LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Dạy đọc - hiểu văn bản
nghị luận chính trị - xã hội hiện đại ở nhà trường trung học phổ thông”,
tác giả khóa luận đã thường xuyên nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện thuận
lợi và chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, đặc biệt là
các thầy cô giáo trong tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn và TS. Bùi Minh
Đức - người hướng dẫn trực tiếp.
Tác giả xin được bày tỏ sự biết ơn và gửi lời cảm ơn trân trọng nhất tới
các thầy cô!
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2010
Tác giả khóa luận
Lê Thị Tuyết
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả
nghiên cứu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được công bố trong bất
cứ công trình nào.
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2010
Tác giả khóa luận
Lê Thị Tuyết
2
Định hướng trả lời
NXB:
Nhà xuất bản
THPT:
Trung học phổ thông
THCS:
Trung học cơ sở
SGK:
Sách giáo khoa
SGV:
Sách giáo viên
3
MỤC LỤC
Trang
Mở đầu ...................................................................................................... 6
1. Lí do chọn đề tài ..................................................................................... 6
2.2.2. Đọc văn bản nghị luận ............................................................ 43
2.2.3. Đọc phân tích, cắt nghĩa, đánh giá hệ thống luận điểm,
nghệ thuật lập luận và ngôn từ, ngôn phong của bài văn nghị luận ........... 45
2.2.4. Đọc diễn cảm, đọc sáng tạo văn bản nghị luận ........................ 48
2.3. Quy trình dạy đọc - hiểu văn bản nghị luận chính trị - xã hội
hiện đại..................................................................................................... 49
2.3.1. Đọc tiếp cận ............................................................................ 50
2.3.2. Đọc văn bản ............................................................................ 53
2.3.3. Đọc phân tích, cắt nghĩa theo bố cục văn bản ......................... 55
2.3.4. Đọc diễn cảm, đọc sáng tạo .................................................... 64
Chương 3: Thể nghiệm dạy đọc - hiểu văn bản nghị luận chính trị xã hội hiện đại ở nhà trường THPT ....................................................... 65
3.1. Mục đích thể nghiệm ......................................................................... 65
3.2. Nội dung thể nghiệm ......................................................................... 65
3.3. Giáo án thể nghiệm............................................................................ 65
Bài 1: Về luân lí xã hội ở nước ta ............................................................. 66
Phan Châu Trinh
Bài 2: Tuyên ngôn Độc lập ....................................................................... 75
Hồ Chí Minh
Kết luận................................................................................................... 85
5
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Văn bản nghị luận là một trong những kiểu văn bản quan trọng và
phổ biến trong đời sống xã hội nói chung và đời sống mỗi con người nói
riêng. Khi trình bày một cách trực tiếp, mạch lạc, sâu sắc một tư tưởng, một
quan điểm, một quan niệm nào đó trước cuộc sống người ta thường dùng nghị
luận làm phương thức biểu đạt chính. Chính vì vậy, nắm vững đặc trưng và
Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng trong đó có một nguyên nhân khá quan
trọng là do họ chưa nắm chắc đặc trưng của thể loại nghị luận, chưa xuất phát
từ những đặc trưng của văn bản nghị luận mà khai thác thấu đáo đặc sắc về
nội dung và hình thức của văn bản. Từ đó ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình
giáo dục trí tuệ, đạo đức, thẩm mĩ… cho HS, không đưa lại cho GV cũng như
HS một cái nhìn đầy đủ về văn học Việt Nam.
1.4. Từ thực tiễn trên, với mong muốn góp sức mình trong việc tìm ra
phương pháp dạy hiệu quả nhất đối với thể văn mới đưa vào chương trình là
văn nghị luận, đặc biệt là nghị luận chính trị - xã hội hiện đại, người làm khoá
luận quyết định chọn đề tài: “Dạy đọc - hiểu văn bản nghị luận chính trị - xã
hội hiện đại ở nhà trường trung học phổ thông”.
