Đinh, thị thanh bình thế giới hình tượng nghệ thuật trong tập điêu tàn của chế lan viên - Pdf 31

Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Trường đại học sư phạm hà nội 2
Khoa Ngữ văn
---000---

ĐINH THị THANH BìNH

THế GIớI HìNH Tượng nghệ thuật
trong tập điêu tàn của
chế lan viên

Khóa luận tốt nghiệp đại học

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Hà NộI 2009

Đinh Thị Thanh Bình

-1-

Khoa Ngữ văn


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2



Trong quá trình thực hiện khoá luận, tôi đã nhận được sự hướng dẫn
nhiệt tình và chu đáo của Ths. Vũ Văn Ký - Giảng viên tổ văn học Việt Nam
cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn trường Đại học sư phạm
Hà Nội 2.
Tác giả khoá luận xin được bày tỏ lòng biết ơn và gửi lời cảm ơn trân
trọng nhất tới các thầy cô, đặc biệt là Ths. Vũ Văn Ký.
Do năng lực nghiên cứu có hạn, khoá luận chắc chắn không tránh
khỏi những thiếu sót. Tác giả khoá luận rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý
của thầy cô và các bạn đồng nghiệp.
Hà Nội, ngày 17 tháng 04 năm 2009
Tác giả khoá luận

Đinh Thị Thanh Bình

Đinh Thị Thanh Bình

-3-

Khoa Ngữ văn


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan:
Khóa luận Thế giới hình tượng nghệ thuật trong tập Điêu tàn của


2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2

3. Mục đích nghiên cứu

4

4. Nhiệm vụ nghiên cứu

5

5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

5

6. Phương pháp nghiên cứu

5

7. Đóng góp của khoá luận

5

8. Bố cục khóa luận

6

Nội dung


13

1.2.3. Thơ Chế Lan Viên sau 1975 và những năm cuối đời

14

Chương2: Quan niệm nghệ thuật và sự chi phối của quan niệm

17

nghệ thuật trong thơ Chế Lan Viên
2.1. Khái niệm quan niệm nghệ thuật

Đinh Thị Thanh Bình

17

-5-

Khoa Ngữ văn


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

2.2. Quan niệm nghệ thuật của Chế Lan Viên

18


30

3.1. Khái niệm hình tượng nghệ thuật

30

3.2. Thế giới hình tượng nghệ thuật trong Điêu tàn

33

3.2.1. Hình tượng vương quốc Chiêm Thành trong quá khứ

35

3.2.2. Hình tượng vương quốc Chiêm Thành trong hiện tại

38

3.2.2.1. Những tháp Chàm đổ nát: nước Chàm trong cõi chết

38

3.2.2.2. Hình tượng muôn dân Chiêm Thành: bóng ma, sọ dừa, xương 41
trắng
3.2.2.3. Hình tượng người Chiêm nữ

45

3.2.2.4. Hình tượng thiên nhiên

Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

mở đầu

1. Lý do chọn đề tài
Viết về Chế Lan Viên, Hoài Thanh đã nhận xét: con người này là
người của trời đất bốn phương, không thể lấy kích tấc thường mà hòng đo
được [5, 288]. Còn Nguyễn Văn Hạnh viết: anh luôn đi song hành với
cuộc sống, với thời đại, anh mải mê tìm tòi, anh muốn thử sức, muốn bộc lộ
mình ở tất cả giọng điệu, ở mọi cung bậc, sắc thái, (). Giọng cao là anh,
giọng trầm cũng là anh. Súc tích, cổ điển, truyền thống mà rất mực phóng
túng, hiện đại cũng đủ cỡ khó mà đoán trước được. () Anh là nhà thơ đầy
bản lĩnh, mở những đường mới cho thi ca hiện đại [3, 14].
Chế Lan Viên là một nhà thơ tài năng, nhà hoạt động văn hoá có vị trí
quan trọng trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Thơ Chế Lan Viên gần như
bao trùm lên cả thế kỷ XX trong cả chiều dài và bề sâu của nó. Ông gắn Đời
và Thơ mình với dân tộc và sự nghiệp cách mạng, đồng thời luôn thể hiện khát
khao sáng tạo của một bản lĩnh, một tâm hồn thi sĩ. Chế Lan Viên thuộc
trong số không nhiều những nhà thơ mà sự sáng tạo không chỉ làm giàu cho
hiện tại mà còn tạo lực thúc đẩy cho quá trình vận động văn học, có ý nghĩa
gieo giống cho mùa sau [1, 20].
Chế Lan Viên phát biểu những quan niệm về thơ, về nghề văn, về văn
nghệ sĩ có ý nghĩa thật sâu sắc. Ông đã có mặt trong lịch sử văn học như một
tính cách, một cá tính sáng tạo mạnh mẽ và độc đáo. Chế Lan Viên là một
nhà thơ không yên ổn, anh không yên ổn trong trăn trở sáng tác của mình. Và
cũng mang đến sự không yên ổn trong tình hình thơ chung [1, 684].

