp thăng hoa (Mai Quốc Liên) [10, tr.203]. ở Nguyễn Tuân, chúng ta nhận
thấy có sự kết hợp kỳ diệu giữa tính cách tự do phóng túng và thể tuỳ bút đậm
chất trữ tình. Sản phẩm của sự gặp gỡ ấy chính là những trang văn tài hoa, độc
đáo. Trước cách mạng, Nguyễn Tuân đã làm sống lại trong tâm tưởng người
được đưa vào giảng dạy cũng được coi là những tác phẩm lớn và tiêu biểu cho
một giai đoạn văn học. Do vậy việc tìm hiểu biện pháp hoán dụ tu từ trong văn
xuôi Nguyễn Tuân sẽ góp phần giúp chúng tôi cảm thụ và giảng dạy tốt hơn
những tác phẩm văn xuôi của Nguyễn Tuân trong nhà trường phổ thông.
2
Khoá luận tốt nghiệp
Hoàng Thị Thuý - K29C Ngữ văn
Những lí do nêu trên đã hướng chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài
Tìm hiểu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp hoán dụ tu từ trong văn xuôi
Nguyễn Tuân. Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù bản thân rất nỗ lực và cố
gắng song không tránh khỏi những hạn chế, chúng tôi rất mong nhận được sự
chỉ giáo của thầy cô và bạn bè.
2. Lịch sử vấn đề
Nguyễn Tuân, người được coi là bậc thầy của nghệ thuật ngôn từ Việt
Nam, là một trong những nhà văn sử dụng rất linh hoạt các biện pháp nghệ
thuật. Và từ trước đến nay, khi nghiên cứu về văn Nguyễn Tuân đã có rất nhiều
những công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này.
2.1. Nghiên cứu về từ ngữ trong văn xuôi Nguyễn Tuân
ở góc độ từ ngữ, các nhà nghiên cứu đã dành cho tác gia Nguyễn Tuân
sự quan tâm đặc biệt với các bài viết:
- Bài viết: Nhà luyện đan ngôn từ - ông lái đò chữ nghĩa in trong cuốn
Nguyễn Tuân - nhà văn và tác phẩm trong nhà trường của tác giả Nguyễn
Quang Trung chủ yếu bàn về tài năng ngôn ngữ của Nguyễn Tuân. Ông khẳng
định: Văn Nguyễn Tuân là thứ ngôn ngữ nóng rẫy sự sống; Cái độc đáo vô
Thứ hai: Để tạo âm hưởng đặc biệt cho lời văn.
Ví dụ: Trong Thiếu quê hương, Nguyễn Tuân viết về một anh chàng
Nguyễn của thời đại, nhưng ông cũng dùng rất nhiều từ ngữ Hán - Việt mang
tính trang trọng để nhấn mạnh về tính cách của nhân vật này: Cảnh thể, cự
phú, quần phong, mộ dạ, song loan...
Thứ ba: Sử dụng từ Hán - Việt với chủ đích nghệ thuật ngay cả khi có từ
thuần Việt cùng nghĩa.
Ví dụ: Từ Voi trắng (thuần Việt) và từ bạch tượng (Hán - Việt) là
các cặp từ đồng nghĩa. Nguyễn Tuân đã dùng hai từ đó trong hai ngữ cảnh
khác nhau một cách thần tình.
Thần non Tản truyền cho voi trắng và hiệp thợ mộc đứng cả dậy. ở
đây, dụng ý nghệ thuật của nhà văn là trong quan hệ với thần núi Tản Viên,
con vật được gọi đích danh là thích hợp. Ngược lại, trong con mắt của người
4
Khoá luận tốt nghiệp
Hoàng Thị Thuý - K29C Ngữ văn
phàm trần, chúng là loài vật linh thiêng của chốn non tiên nên ở một đoạn
khác, Nguyễn Tuân dùng từ bạch tượng: Có một lần, ông cụ Sần thấy mình
gối vào vòi con bạch tượng mà ngủ (Trên đỉnh non Tản).