2. Lịch sử vấn đề
Vấn đề dạy học văn nghị luận đã được nhiều người quan tâm, có thể kể
đến một số tác giả sau:
Tác giả Trần Thanh Đạm trong cuốn Vấn đề giảng dạy văn học theo loại
thể đã đưa ra ý kiến về dạy văn nghị luận: “Từ trước tới nay chúng ta thường
dạy Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo, Tuyên ngôn Độc lập… như những tác
phẩm nghị luận. Đúng đây là những bài nghị luận mẫu mực, có sự chặt chẽ,
mạch lạc của các lí lẽ. Nhưng ngoài các lí lẽ, các “luận điểm, luận cứ, luận
7
chứng”, trong tất cả những bài đó còn có sự nồng nhiệt, thiết tha, mãnh liệt
của tình cảm chứa trong các hình ảnh, các nhịp điệu ngữ ngôn”. [2,26]
Trong bài viết Giảng văn nghị luận theo đặc trưng loại, thể, tác giả Đàm
Gia Cẩn đã đưa ra các đặc trưng của thể loại này, quan trọng hơn tác giả đã
chỉ ra những yêu cầu cần đảm bảo trong tiết dạy văn nghị luận. Đó là đảm bảo
yêu cầu giáo dục thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa
và phương pháp duy vật biện chứng cho HS; đảm bảo yêu cầu phát triển năng
hiện đại.
- Thiết kế giáo án thể nghiệm hai văn bản nghị luận chính trị - xã hội
hiện đại trong SGK Ngữ văn THPT:
+ Về luân lí xã hội ở nước ta (SGK Ngữ văn 11, tập 2).
+ Tuyên ngôn Độc lập (SGK Ngữ văn 12, tập 1).
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
- Văn bản nghị luận chính trị - xã hội hiện đại ở nhà trường THPT.
- Hoạt động dạy học văn bản nghị luận chính trị - xã hội hiện đại ở nhà
trường THPT.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phương pháp dạy học văn bản nghị luận chính trị - xã hội hiện đại
trong SGK Ngữ văn THPT.
- Cụ thể là các văn bản:
+ Về luân lí xã hội ở nước ta (Trích Đạo đức và luân lí Đông Tây) Phan Châu Trinh, SGK Ngữ văn 11, tập 2.
+ Tuyên ngôn Độc lập - Hồ Chí Minh, SGK Ngữ văn 12, tập 1.
- Tài liệu: Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở nghiên cứu, tìm hiểu vốn
tư liệu bằng tiếng Việt.
9
6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: phân tích, tổng hợp, so sánh, đối
chiếu…
- Phương pháp thể nghiệm.
7. Đóng góp của khoá luận
Khóa luận đóng góp một phần nhỏ vào việc hình thành các thao tác, các
bước đọc - hiểu trong giảng dạy các văn bản nghị luận chính trị - xã hội hiện
đại ở trường THPT qua một số văn bản cụ thể. Mặt khác, khoá luận cũng góp
Còn theo nhóm tác giả SGK Ngữ văn 10, tập 1: “Văn bản là sản phẩm
của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, gồm một hay nhiều câu, nhiều đoạn
và có những đặc điểm cơ bản sau đây:
- Mỗi văn bản tập trung thể hiện một chủ đề và triển khai chủ đề đó một
cách trọn vẹn.
- Các câu trong văn bản có sự liên kết chặt chẽ, đồng thời cả văn bản
được xây dựng theo một cấu trúc mạch lạc.
- Mỗi văn bản có dấu hiệu biểu hiện tính hoàn chỉnh về nội dung
(thường mở đầu bằng một nhan đề và kết thúc bằng hình thức thích hợp với
từng loại văn bản).
11
- Mỗi văn bản nhằm thực hiện một (hoặc một số) mục đích giao tiếp nhất
định”. [14,24]
Mặc dù trong quan niệm về văn bản của các tác giả có những điểm khác
nhau nhưng có sự thống nhất ở chỗ: Đa số các tác giả đều xem xét văn bản là
sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. Nó tồn tại ở hai dạng: nói
và viết. Mỗi văn bản là một tập hợp các kí hiệu ngôn ngữ (nói - viết) được tổ
chức thành một hệ thống chặt chẽ, hoàn chỉnh về mặt hình thức, trọn vẹn về
mặt nội dung thông báo.