Đinh Thị Thanh Bình

Trên đây là nguyên nhân chính khiến chúng tôi lựa chọn đề tài khoá
luận: Thế giới hình tượng nghệ thuật trong tập Điêu tàn của Chế Lan Viên.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tìm hiểu Điêu tàn của Chế Lan Viên không phải là vấn đề hoàn toàn
mới mẻ. Đi vào khai thác tìm hiểu ở một số phương diện khác nhau, đã có
nhiều bài viết, công trình, ý kiến xung quanh tập thơ này.

Đinh Thị Thanh Bình

-8-

Khoa Ngữ văn


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Hoài Thanh - Hoài Chân trong bài Chế Lan Viên in trong Thi nhân Việt
Nam cho rằng : dù không phải người họ Chế nhưng Chế Lan Viên vẫn là một
nhà thơ Chiêm Thành. Các tác giả nhận xét: Quyển Điêu tàn đã đột ngột
xuất hiện ra giữa làng thơ Việt Nam như một niềm kinh dị. Nó dựng lên một
thế giới đầy sọ dừa, xương máu cùng yêu ma.
Lê Thiều Quang với Cảm tưởng của tôi khi đọc Chế Lan Viên in trên
Tao đàn, số 5, tháng 5, 1939 đánh giá tập Điêu tàn là công trình sáng tác của
một trí tưởng tượng mênh mang, không bờ bến. Điêu tàn mới lạ quá đến làm
ngạc nhiên và làm ngờ vực nhiều người nhờ trí tưởng tượng không thường của
tác giả.
Theo Hoàng Diệp, trong Điêu tàn có hai Chế Lan Viên, đọc Điêu tàn
cần hiểu theo hai thể cách. Có một Chế Lan Viên qua hình ảnh tháp Chàm chơ

những suy nghĩ sâu sắc về cái tôi trước cuộc đời. Nói nhiều đến tồn tại và chết
chóc, quá khứ, hiện tại, tuyệt vọng, mong ước, Chế Lan Viên không khỏi tự
đặt câu hỏi về chính bản thân, về sự tồn tại. Điêu tàn miêu tả cái tôi trữ tình
năng động, nhưng lại rơi vào bi kịch không có khả năng nhận thức lí giải cuộc
sống.
Trong Điêu tàn - niềm bi hận của Chế Lan Viên, đăng trên tạp chí Văn
học, số 11, 1998 Hồ Thế Hà cho rằng ở Điêu tàn từ quan niệm khách thể thẩm
mỹ mang tính tưởng tượng, hư cấu, siêu hình và chủ thể sáng tạo mang tính
cực đoan, thần bí, quái đản được chỉ đạo bởi tư duy tôn giáo, siêu thực, Chế
Lan Viên đã hình thành tư duy triết lí, suy tưởng.
Theo giáo sư Trần Đình Sử, Chế Lan Viên đi tìm cái đẹp không phải
trong cái chân, cái thiện mà tìm trong hư ảo với Điêu tàn. Điều này được
ông khẳng định trong: Đôi điều về mỹ học của nhà thơ Chế Lan Viên đăng
trên báo Văn nghệ số 26, năm 1999.
Nguyễn Xuân Nam trong lời giới thiệu tuyển tập Chế Lan Viên tập I
cho rằng nguyên nhân để Chế Lan Viên sáng tác Điêu tàn là do tác động của
những di tích Chàm, những chuyện dị thường về người Chàm. Đồng thời cũng
cho rằng Điêu tàn phần nào cũng có thể làm cho một số người biết suy nghĩ
nhớ lại thân phận đích thực của mình và bài học lịch sử.
Các tài liệu dẫn trên đã cho thấy nhiều tác giả, nhiều nhà nghiên cứu
đã tìm hiểu Điêu tàn ở những góc độ khác nhau. Điều đó tạo điều kiện thuận
lợi giúp người đọc tiếp cận tập thơ ở nhiều khía cạnh cả về nội dung và hình
thức.

