Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật trong tiểu thuyết hồn bướm mơ tiên - Pdf 31

Trường đại học sư phạm Hà Nội 2

Khoá luận tốt nghiệp

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
**************

VŨ THỊ THẮM

NGHỆ THUẬT MIÊU TẢ TÂM LÍ
NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT
HỒN BƯỚM MƠ TIÊN

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học
THS. THÀNH ĐỨC BẢO THẮNG

HÀ NỘI – 2010

Vũ Thị Thắm

K32E - Văn


Trường đại học sư phạm Hà Nội 2

Khoá luận tốt nghiệp


Hà Nội, ngày 30 tháng 4 năm 2010
Tác giả khoá luận

Vũ Thị Thắm

Vũ Thị Thắm

K32E - Văn


Trường đại học sư phạm Hà Nội 2

Khoá luận tốt nghiệp

MỤC LỤC

Trang
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
1

Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài

1

2. Lịch sử vấn đề

2


1.2. Khái Hưng, vị trí của Khái Hưng trong Tự lực văn đoàn

8

1.2.1. Khái Hưng

8

1.2.2. Vị trí của Khái Hưng trong Tự lực văn đoàn

10

1.3. Vai trò của việc miêu tả tâm lí trong tiểu thuyết

13

1.4. Giới thiệu tiểu thuyết Hồn bướm mơ tiên

14

Chương 2. Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật của Khái Hưng
trong tiểu thuyết Hồn bướm mơ tiên
2.1. Nghệ thuật tạo dựng tình huống

16

2.1.1. Tình huống truyện khơi gợi cảm giác

16

3.1. Miêu tả tâm lí nhân vật qua ngoại hiện

34

3.2. Miêu tả tâm lí nhân vật qua ngôn ngữ đối thoại

34

3.3. Miêu tả tâm lí nhân vật qua độc thoại nội tâm

43

3.4. Miêu tả tâm lí nhân vật qua miêu tả thiên nhiên

47

Kết luận

52

Tài liệu tham khảo

53

Vũ Thị Thắm

K32E - Văn


Trường đại học sư phạm Hà Nội 2


K32E - Văn


Trường đại học sư phạm Hà Nội 2

Khoá luận tốt nghiệp

Qua miêu tả tâm lý chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy hình ảnh của
nhân vật và sức sống của nó hiện ra một cách chân thực, đem lại ấn tượng sâu
sắc cho người đọc. Chính vì vậy chúng tôi lựa chọn đề tài này.
Chọn đề tài này, chúng tôi thấy nó mang nhiều ý nghĩa bởi Khái Hưng
là một nhà văn lớn, việc nghiên cứu tác phẩm của ông là công việc không hề
nhỏ, nhẹ. Với đề tài này, chúng tôi có thể hiểu sâu hơn về tác phẩm, về tâm lý
của thế hệ thanh niên 1932 - 1945. Đồng thời thấy được tài năng của Khái
Hưng ở thể loại tiểu thuyết.
Với đề tài này, chúng tôi hi vọng rằng nó sẽ là tài liệu tham khảo hữu
ích. Vì Khái Hưng là một tác giả lớn nhưng chưa được giới thiệu trong trường
phổ thông. Và những sách, tài liệu viết về Khái Hưng không nhiều và không
được phát hành phổ biến như các tác giả khác.
Với những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Nghệ thuật miêu tả
tâm lí nhân vật của Khái Hưng trong tiểu thuyết Hồn bướm mơ tiên”.
2. Lịch sử vấn đề
Hơn 70 năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết về
tiểu thuyết của Khái Hưng. Đặc biệt là tiểu thuyết đầu tay Hồn bướm mơ tiên
đã tốn không ít giấy mực của giới nghiên cứu phê bình văn học. Các nhà
nghiên cứu đã khai thác trên phương diện nội dung và hình thức của tiểu
thuyết. Nhưng nét đặc sắc trong nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật của Khái
Hưng trong tiểu thuyết Hồn bướm mơ tiên lại chưa được khai quan tâm một
cách thoả đáng. Lịch sử của vấn đề này mới chỉ dừng lại ở giới hạn các bài

[18, 28].
Trong Từ điển văn học chủ yếu nói tới khía cạnh nội dung của tiểu
thuyết: "Một chuyện tình éo le đầy ảo mộng dưới mái chùa, một tình yêu lí
tưởng hoá, không cần sum họp mà "yêu nhau trong linh hồn trong lý tưởng"
[16, 346].
Những năm gần đây có nhiều công trình nghiên cứu về Khái Hưng, trong
đó có một số công trình lớn:
1. Vu Gia (1993), Khái Hưng nhà tiểu thuyết, NXB Văn Hóa Hà Nội
Trong công trình nghiên cứu của mình Vu Gia giới thiệu các tiểu thuyết
của Khái Hưng, trong đó có tiểu thuyết Hồn bướm mơ tiên. Tác giả có sự
đánh giá, phân tích về nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết Khái Hưng.
Nhưng chưa đề cập tới vấn đề "Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật".