1.2. Văn bản văn học
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, văn bản văn học là văn bản tác phẩm
văn học, một dạng của văn bản nghệ thuật nói chung, “là một chỉnh thể
nghĩa, một khối thống nhất có tổ chức của các thành tố hợp thành, một thông
báo mà tác giả (người phát) gửi tới người đọc, người xem (người nhận).
Nghĩa của văn bản văn học được xác lập bởi quan hệ của nó với thực tại
ngoài văn bản, với các văn bản khác, với từng cá nhân, với kí ức và các phẩm
chất khác nữa của người phát và người nhận thông báo. Văn bản văn học
thực hiện ba chức năng chính: truyền thông tin, chế biến thông tin mới và bảo
không đồng nhất, giữa hai loại văn bản này có điểm khác nhau:
Thứ nhất, về ngôn ngữ:
- Ngôn ngữ trong các văn bản nói chung thường mang tính khái niệm,
tính khoa học và tính chính xác. Vì thế ngôn ngữ đó thường mang tính đơn
nghĩa.
- Trong văn bản văn học, ngôn ngữ mang tính hàm xúc, đa nghĩa, tính
biểu tượng, tượng trưng, gợi cảm.
Thứ hai, về kết cấu:
- Trong văn bản thông thường kết cấu thường gồm ba phần: mở bài, thân
bài, kết luận.
13
- Văn bản văn học: kết cấu thường đa dạng, theo loại thể.
Thứ ba, về nội dung thông tin:
- Thông tin trong văn bản nói chung thường là thông tin khoa học.
- Thông tin trong văn bản văn học là thông tin thẩm mĩ, thông tin hàm
ngôn và hiển ngôn do cách thức tổ chức ngôn ngữ trong văn bản của tác giả
quy định và do thái độ của tác giả gửi trong văn bản văn học đó.
Thứ tư, về sự tác động:
- Văn bản thông thường thông qua những thông tin mà nó phản ánh đã
tác động vào lí trí, đem lại sự hiểu biết về các lĩnh vực của đời sống.
- Văn bản văn học: do mang đặc điểm đặc trưng tính thẩm mĩ nên nó tác
động vào ý thức và tình cảm của người tiếp nhận. Độc giả có thể vui, buồn
theo hình tượng thẩm mĩ trong tác phẩm và tìm được sự đồng cảm ở đó.
Thứ năm, về quá trình lĩnh hội:
- Văn bản thông thường với những nội dung thông báo tường minh sẽ
đem lại sự hiểu biết cho người đọc. Và quá trình lĩnh hội thông tin từ phía độc
giả là giống nhau.
biệt, dùng lí lẽ, phán đoán, chứng cứ để bàn luận về một vấn đề nào đó (chính
trị, xã hội, văn học nghệ thuật, triết học, đạo đức…). Vấn đề được nêu ra như
một câu hỏi cần giải đáp, làm sáng tỏ. Luận là bàn về đúng, sai, phải, trái,
khẳng định điều này, bác bỏ điều kia, để người ta nhận ra chân lí, đồng tình
với mình, chia sẻ quan điểm và niềm tin của mình”. [17,110]
Cũng cùng quan điểm như trên về văn bản nghị luận, các tác giả của
cuốn Một số vấn đề về văn nghị luận ở cấp hai (Tài liệu BDTX chu kì 1992 1996 cho GV văn cấp 2 phổ thông) trong một cách diễn đạt khác đã đưa ra
quan niệm của mình: “Văn nghị luận là một loại văn nhằm bàn bạc, thảo luận
với người khác về thực tại đời sống xã hội bao gồm những vấn đề về văn hóa,
triết học, đạo đức, lịch sử, chính trị, văn hóa nghệ thuật …. Nét nổi bật nhất
15
trong văn nghị luận là hệ thống lí lẽ và dẫn chứng đầy đủ, tiêu biểu để làm
sáng tỏ một vấn đề nào đó nhằm khêu gợi, thuyết phục người đọc, người
nghe hiểu rõ vấn đề, tin vào tính minh xác của sự lập luận và tán thành với
quan điểm, tư tưởng của người viết để người đọc có thể vận dụng chúng vào
cuộc sống xã hội và cá nhân”. [5,4]
Nhìn chung mỗi cách hiểu có những đặc điểm khác nhau song đều thâu
tóm một cách chung nhất khái niệm về văn nghị luận: văn nghị luận là một
thể loại văn học đặc biệt (không dùng hư cấu tưởng tượng) thể hiện tư tưởng,
quan điểm, thái độ của người viết về các vấn đề của đời sống văn hóa nhân
sinh (chính trị, đạo đức, văn hóa, văn học…). Những điều đó được trình bày
bằng một hệ thống lí lẽ, dẫn chứng tiêu biểu với những lập luận chặt chẽ, tích
cực và một thứ ngôn ngữ trong sáng, hùng hồn có màu sắc biểu cảm.