Đinh Thị Thanh Bình

- 10 -

Khoa Ngữ văn


5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đinh Thị Thanh Bình

- 11 -

Khoa Ngữ văn


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Tập trung vào tập Điêu tàn rút từ Chế Lan Viên toàn tập - tập 2, Nxb
Văn học 2002.
Khi cần thiết, có sự mở rộng, liên hệ với các sáng tác của Chế Lan
Viên và các sáng tác của nhà thơ khác.
6. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp hệ thống
Phương pháp so sánh, đối chiếu
Phương pháp phân tích văn học
7. Đóng góp của khoá luận
Về mặt khoa học: khóa luận góp phần tìm hiểu, nghiên cứu tập Điêu tàn
ở khía cạnh thế giới hình tượng nghệ thuật, tìm hiểu sự chi phối của quan
niệm nghệ thuật đến thơ ca Chế Lan Viên, mà trực tiếp ở tập Điêu tàn.
Về mặt thực tiễn: khóa luận góp phần cung cấp những tài liệu cho bạn
đọc yêu thơ Chế Lan Viên, cho người trực tiếp giảng dạy, học tập tìm hiểu về
Chế Lan Viên và các sáng tác của ông, đặc biệt là tập Điêu tàn.
8. Bố cục khóa luận
Khóa luận chia thành 3 phần: mở đầu, nội dung chính, kết luận.

NộI DUNG
CHƯƠNG 1

CHế LAN VIÊN Và NHữNG CHặNG ĐƯờng thơ

1.1. Tác giả Chế Lan Viên
Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, sinh ngày 23/10/1920 trong
một gia đình viên chức nghèo ở Cam Lộ, Quảng Trị. Năm 1927 gia đình
chuyển vào An Nhơn, Bình Định.
Chế Lan Viên làm thơ từ lúc 12, 13 tuổi - thời kỳ đang sống và đi học ở
huyện lỵ An Nhơn. Ông có thơ, truyện ngắn đăng trên các báo Tiếng trẻ,
Khuyến học, Phong hoá từ những năm 1935, 1936. Chế Lan Viên cùng Hàn
Mặc Tử, Yến Lan, Quách Tấn lập nhóm thơ Bình Định nổi tiếng và tạo một
dấu ấn độc đáo cho Thơ mới đương thời. Khi tập Điêu tàn ra đời 1937, ông
mới 17 tuổi và đang là học sinh năm thứ 3 trường trung học Quy Nhơn, dư
luận đã đặc biệt chú ý đến nhà thơ trẻ tài năng và đặc sắc này.
Năm 1939, Chế Lan Viên ra học tại Hà Nội, rồi vào Sài Gòn làm báo,
ra Thanh Hoá, quay về Huế dạy học. Năm 1942, ông cho ra đời tập văn Vàng
sao và sau đó viết tập bút ký triết luận Gai Lửa.
Chế Lan Viên tham gia cách mạng tháng Tám tại Quy Nhơn, sau đó ra
Huế tham gia Đoàn xây dựng cùng với Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư, Đào Duy
Anh, , viết bài cho báo Quyết thắng của Việt Minh Trung Bộ.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ông hoạt động văn nghệ
và báo chí ở Liên khu 4 và chiến trường Bình Trị Thiên. Tháng 7/1949 Chế
Lan Viên được kết nạp vào Đảng. Những bài thơ Chế Lan Viên sáng tác trong
thời kỳ kháng chiến được tập hợp trong tập Gửi các anh (in 1955), thể hiện sự
chuyển biến quan trọng trong tư tưởng và nghệ thuật.

Đinh Thị Thanh Bình


Nhất.
Sau khi ông mất, những Di cảo thơ của ông được nhà văn Vũ Thị
Thường - vợ nhà thơ sưu tầm, tuyển chọn và xuất bản: Di cảo thơ I in 1992, Di
cảo thơ II in 1993 và được giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam năm 1994.
Tập Di cảo thơ III xuất bản 1996 và nhiều bài thơ để lại của Chế Lan Viên còn
tiếp tục được sưu tầm, tập hợp.