Cuối cùng, tác giả Đặng Lưu kết luận: Đọc Nguyễn Tuân, gặp cách kết
hợp bất ngờ như vậy, người đọc không thể không dừng lại ngẫm nghĩ để
thưởng thức cái thú vị trong xảo thuật ngôn từ của nhà văn [6, tr.37].
- Cuốn Tác phẩm văn chương trong trường phổ thông - những con
đường khám phá (Tập 3 - Nxb Giáo dục, 2005) của các tác giả Vũ Dương
Quỹ, Lê Bảo có bài viết Người lái đò sông Đà bàn về phong cách nghệ thuật
giả đã dành hẳn một phần lớn bài viết của mình tìm hiểu về ngôn từ mà nhà
văn sử dụng, trong đó, tác giả có một phát hiện rất độc đáo: Trong những
trang tuỳ bút, Nguyễn Tuân đã nêu gương sáng về việc dùng từ, đặt câu, lập ý.
Nói rộng ra, ông hết sức trân trọng, cân nhắc để có những trang văn thật sự
có tính nghệ thuật cao, có sức ám ảnh lâu bền... [8, tr.36].
Điều đặc biệt khi nghiên cứu về cách sử dụng ngôn từ của Nguyễn Tuân
là tác giả đã phát hiện ra nghệ thuật tách từ của nhà văn với những dẫn chứng
tiêu biểu, thuyết phục:
Trong Chén rượu vĩnh biệt (Tao đàn 1939)
... Rượu lúc này sao cay sao đắng lạ
... Tất cả chỉ có thế thôi, một đoàn thê tử yếu và đuối.
Hoặc trong Trang hoa (1963)
Tôi ước gì mắt trần mắt thịt của tôi có được cái sáng cái suốt của
quang tuyến ích xì.
Trong Đi và viết (1972)
... Ngày xưa có một nhà văn đi rất dữ và viết cũng rất tợn.
... Ta đâm mê với thực tế Tây Bắc, lâu lâu mà lên chưa kịp thì có khối
người nhắc, lắm hôm đang nuốt dở một miếng cơm là cứ sặc khốn sặc khổ lên.
Như vậy, các bài nghiên cứu đã bao quát tất cả những đặc điểm nổi bật
của ngôn từ văn xuôi Nguyễn Tuân: tinh tế, độc đáo, sáng tạo, giàu giá trị tạo
hình và biểu cảm cao.
6
Hoàng Thị Thuý - K29C Ngữ văn
Khoá luận tốt nghiệp
2.2. Nghiên cứu từ góc độ ngữ pháp, cách diễn đạt
Hoàng Thị Thuý - K29C Ngữ văn
cách nói của người Việt, người Việt Hà Nội, người Việt đồng bằng Bắc bộ với
tất cả cái đậm đà, cái duyên dáng... [10, tr.205].
Qua khảo sát các bài nghiên cứu trên, một điều ta dễ nhận thấy là các
nhà nghiên cứu chỉ xem xét câu văn Nguyễn Tuân trong khuôn khổ một bài
viết, chưa có những công trình nghiên cứu khoa học thực sự lớn, hoàn chỉnh về
câu văn Nguyễn Tuân trong toàn bộ tuyển tập. Bởi vậy đây cũng là đề tài hấp
dẫn các nhà nghiên cứu trong thời gian tới.
2.3. Nghiên cứu từ góc độ Phong cách học
Nghiên cứu ở góc độ Phong cách học chính là việc các tác giả đi sâu
tìm hiểu các phương thức, biện pháp tu từ được nhà văn Nguyễn Tuân sử dụng
trong các tác phẩm của mình. Có thể kể đến các bài viết như:
- GS. Hoàng Nhân trong bài: Có gì chung giữa Nguyễn Tuân và
Andregide? (Tạp chí Văn học, số 4 - 1998) đã đi sâu tìm hiểu biện pháp so
sánh tu từ trong văn Nguyễn Tuân, sau khi so sánh sự giống nhau và khác
nhau về đặc điểm phong cách của hai nhà văn, tác giả khẳng định: Ông vận
dụng một kho từ vựng phong phú, nhiều biện pháp tu từ như so sánh, tượng
trưng, ẩn dụ [13, tr.12]. Cùng với các phương tiện và biện pháp tu từ khác, so
sánh tu từ là một biện pháp nghệ thuật được Nguyễn Tuân vận dụng khi xây
dựng hình tượng và chính biện pháp này đã làm cho phong cách của nhà văn
có sự khác biệt so với tác giả Andregide (Nhà văn Pháp).