1.3.2. Đặc trưng của văn bản nghị luận
Văn bản nghị luận là một thể văn đặc biệt, khác các thể văn hư cấu (thơ,
truyện, kịch) ở chỗ: nếu trong thơ, tác giả dùng nhiều đến tưởng tượng và lấy
ngôn từ hàm xúc, tinh tế, giàu cảm xúc, giàu hình ảnh, giàu nhạc điệu để biểu
xâm):
“…Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo…”
Với bản Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh đã trịnh trọng tuyên bố trước
quốc dân đồng bào và thế giới về việc chấm dứt chế độ thực dân, phong kiến
ở nước ta:
“Vì những lẽ trên, chúng tôi, chính phủ lâm thời của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:
Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành
một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh
thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.
17
Hay như, trong văn bản Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn
nghệ của dân tộc bằng cách nhìn, cách nghĩ sâu rộng, mới mẻ và nhệt tình của
một người gắn bó hết mình với đất nước, với nhân dân, Phạm Văn Đồng đã
làm sáng tỏ mối quan hệ khăng khít giữa thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu với
hoàn cảnh của tổ quốc lúc bấy giờ và với thời điểm hiện nay. Đồng thời, tác
giả hết lòng ca ngợi Nguyễn Đình Chiểu, một người trọn đời dùng cây bút
làm vũ khí chiến đấu cho dân, cho nước, một ngôi sao sáng trong nền văn
nghệ của dân tộc Việt Nam.
Như vậy, ở nước ta văn bản nghị luận là một thể loại văn học giàu truyền
thống. Phạm vi đề tài của nó phong phú, đa dạng: từ đề tài về chiến tranh, hòa
bình, chủ quyền độc lập của quốc gia đến việc bảo tồn, giữ gìn và phát huy
truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc; từ vai trò, vị trí, ý nghĩa đến đặc trưng
nghệ thuật của văn chương… Dù nghị bàn về vấn đề gì thì trong văn bản nghị
luận quan điểm, tư tưởng, thái độ của tác giả cũng được bày tỏ một cách trực
tiếp.
vấn đề và kĩ năng tư duy logic, mạch lạc của người đọc.
Từ những điều nói trên có thể khẳng định luận điểm là điểm tựa lớn nhất
của toàn bộ bài viết. Nó giống như chiếc đinh để người ta treo móc toàn bộ
chiếc áo là bài văn nghị luận trên đó. Vì vậy, một bài văn nghị luận không có
luận điểm giống như một cơ thể sống không có linh hồn vậy. Nhưng bài văn
nghị luận có luận điểm chưa phải là yếu tố quyết định bài văn đó hay mà quan
trọng hơn là luận điểm bài văn ấy có độc đáo, sâu sắc, mới mẻ hay không?