Đinh Thị Thanh Bình

- 15 -

Khoa Ngữ văn


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Ông được nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn hóa nghệ
thuật năm 1996.
Chế Lan Viên là một nhà thơ tài năng, một nhà văn hóa đã có đóng góp
to lớn cho nền thơ Việt Nam và văn hóa Việt Nam. Sống hết mình cùng thời
đại và luôn đứng ở đỉnh cao sáng tạo ông được đánh giá như một nhà thơ
của thế kỷ, một nhà văn hoá. Những định ngữ ấy thật cao quý và hoàn toàn
xứng đáng với đời văn Chế Lan Viên.
1.2. Những chặng đường thơ Chế Lan Viên
Tính đến 1996, Chế Lan Viên đã có 13 tập thơ được công bố với tổng số
1025 bài, trong đó 36 bài thuộc Điêu tàn.
Trước cách mạng tháng Tám, người đọc chỉ chính thức biết đến Điêu
tàn. Bước chuyển của thơ Chế Lan Viên sau cách mạng tháng Tám thể hiện

thực tại bằng cách ca ngợi nỗi đau buồn, cái chết và hư vô. Tập thơ là một
phản ứng tiêu cực trước hoàn cảnh sống tẻ nhạt, tầm thường, bất như ý. Chế
Lan Viên đã dựng dậy cả vương quốc Chiêm Thành, lấy những bức tranh rực
rỡ, huy hoàng thuở xưa mà đối lập với cảnh điêu tàn hiện tại. Nhưng tất cả chỉ
còn là phế tích, hư vô.
Điêu tàn đã mở ra một khả năng thông cảm thật độc đáo, dù không
phải người họ Chế nhưng Chế Lan Viên vẫn là một nhà thơ Chiêm Thành
như các tác giả của Thi nhân Việt Nam đã nhận xét. ở Điêu tàn đầy những dự
cảm hãi hùng, rợn ngợp của con người thấy mình cô độc trên con đường vô
tận. Đường về thu trước xa xa lắm - Mà kẻ đi về chỉ một tôi. Nó càng hoang
mang vì không hiểu nổi chính sự tồn tại của mình: Ai bảo giùm: Ta có, có Ta
không?. Tất cả các gương mặt Thơ mới đều bế tắc, nhưng so với các nhà Thơ
mới lớp đầu như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư thì Chế Lan Viên trong Điêu tàn là
nỗi buồn chán tuyệt vọng nhất. Với Điêu tàn, sự khủng hoảng cái tôi Thơ mới
bắt đầu.
Nhìn kĩ, cũng có thể thấy tâm hồn nhà thơ trẻ tuổi chưa hoàn toàn khép
kín trước vẻ đẹp của thiên nhiên, tạo vật. Khi đối lập cái buồn đau với cái tươi
vui, Chế Lan Viên vô tình để lộ niềm lưu luyến quay mặt chẳng quay lòng
trước những vẻ đẹp rực rỡ của buổi xuân về.
ở những bài cuối tập Điêu tàn, Chế Lan Viên hướng cảm hứng sang
triết luận, suy tưởng về cuộc đời bằng cảm xúc tôn giáo - một bước lạc xa hơn
vào cõi siêu hình. Tuy nhiên, từ góc độ sáng tạo nghệ thuật phải nói rằng Điêu
tàn đã phát lộ một hồn thơ mãnh liệt, chứa đựng một nội lực thi ca đáng khâm

Đinh Thị Thanh Bình

- 17 -

Khoa Ngữ văn


đời thơ Chế Lan Viên theo xu hướng thơ cách mạng.
Thời kỳ sau hoà bình lặp lại và xây dựng xã hội chủ nghĩa
ở miền Bắc:

Đinh Thị Thanh Bình

- 18 -

Khoa Ngữ văn


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Xuất bản năm 1960, ánh sáng và phù sa là tập thơ có vị trí quan trọng
trong hành trình đi tới cách mạng của Chế Lan Viên. Tập thơ là kết quả đẹp đẽ
của hàng chục năm Chế Lan Viên tự kiên trì cải tạo con người cũ, đau đớn
chật vật tự lột xác để có được cuộc trở về vĩ đại giữa lòng dân tộc.
Tập thơ gồm 69 bài, đề tài khá phong phú, có tình cảm với Đảng, kỷ
niệm thời kỳ kháng Pháp, có chủ đề quốc tế vô sản, có quan niệm về thơ,
nhưng xuyên suốt là nhu cầu tự biểu hiện, là suy tưởng của chính tác giả. Nhu
cầu này gắn với cảm hứng cắt nghĩa sự đổi đời, sự tỉnh ngộ của nhà thơ.
Trong ánh sáng và phù sa có một Chế Lan Viên luôn luôn tự ngoảnh
lại quá khứ, ngoảnh lại là để giã từ những lầm lạc nhưng cũng là để thoả mãn
nhu cầu liên hệ kiểm điểm bản thân của nhà thơ. Trạng thái xót xa, ân hận, sự
xám hối ngậm ngùi làm thành một nét riêng trong tập thơ này.
ánh sáng và phù sa diễn tả sâu sắc, thấm thía cuộc hành trình tìm lại
mình của lớp văn nghệ sĩ tiền chiến. Về mặt xã hội, đó là quá trình giải quyết
mối quan hệ riêng - chung theo yêu cầu cách mạng. Với ánh sáng và phù

đời: Hoa ngày thường - chim báo bão (1967), Những bài thơ đánh giặc
(1972), Đối thoại mới (1973), Ngày vĩ đại (1975). Mạch thơ này còn chảy tràn
tới cả mấy tập thơ xuất bản sau ngày đất nước toàn thắng: Hái theo mùa
(1977), Hoa trên đá (1984). Hoàn thành cuộc hành trình từ cái tôi cô đơn lạc
lõng trở về giữa lòng dân tộc ấm áp, yêu thương, Chế Lan Viên khao khát
được hiến dâng cho niềm tin mới. Biến cố lịch sử trọng đại đã tạo cơ hội cho
ông bộc lộ hết tiềm năng của ngòi bút mình. Bám sát các vấn đề thời sự, lấy
hiện thực chiến tranh làm chất liệu, Chế Lan Viên đặt cho thơ mình yêu cầu
trước hết là kịp thời, cập nhật. Ông phản ứng nhanh nhạy với các luận
điệu, luận thuyết của kẻ thù (Thời sự hè 72, Bình luận, Trận tuyến này cao
hơn cả màu da,, Làm Hamlet ở Việt Nam,).
Nguồn cảm hứng mãnh liệt của thơ Chế Lan Viên giai đoạn này là vẻ
đẹp Tổ quốc trên tầm cao thời đại và trong chiều sâu những trang sử hào hùng.
Đi liền với cảm hứng ngợi ca khẳng định Tổ quốc, dân tộc là nhu cầu phủ định
kẻ thù, nhận ra những luận điệu hoa mĩ, xảo quyệt của chúng, bóc trần bản
chất văn hoá tàn bạo của bọn đế quốc.
Mẫn cảm trong nghệ thuật và nhạy cảm trước đời sống, hồn thơ Chế
Lan Viên vừa hướng về hiện thực lớn lao, dữ dội của cuộc kháng chiến, vừa
biết tự cân bằng bằng sự cảm nhận những vẻ đẹp ngày thường. Không say
đắm, nồng nhiệt như Xuân Diệu, nhưng Chế Lan Viên cũng là một người tình
đằm thắm và sâu sắc. Tình yêu trong thơ ông trầm lắng, nhiều suy tư, nhưng