- Bài So sánh đặc sắc trong Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân
của TS. Nguyễn Thanh Tú in trong Tạp chí Ngôn ngữ (số 6 năm 2004) viết:
Nguyễn Tuân được coi là nhà văn của so sánh. Nhiều người đã kì khu tìm và
phân tích những so sánh tuyệt vời của nhà văn. ở đây, chúng tôi chỉ xin nêu
ra những đặc sắc nghệ thuật của so sánh trong đoạn trích Người lái đò sông
Đà. Theo thống kê của chúng tôi có 73 so sánh trên tổng số 179 câu văn.
Như vậy trung bình cứ hơn hai câu văn thì nhà văn dùng một so sánh. Đặc
một số dẫn chứng về phép so sánh tu từ mà tác giả cho là: Trước cách mạng,
lối chơi ngông và chủ nghĩa độc đáo của Nguyễn Tuân thường dẫn đến những lối
ví von tuy chính xác và mới lạ đấy nhưng nhiều khi thật oái oăm [7, tr.318].
Ông thử roi vào mặt trống, rồi uốn hai đầu xuống, thân roi ưỡn ngửa
mãi lên như lúc đàn bà tránh một cái hôn bạo (Đới roi).
9
Khoá luận tốt nghiệp
Hoàng Thị Thuý - K29C Ngữ văn
Và khinh bạc:
Thuỷ tinh bóng đèn điện không có lửa, dưới ánh nắng bóng nhẫy như
đồ tế nhuyễn mạ và vô liêm xỉ như những cuộc đời không có chân giá, mỗi tí
hào nhoáng phủ lên trên chỉ toàn là của đi mượn (Chiếc lư đồng mắt cua).
Và bi quan:
Đề lên màu tang bầu không khí thu muộn, chất bóng cốc pha lê nó bật
hẳn lên nhưng nét cười của một người công binh lúc tắt nghỉ (Lại đi nữa).
Như vậy, qua các tác phẩm văn xuôi của Nguyễn Tuân viết trước cách
mạng, GS. Nguyễn Đăng Mạnh đã khẳng định biện pháp so sánh tu từ được
Nguyễn Tuân sử dụng dày đặc và độc đáo. Chính biện pháp này đã tạo nên sức
hấp dẫn trong những thiên tuỳ bút và truyện ngắn của ông.
- Cuốn giáo trình Phong cách học tiếng Việt do PGS.TS. Đinh Trọng
Lạc (chủ biên) đã dành hẳn một chuyên mục viết về biện pháp so sánh tu từ
với những dẫn chứng rất cụ thể và sinh động. Bên cạnh đó, tác giả cũng
nghiên cứu biện pháp hoán dụ tu từ: Trong ngôn ngữ nghệ thuật, hoán dụ là
phương thức sáng tạo nghệ thuật [5, tr.203]. Đồng thời tác giả đặc biệt chú ý
tới biện pháp này trong văn xuôi Nguyễn Tuân: Trong văn xuôi nghệ thuật,
nghiệp của của sinh viên Nguyễn Thế Lượng (K27E) Tìm hiểu hiệu quả nghệ
thuật của biện pháp so sánh tu từ trong văn xuôi Nguyễn Tuân. Nghiên cứu
chuyên sâu về biện pháp hoán dụ, cho đến nay chưa có đề tài nào trùng tên với
đề tài khoá luận của chúng tôi.
Trên cơ sở những gợi ý của các tác giả đi trước, chúng tôi lựa chọn đề
tài Tìm hiểu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp hoán dụ tu từ trong văn
xuôi Nguyễn Tuân với hy vọng sẽ đưa ra được kết quả thống kê, phân loại,
nhận xét bước đầu về mức độ sử dụng và hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu
từ hoán dụ trong văn xuôi Nguyễn Tuân một cách có hệ thống.