Nếu chỉ dừng lại ở chỗ có luận điểm mà luận điểm đó đã cũ, là những cái hiển
nhiên, ai cũng biết thì bài văn đó rất dễ rơi vào nhàm chán, đơn điệu. Từ đó
đặt ra yêu cầu luận điểm trong bài văn nghị luận phải là ý hay. Ý hay là ý
đúng, ý mới, ý riêng, tập trung, nổi bật, có cơ sở đạo lí và khoa học vững chắc
thuyết phục được người đọc, người nghe. Ví dụ, trong văn bản Nguyễn Đình
Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc, Phạm Văn Đồng đã đưa ra
19
một luận điểm hiển nhiên nhưng bất ngờ, mới mẻ đối với việc nhìn nhận và
đánh giá sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu: “Trên trời có những vì
sao có ánh sáng khác thường, nhưng con mắt của chúng ta phải chăm chú
nhìn mới thấy, và càng nhìn thì càng thấy sáng. Văn thơ của Nguyễn Đình
Chiểu cũng vậy”.
Để khẳng định hay phủ định các luận điểm, người ta dùng các luận cứ.
“Luận cứ là lí lẽ, dẫn chứng đưa ra làm cơ sở cho luận điểm. Luận cứ phải
chân thật, đúng đắn, tiêu biểu thì mới khiến cho luận điểm có sức thuyết
phục” 11,19. “Lí lẽ được hiểu là những đạo lí, lẽ phải đã được thừa nhận,
nêu ra là được đồng tình. Dẫn chứng là sự việc, số liệu, bằng chứng để xác
nhận cho luận điểm. Dẫn chứng phải xác thực, đáng tin cậy, không thể bác
bỏ” [12,28]. Ví dụ trong bài Tinh thần yêu nước của nhân dân ta, để làm sáng
tỏ luận điểm mở rộng thứ nhất (Lịch sử đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại
thể hiện lời nói.
Từ trước đến nay, những bài văn nghị luận nổi tiếng đều là những bài
văn hàm chứa trong đó những cách lập luận sắc sảo, mẫu mực. Tính logic,
chặt chẽ với những lí lẽ rõ ràng, những chứng cớ hiển hiện buộc người nghe
không thể không công nhận là đặc điểm của những văn bản nghị luận này.
Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi là một văn bản nghị luận có logic lập
luận chặt chẽ và có tính thuyết phục. Bài cáo chia làm bốn phần rõ rệt, mỗi
phần đều có trọng tâm, tất cả đều hướng tới tư tưởng chủ đạo, xuyên suốt là
tư tưởng nhân nghĩa gắn liền với yêu nước, độc lập dân tộc. Phần mở đầu:
Tác giả đã khẳng định tư tưởng nhân nghĩa và chân lí độc lập dân tộc của Đại
Việt; tiếp đó tác giả đã viết lên một bản cáo trạng đanh thép của giặc Minh; kể
lại diễn biến của cuộc chiến đấu từ mở đầu đến thắng lợi hoàn toàn, nêu cao
sức mạnh của tư tưởng nhân nghĩa và sức mạnh của lòng yêu nước kết tinh
21
thành sức mạnh của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn; và cuối cùng là lời tuyên bố
kháng chiến thắng lợi, rút ra bài học lịch sử.
Lập luận của bài cáo hết sức chặt chẽ, ngay trong từng phần cũng rất
logic, hợp lí làm tăng sức thuyết phục cho bài cáo. Ở phần hai, khi tố cáo tội
ác của giặc Minh, Nguyễn Trãi đã viết với một trình tự logic: Đầu tiên, tác giả
chỉ rõ âm mưu cướp nước ta của giặc Minh, vạch trần luận điệu bịp bợp “phù
Trần diệt Hồ” của chúng:
“Nhân họ Hồ chính sự phiền hà,
Để trong nước lòng dân oán hận
Quân cuồng Minh thừa cơ gây họa
Bọn gian tà bán nước cầu vinh”
Tiếp đó, tác giả đi sâu tố cáo chủ trương cai trị thâm độc, tố cáo mạnh
mẽ những hành động tội ác của giặc Minh: hủy hoại cuộc sống của con người
Việt Nam, đầu đội trời Việt Nam, tâm hồn lộng gió của thời đại lúc bấy giờ,
thông cảm sâu xa với nỗi lòng dân lúc bấy giờ, suốt đời tận tụy cho một lí
tưởng cao quý. Nguyễn Trãi là khí phách của dân tộc, là tinh hoa của dân tộc.