Vũ Thị Thắm

K32E - Văn


Trường đại học sư phạm Hà Nội 2

Khoá luận tốt nghiệp

2. Ngô Văn Thư (1958), Bàn về tiểu thuyết Khái Hưng, NXB Thế giới
Trong công trình nghiên cứu của mình Khái Hưng có cái nhìn toàn diện
và hệ thống về tiểu thuyết Khái Hưng, trong đó ông có nhận xét về nghệ thuật
miêu tả tâm lí nhân vật của Khái Hưng trong Hồn bướm mơ tiên: "Ông miêu
tả tâm lí nhân vật qua việc thấu hiểu những việc xảy ra, những suy nghĩ, cử
chỉ, động tác, những đối thoại ở những thời điểm, hoàn cảnh khác nhau" [18,
86].
Như vậy từ khi tiểu thuyết Hồn bướm mơ tiên ra đời cho tới nay đã có

Phương pháp phân tích
Phương pháp so sánh
Phương pháp tổng hợp

6. Đóng góp của khóa luận
Khóa luận góp phần làm rõ nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật của Khái
Hưng trong tiểu thuyết Hồn bướm mơ tiên. Đồng thời là một tư liệu tham
khảo thiết thực trong trong việc tìm hiểu tiểu thuyết Khái Hưng.
7. Bố cục của khoá luận
Khoá luận gồm ba phần:
Phần mở đầu
Phần nội dung: Gồm ba chương
Chương 1: Những vấn đề chung
Chương 2: Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật của Khái Hưng trong
tiểu thuyết Hồn bướm mơ tiên.
Chương 3: Các thủ pháp nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật

Vũ Thị Thắm

K32E - Văn


Trường đại học sư phạm Hà Nội 2

Khoá luận tốt nghiệp

NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Vài nét về lịch sử và sự ra đời của Tự lực văn đoàn


Tự lực văn đoàn xuất hiện trong khoảng thời gian từ 1933 – 1942 là
tổ chức văn học đầu tiên của nước ta mang đầy đủ tính chất một hội đoàn
sáng tác theo nghĩa hiện đại. Hội đoàn ấy bắt đầu bằng một tờ báo, tờ
Phong hóa bộ mới và số đầu tiên phát hành vào tháng 8/9/1932 - đã lập
tức biến một tờ báo vốn đang ế ẩm thành một hiện tượng đột xuất trong
làng báo Hà Nội lúc ấy.
Tự lực văn đoàn do Nhất Linh sáng lập năm 1933 các cây bút chủ
lực của nhóm: Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo, bên cạnh đó còn có các
tên tuổi quen thuộc như Xuân Diệu, Thạch Lam, Tú Mỡ, Thế Lữ.
Tự lực văn đoàn là tổ chức có tôn chỉ gồm 10 điều mà chúng ta có
thể tổng hợp lại trong 4 điểm, thể hiện bốn phương diện nhận thức liên
quan khăng khít, tự thân chúng có ý nghĩa đối trọng ngay lập tức với hiện
tình sáng tác và thực trạng xã hội đương thời; chủ trương viết một lối văn
chương giản dị, tính cách An Nam; chủ trương theo học phương Tây; chỉ
ra tư tưởng khổng giáo đã lạc hậu lỗi thời, đề cao cá nhân tình yêu hôn
nhân tự do, chống lễ giáo phong kiến. Như vậy, từ tôn chỉ, mục đích cho
thấy Tự lực văn đoàn đã chủ trương đổi mới văn chương cả nội dung lẫn
hình thức.
Tự lực văn đoàn đã có những đóng góp không nhỏ vào việc cách tân
và xây dựng một nền văn học Việt Nam hiện đại. Nhóm đã tiếp thu ảnh
hưởng của phương Tây, phương Đông và cả truyền thống văn hóa để xây
dựng một diện mạo văn học mới. Với những quan niệm xã hội mới về mối
quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng cho đến việc đẩy nhanh các thể loại
văn học, làm cho chúng trong sáng và giàu có hơn.
Tự lực văn đoàn đã chấm dứt hoạt động kể từ sau năm 1940, tính
đến nay đã 68 năm. Một khoảng thời gian không phải là ngắn, kèm theo
biết bao sóng gió của một thời không chút bình yên về mọi mặt. Nhưng có

Vũ Thị Thắm

tin dùng và phần nào có tư tưởng ghét Tây. Khái Hưng đã sống trong môi
trường trưởng giả, nhưng ông cũng có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với tư
tưởng, ý thức nếp sống và văn hóa phương Tây. Khái Hưng cũng trải
nghiệm cuộc sống đại gia đình với biết bao hủ tục, luật lệ phiền toái, lạc
hậu, nhưng mặt khác trong hai cái đại gia đình Trần - Lê của ông cũng