3. Mục đích nghiên cứu
Đi sâu nghiên cứu đề tài: Tìm hiểu hiệu quả nghệ thuật của biện
pháp hoán dụ tu từ trong văn xuôi Nguyễn Tuân, chúng tôi nhằm những mục
đích sau:
- Khẳng định, cụ thể hoá một vấn đề lý thuyết thuộc phạm vi Phong
cách học. Đó là vấn đề về biện pháp tu từ hoán dụ và việc sử dụng nó trong
các tác phẩm văn xuôi.
11
Khoá luận tốt nghiệp
Hoàng Thị Thuý - K29C Ngữ văn
- Khảo sát, thống kê, phân loại góp phần khẳng định giá trị của biện
pháp hoán dụ tu từ trong văn xuôi Nguyễn Tuân, từ đó khẳng định tài năng và
phong cách tài hoa độc đáo của nhà văn.
- Chuẩn bị những tư liệu cần thiết cho việc học tập hiện nay cũng như
cho việc giảng dạy văn học sau này của bản thân.
1. Cơ sở lí luận
1.1. Biện pháp tu từ hoán dụ
Biện pháp tu từ, định nghĩa một cách khái quát nhất, đó là những cách
phối hợp sử dụng trong hoạt động lời nói các phương tiện ngôn ngữ để tạo ra
hiệu quả tu từ do sự tác động qua lại của các yếu tố trong một ngữ cảnh riêng.
Khi nói tới các biện pháp tu từ trong tác phẩm văn chương chính là chúng ta
nói tới hiệu quả biểu đạt của các biện pháp ấy đối với nội dung tư tưởng của
tác phẩm. Hoán dụ là một biện pháp tu từ độc đáo, có giá trị tạo hình và gợi
cảm cao.
PGS.TS Đinh Trọng Lạc trong cuốn Phong cách học tiếng Việt định
nghĩa như sau: Hoán dụ là phương thức chuyển nghĩa bằng cách dùng một
đặc điểm hay một nét tiêu biểu nào đó của một đối tượng để gọi tên chính đối
tượng đó [5, tr.203].
1.2. Cơ chế tạo thành biện pháp tu từ hoán dụ
Thông thường, mô hình cấu tạo chung của một biện pháp tu từ bất kỳ
(so sánh, ẩn dụ, nhân hoá, hoán dụ, tượng trưng) gồm có:
A. Sự vật vốn có
B. Sự vật được liên tưởng
Tuỳ theo từng biện pháp tu từ cụ thể mà xuất hiện thêm một số từ ngữ
đặc trưng.
Xét cụ thể với biện pháp hoán dụ tu từ, ta thấy mô hình chung chỉ xuất
hiện một vế là vế B, nhờ sự liên tưởng mà người đọc tìm ra vế A.
Cơ sở của sự liên tưởng để tìm ra vế A chính là dựa trên mối liên hệ
tương cận giữa các sự vật. Quan hệ tương cận ấy có thể là quan hệ gần gũi, đi
đôi với nhau trong thực tế khách quan của hai đối tượng.
13
Khoá luận tốt nghiệp
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Hoµng ThÞ Thuý - K29C Ng÷ v¨n
15
Khoá luận tốt nghiệp
Hoàng Thị Thuý - K29C Ngữ văn
3. Phân tích kết quả thống kê
Căn cứ vào kết quả thống kê được, chúng tôi tiến hành phân tích hiệu
quả của biện pháp hoán dụ tu từ trong văn xuôi Nguyễn Tuân theo các dạng
thể hiện sau:
3.1. Hoán dụ được xây dựng trên cơ sở mối quan hệ giữa vật chứa và
vật bị chứa
Có thể nói đây là dạng thể hiện hoán dụ được nhà văn sử dụng phổ biến
và đạt hiệu quả tu từ cao. ở dạng này, chúng tôi thống kê được 74/387 phiếu
chiếm 19,1%. Đây chính là dạng thể hiện chiếm tỉ lệ cao trong phép hoán dụ
của Nguyễn Tuân. Dạng này được xác lập trên cơ sở mối quan hệ giữa vật
chứa và vật bị chứa, tức nhà văn không trực tiếp gọi tên của đối tượng mà
dùng tên gọi của vật chứa đối tượng ấy nhằm hướng tới một ý nghĩa khái quát
cao hơn, rộng hơn.