Đinh Thị Thanh Bình

- 20 -

Khoa Ngữ văn


Khóa luận tốt nghiệp

Đinh Thị Thanh Bình

- 21 -

Khoa Ngữ văn


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

tích và triết luận của ông có sức mạnh kích thích tính năng động cao ở người
đọc.
ở Hoa trên đá, và Ta gửi cho mình, chiếm số lượng lớn hơn là những
bài thơ bộc lộ tâm tình và triết luận về các vấn đề muôn thuở của cõi nhân
sinh. Chế Lan Viên nói nhiều đến kỷ niệm, đến những vui buồn thường nhật
của cuộc sống luôn có hai chiều may rủi. Ông trở lại An Nhơn, đến thăm
Vàm Cỏ Tây, xem Nhảy xạp vùng than, nghe Cô gái Sênh Tiền Cảm
xúc thơ ông lắng lại ở cõi riêng tư với mùi hương ẩn ức, trớ trêu, với tình
yêu cuối, buổi gặp đầu Suy tư, chiêm nghiệm làm cho giọng thơ ông
trầm xuống, phảng phất một nỗi quan hoài.
Di cảo thơ gồm một khối lượng đồ sộ các bài thơ mới ở dạng phác thảo
hoặc đã hoàn chỉnh nhưng chưa công bố khi Chế Lan Viên còn sống. Với 3
tập đã xuất bản, Chế Lan Viên tiếp tục là một nhà thơ phong phú, bí ẩn. Di
cảo thơ không phải hoàn toàn thuộc về giai đoạn sáng tác cuối đời mà trải từ
1936 trở đi. Trong số 558 bài thuộc Di cảo, có tới 309 bài được tác giả viết
vào hai năm 1987, 1988. Trong xu hướng dân chủ hóa ý thức xã hội và dân
chủ hóa nghệ thuật của nước ta thời kỳ đổi mới, nhiều phương diện tư tưởng
trước đây ẩn khuất được Chế Lan Viên công khai hóa. Đầu tiên là tư tưởng
về tính phức tạp của con người. Tiếp đó là nhu cầu được trung thành với mình.

Đinh Thị Thanh Bình

- 23 -

Khoa Ngữ văn


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2
Chương 2

quan niệm nghệ thuật và sự chi phối của
quan niệm nghệ thuật trong thơ chế lan viên

2.1. Khái niệm quan niệm nghệ thuật
Để tái hiện cuộc sống con người, tác giả phải hiểu cách họ giao tiếp với
nhau, với thế giới và với bản thân, cách họ sống, hành động và suy nghĩ, điều
họ quan tâm và không quan tâm trong cuộc đời. Tổng hợp tất cả điều đó tạo
thành cái mô hình nghệ thuật về thế giới và con người bao quát mà tác giả
xuất phát để khắc họa hình tượng của những con người và số phận cụ thể, tổ
chức quan hệ của các nhân vật, giải quyết xung đột, xây dựng kết cấu tác
phẩm. Quan niệm nghệ thuật thể hiện cái giới hạn tối đa trong cách hiểu thế
giới và con người của một hệ thống nghệ thuật, thể hiện khả năng, phạm vi,
mức độ chiếm lĩnh đời sống của nó.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: Quan niệm nghệ thuật là hình thức
bên trong của sự chiếm lĩnh đời sống, là hệ quy chiếu ẩn chìm trong hình thức
nghệ thuật, nó gắn với các phạm trù phương pháp sáng tác, phong cách nghệ
thuật, làm thành thước đo của hình thức văn học và là cơ sở của tư duy nghệ
thuật [2, 275].

trong văn học Việt Nam 1930-1945, ông quan niệm: yêu cầu nghệ thuật phải
gắn bó với đời sống, nhìn thẳng vào sự thật tàn nhẫn, phải nói lên những
khốn khổ, cùng quẫn của nhân dân, nhà văn phải có lương tâm, có nhân cách
xứng đáng với nghề nghiệp. Quan niệm nghệ thuật này đã trở thành hệ thống
nhất quán xuyên suốt trong các tác phẩm của Nam Cao.
Như vậy, có thể thấy quan niệm nghệ thuật của tác giả là vấn đề quan
trọng cần phải tìm hiểu trước khi đi sâu tìm hiểu tác phẩm của tác giả ấy. Bởi
nắm được quan niệm nghệ thuật chính là có được công cụ, có được điểm xuất
phát vững vàng để tìm hiểu nội dung tác phẩm.
2.2. Quan niệm nghệ thuật của Chế Lan Viên
Quan niệm nghệ thuật của Chế Lan Viên luôn vận động trong suốt quá
trình sáng tác - sự vận động nhưng thống nhất trong phong cách sáng tác của
Chế Lan Viên. Ông có nhiều phát biểu có tính chất tuyên ngôn nghệ thuật,
đưa ra nhiều định nghĩa về thơ, về nghề thơ. Có thể nói, quan niệm nghệ thuật
của Chế Lan Viên vừa độc đáo, vừa phong phú lại khá phức tạp.

Đinh Thị Thanh Bình

- 25 -

Khoa Ngữ văn



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status