Sự nghiệp và sáng tác của Nguyễn Trãi là một bài ca yêu nước và tự hào dân
tộc. Nguyễn Trãi rất xứng đáng với lòng khâm phục và quý trọng của chúng
ta. Ca ngợi người anh hùng dân tộc, chúng ta rửa mối “hận nghìn năm” của
Nguyễn Trãi”.
(Phạm Văn Đồng, Nguyễn Trãi, người anh hùng dân tộc)
Tóm lại, cùng với luận điểm, lập luận là yếu tố giường cột dựng lên ngôi
nhà nghị luận, thiếu các chi tiết này bài nghị luận sẽ không thể đứng vững
được.
Ngôn ngữ và giọng điệu của bài văn nghị luận
Để tăng tính thuyết phục, lôi cuốn của bài văn nghị luận, người viết
không chỉ sử dụng hệ thống lí lẽ và lập luận chặt chẽ, hùng hồn mà còn phụ
thuộc nhiều vào yếu tố ngôn ngữ và giọng điệu của bài văn nghị luận.
23
Mục tiêu thứ nhất của bài văn nghị luận là nhằm thuyết phục người nghe,
người đọc tin và ủng hộ, hưởng ứng và hành động theo lời kêu gọi của tác giả.
Để thuyết phục người đọc, người viết phải viết lên sự thật, bởi bản thân sự
thật có sức thuyết phục mạnh hơn tất cả. Do đó, trước hết ngôn từ trong văn
bản nghị luận phải chính xác, chính xác với bản chất của đối tượng và chính
xác trong thái độ đối với đối tượng đó. Chính xác đến từng cung bậc và sắc
thái.
Do đặc điểm và tính chất của nó, văn nghị luận ít dùng loại câu mô tả,
trần thuật kể lể sự việc mà dùng loại câu khẳng định hoặc phủ định với nội
dung hầu hết là các phán đoán, nhận xét, đánh giá chắc chắn, sâu sắc. Do nhu
cầu lập luận, văn nghị luận thường phải dùng đến hệ thống từ lập luận, ví dụ
chăng? Hay đang thời đổ nát chưa thể ra phụng sự vương hầu chăng?”.
Để thể hiện thái độ của tác giả trước vấn đề nghị luận cũng như tăng tính
thuyết phục của vấn đề, văn bản nghị luận phải có giọng điệu riêng. Giọng
điệu trong văn nghị luận nhất là nghị luận chính trị - xã hội thường là giọng
hùng biện, sục sôi, mạnh mẽ, hừng hực khí thế, như sóng cuộn trào. Chẳng
hạn, giọng điệu của Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn) là hùng hồn, thống thiết;
của Về luân lí xã hội ở nước ta (Phan Châu Trinh) là khúc triết, hùng hồn, tự
tin; còn với Tuyên ngôn Độc lập thì đây là tác phẩm có giọng điệu đa thanh:
phần mở đầu khúc triết, âm vang, trang trọng; phần nội dung chính: giọng
hùng hồn, đanh thép khi nói về tội ác của thực dân Pháp đối với nhân dân ta,
giọng tự hào khi nói về quá trình nổi dậy giành chính quyền của nhân dân; lời
tuyên ngôn và tuyên bố cuối cùng có giọng trang trọng, hùng biện.
Tóm lại, văn bản nghị luận có những đặc điểm chủ yếu sau: Phát biểu
một cách trực tiếp tư tưởng, quan điểm, thái độ, tình cảm của người viết về
một vấn đề của đời sống; thuyết phục người đọc bằng hệ thống luận điểm,
luận cứ xác đáng, tin cậy và bằng cách lập luận hùng hồn; ngôn ngữ chính
25