Ví dụ 1: Trong cái yên lặng của một mái nhà ngủ bị chìm hẳn vào cái
đêm của tỉnh xép, tôi nhìn mấy khoảng giữa có những cánh màn the cũ, màn
rủ buông mà lòng thấy se co hẳn lại.
(Chiếc Va-ly mới - tr.261)
ở câu văn trên, biện pháp hoán dụ được nhà văn sử dụng rất tinh tế.
ý nghĩa khái quát cao, đây là những danh từ chỉ vật chứa để nói những người
dân cùng quần tụ trong một khu vực địa lý lâu đời và có quan hệ mật thiết với
nhau. Sử dụng cách nói hoán du này, Nguyễn Tuân muốn nhấn mạnh đến số
đông. Thực dân Pháp không chỉ đàn áp, bóc lột một người, một cá thể nào mà
chúng gây đau thương tang tóc cho hết thảy mọi người dân sống trong buôn
làng. Qua đó, chúng ta thấy được tội ác của giặc Pháp đồng thời cũng cảm
nhận được tâm trạng dồn nén bồi hồi, xúc động của nhà văn khi nhớ về lịch
sử. Để rồi ở những dòng cuối cùng của bài ký, Nguyễn Tuân thể hiện niềm tin
của mình vào hiện tại và tương lai Tây Bắc khi có Đảng dẫn đường: Đời sống
Tây Bắc ngày nay là một tấm lòng tin tưởng không bờ bến, tin mình, tin người,
mấy chục dân tộc miền cao và đồng bằng tin cậy lẫn nhau và nhất là tin chắc
vào cái chế độ đẹp sáng do tay mình đắp cao mãi lên trên chỗ cao nguyên
tiềm tàng sức sống này [13, tr.612].
Ví dụ 3: Lào Cai có những kinh nghiệm xương máu mồ hôi về làm
đường quốc lộ, đường liên tỉnh liên huyện; ở đây cũng là nơi đi đầu trong vấn
17
Khoá luận tốt nghiệp
Hoàng Thị Thuý - K29C Ngữ văn
đề đúc kết kinh nghiệm tiễu phỉ; ở đây cũng là nơi đi đầu trong việc đúc chữ
cho dân tộc Mèo.
(Tây Bắc và Lào Cai - tr.43)
Sau cách mạng, Nguyễn Tuân hăng say đi thực tế trên khắp mọi nẻo
đường của Tổ quốc, nhưng vùng đất nhà văn gợi thương gợi nhớ hơn cả
chính là Lào Cai. Nói Lào Cai có những kinh nghiệm xương máu mồ hôi về
làm đường quốc lộ, đường liên tỉnh liên huyện chính là nhà văn đang dùng
trong ý nghĩ, sự lọc lõi trong quan sát. Lao động nghệ thuật gian khổ đã giúp
nhà văn thành công trên từng trang văn, qua từng con chữ [10, tr.51]. ở dạng
hoán dụ này, chúng tôi chia nhỏ thành các tiểu loại sau.
3.2.1. Hoán dụ dùng hình ảnh, sự vật đặc trưng để chỉ chủ thể
Ví dụ 1: Tôi đã hèn nhát đến nỗi không có can đảm nhận một câu hỏi
thăm của một đào nương, một buổi sớm chủ nhật, trước cửa Gôđa, vào một
cái giờ mà phố Tràng Tiền ngựa xe như nước, áo quần như nêm, mỗi con
người lượn qua đây là có cái vẻ bề ngoài của một trang giai nhân tài tử.
(Chiếc lư đồng mắt cua - tr.217)
Trong câu văn trên, ta thấy cụm từ ngựa xe như nước, áo quần như
nêm vốn là một câu thơ dùng hình ảnh, dấu hiệu đặc trưng để chỉ vật có dấu
hiệu là khoảng thời gian buổi sáng, khi bắt đầu giờ làm việc của một ngày
mới. Hình ảnh sự vật này được Nguyễn Tuân trích từ hai câu thơ trong
Truyện Kiều của Nguyễn Du:
Dập dìu tài tử giai nhân
Ngựa xe như nước, áo quần như nêm
ở đây, Nguyễn Du sử dụng biện pháp nghệ thuật hoán dụ so sánh. Nhà
thơ so sánh ngựa xe là những sự vật cụ thể với nước vốn là chất lỏng trừu
tượng. Như ta đã biết, trước đây, phương tiện đi lại của người dân chủ yếu là
xe ngựa, các bậc tài tử giai nhân thì thường dùng xe có bốn ngựa kéo. Hình
ảnh ngựa xe như nước chứng tỏ người qua lại rất đông đúc, không ngớt,
không dừng tựa như dòng nước chảy xiết. Vế thứ hai áo quần như nêm thì ta
thấy áo quần là đặc trưng để chỉ con người, đặc biệt trong câu thơ, cụm từ áo
quần đã có sự chuyển nghĩa chỉ các bậc giai nhân tài tử đi lại nhộn nhịp, dập
dìu trên đường phố. Có thể nói, với cách miêu tả như trên, Nguyễn Du đã giúp
19
Hoàng Thị Thuý - K29C Ngữ văn
20
Khoá luận tốt nghiệp
Hoàng Thị Thuý - K29C Ngữ văn
nhằm duy trì sự sống cho cây. Và đây không phải nhựa của một cây, hai cây,
mười cây... mà là của cây rừng chứng tỏ số lượng rất nhiều. Vậy mà trong
liên tưởng của nhà văn Nguyễn Tuân, nhựa cây rừng, tới một lúc nào, đã phải
xin thua không dám chảy thi với mồ hôi những người đang quần, đang cuốn
lên ở khắp các tuyến đường. Điều này có nghĩa mồ hôi của người lao động
đổ ra còn lớn hơn rất nhiều lần so với nhựa cây rừng.
Như vậy, trong một đoạn văn ngắn, sự kết hợp sáng tạo của biện pháp
hoán dụ so sánh và nói quá đã giúp chúng ta hình dung ra phần nào công việc
nặng nhọc của những người công nhân làm công việc mở đường và thêm yêu
quý, biết ơn sự hy sinh thầm lặng của họ.
3.2.2. Hoán dụ dùng màu sắc để chỉ chủ thể
Ví dụ: Bỏ lại sau mình cái màu nâu của khu xuôi, bây giờ chúng ta lại
hả hê với những màu lam thâm thuý đon đả của Việt Bắc.
(Đường vui - tr.386)
Thông thường, Nguyễn Tuân không thích nói cái gì hời hợt, đơn giản
mà ông hay ví von, hàm ẩn để làm cho sự vật được hiện lên sinh động, bất
ngờ. Nói về khu vực đồng bằng, nhà văn đã phát hiện ra dấu hiệu nổi bật nhất
của nó, ấy là màu nâu. Màu nâu có thể khiến chúng ta liên tưởng đến màu
của đồng ruộng, chúng ta cũng dễ nghĩ đến màu áo của người nông dân quanh
năm chân lấm tay bùn. Dùng hoán dụ màu nâu để chỉ khu xuôi, Nguyễn
Tuân muốn nhấn mạnh vào nét phẩm chất giản dị, chân thành mà cũng rất
đậm đà, đằm thắm của người dân vùng đồng bằng.
Nguyễn Tuân còn rất xúc động tự hào khi viết về tuổi trẻ tài cao, trí lớn của
những con người đang lao động xây dựng đất nước. Trong chuyến đi thực tế
Tây Bắc bằng đường mây, Nguyễn Tuân đã có dịp ca ngợi những người
công nhân làm việc trong buồng lái qua cách nói hoán dụ dùng y phục để chỉ
chủ thể tinh tế và sáng tạo. Ông dùng y phục áo xanh chẽn tay quần xanh
chẽn hông (dấu hiệu y phục của những người công nhân hàng không) để chỉ
những người công nhân trong tổ lái. Nếu như trước kia, phương tiện đi lại chủ
yếu của chúng ta là những phương tiện hết sức thô sơ như xe ngựa, xe bò, xe
xích lô, xe đạp... thì giờ đây, bằng sự sáng tạo trong lao động, chúng ta đã có
những chiếc máy bay đầu tiên. Và chủ nhân của nó không ai khác chính là
22
Hoàng Thị Thuý - K29C Ngữ văn
Khoá luận tốt nghiệp
những người lao động trẻ tuổi Việt Nam, những người mà Nguyễn Tuân miêu
tả mặc áo xanh chẽn tay quần xanh chẽn hông đầy thân thương, trìu mến.
Việc sử dụng biện pháp hoán dụ như trên giúp chúng ta có thêm một cách
diễn đạt mới khi nói về những người công nhân lái máy bay, vừa gợi ra dáng
vẻ nhanh nhẹn, khéo léo của họ. ẩn dấu đâu đây niềm tự hào của nhà văn
trước sự phát triển đi lên của đất nước.
Ví dụ 2: Sau những cây rơm và đống rạ, tôi đã nhìn thấy thấp thoáng
nhiều bóng người mặc áo nâu.
(Đi mở đường - tr.656)
Nguyễn Tuân đã sử dụng biện pháp hoán dụ tu từ kép. Ông lấy bóng
người vốn là một bộ phận của con người để chỉ con người. Mặc áo nâu là
dấu hiệu y phục để chỉ vật có dấu hiệu là những người nông dân lao động. Cả
bằng cái tình già này, tôi thấy tươi sáng hẳn lên và còn dáng vẻ hơn là những
cặp môi son trẻ tô son hình quả tim.
(Chiếc lư đồng mắt cua - tr.196)
Ta thấy vế B, bộ phận trên cơ thể con người, là hình ảnh cặp môi. Khi
đọc toàn bộ tác phẩm, chúng ta dễ dàng nhận ra đối tượng mà nhà văn muốn
nói tới chính là vợ chồng ông bà Thông Phu, bạn của nhà văn. Hai ông bà
Thông Phu đều bị nghiện nặng, điều này được thể hiện rõ qua hình ảnh cặp
môi tái nhạt vì hút thuốc phiện lâu ngày. Tuy vậy họ sống với nhau rất tình
nghĩa. Từ đó tác giả đem so sánh với những cặp môi son trẻ tô son hình quả
tim. Đây là cụm từ dùng để chỉ tình yêu mặn nồng của những người trẻ tuổi.
Tác phẩm Chiếc lư đồng mắt cua được viết trước cách mạng (khoảng những
năm 1930-1935), đây cũng là thời gian xã hội Việt Nam đang chạy theo trào
lưu Âu hoá của phương Tây du nhập vào. Trong các tác phẩm của Vũ Trọng
Phụng, xã hội đó được nhà văn miêu tả một cách trực tiếp bằng những từ ngữ
chó đểu, lố lăng, rởm đời. Còn với Nguyễn Tuân, ông không dùng
những từ ngữ quen thuộc vốn có mà tác giả sử dụng lối nói hoán dụ đầy hình
ảnh và có giá trị gợi cảm cao. Lấy hình ảnh cặp môi để chỉ con người là một
cách liên tưởng sáng tạo của nhà văn Nguyễn Tuân. Sáng tạo hơn nữa là trong
câu văn của ông, các từ chỉ bộ phận bao giờ cũng dùng kèm theo cụm từ miêu
tả: môi tái nhạt, cặp môi son trẻ tô son hình quả tim. Thông qua những từ,
24
Khoá luận tốt nghiệp
Hoàng Thị Thuý - K29C Ngữ văn
cụm từ miêu tả này mà đặc điểm, tính chất của đối tượng được hiện lên rõ
ràng hơn cả.