Vũ Thị Thắm

K32E - Văn


Trường đại học sư phạm Hà Nội 2

Khoá luận tốt nghiệp

còn phảng phất dấu ấn đẹp của văn hóa cổ truyền khiến ông không thể dễ
dàng phủ nhận sạch trơn.
Khái Hưng là bút danh chính, ngoài ra ông còn có các bút danh:
Bán Than, Nhát dao cạo, Chàng lẩn thẩn, Tò mò và Nhị Linh thưở nhỏ
Khái Hưng học chữ Nho, 12 tuổi mới theo Tây học. Ông học trường
Albert Sarrsaut, từng nổi tiếng là giỏi Pháp văn và tinh nghịch.
Năm 1927, sau khi đậu tú tài Pháp phần một (Ban triết học) Khái
Hưng không tiếp tục học lên để ra làm quan như đa số bạn học cùng thời
mà bỏ đi buôn dầu tại Ninh Giang. Sau thất bại, ông bỏ Ninh Giang lên
Hà Nội dạy học tại trường tư thục Thăng Long, một trường nổi tiếng lúc
bấy giờ. Trong thời gian này Khái Hưng còn làm chủ bút và viết một số
bài đăng trên Phong Hóa của Phạm Hữu Ninh từ số 1 đến số 13. Ông cũng
nhiều bài nghị luận đăng trên văn học tạp chí.
Năm 1931 Khái Hưng lập gia đình và ông lên Phú Thọ buôn sơn.
Những cảnh và người vùng này được ông mô tả rất nhiều trong tác phẩm

Pháp ấy mà trong văn chương, khi có điều kiện Khái Hưng đã châm biếm
đã kích bọn Tây một cách trực tiếp và rất mạnh mẽ. Trong truyện ngắn
Quan công sứ, Khái Hưng cũng để cho các nhân vật chế giễu tên quan
công sứ là dốt nát, xấu xa.
Trong những năm 1933 - 1945, Khái Hưng là nhà văn được khá
nhiều thanh niên thành thị ưa chuộng. Họ coi ông là người hiểu biết tâm
hồn họ hơn cả. Độc giả của ông không phải là những người lao động mà
là thanh niên tri thức tiểu tư sản, trong đó phần đông là các cô gái. Lời
văn của Khái Hưng lúc đầu bay bướm sau bình dị hơn. Nói chung Khái
Hưng là nhà tiểu thuyết có tài, có công trong việc thúc đẩy ngôn ngữ phát
triển nói riêng và sự phát triển của văn học Việt Nam.
1.2.2. Vị trí của Khái Hưng trong Tự lực văn đoàn.
Tự lực văn đoàn là cái vườn ươm nuôi dưỡng mọi tài năng của văn
đoàn Tự lực. Tham gia Tự lực văn đoàn, Khái Hưng đã được Nhất Linh
và những người Tự lực góp ý khuyến khích, cổ vũ, ông đã chuyển biến
cùng các bạn trong văn đoàn và cũng chính nhà văn đã góp phần rất lớn
làm rạng rỡ cho văn đoàn, làm cho người ta yêu mến, tin vào văn đoàn
của ông. Trước khi gặp Nhất Linh, Khái Hưng đã có những tư tưởng và
quan niệm sống rất gần gũi với nhà sáng lập Tự lực văn đoàn. Khái Hưng

Vũ Thị Thắm

K32E - Văn


Trường đại học sư phạm Hà Nội 2

Khoá luận tốt nghiệp

với bằng tú tài Tây, lại sinh ra trong một gia đình quan lại cao cấp, có



Trường đại học sư phạm Hà Nội 2

Khoá luận tốt nghiệp

Theo Tú Mỡ, tác giả đã tham gia rất nhiều mục trên báo Phong hoá và
Ngày nay.Với vai trò nhà báo, Khái Hưng xuất hiện khá đều đặn trên
Phong hoá và Ngày nay. Viết báo tác giả xoay quanh mấy đề tài : đấu
tranh cũ, phê bình các báo, thời sự, chính trị…
Đóng góp của Khái Hưng cho Tự lực văn đoàn dồi dào và thành
công hơn cả là sáng tạo văn chương, với nhiều thể loại (truyện ngắn, kịch,
tiểu thuyết, truyện trẻ em…). Tác giả vào nghề không phải là sớm, 36 tuổi
mới có tiểu thuyết đầu tiên được xuất bản (Hồn bướm mơ tiên) nhưng
ông thành đạt rất nhanh, liền ngay năm sau đã cho ra đời cuốn tiểu thuyết
thứ hai (Nửa Chừng Xuân). Cả hai cuốn đã gây được tiếng vang lớn trên
văn đàn lúc đó. Là người có tài lại lao động nghệ thuật rất miệt mài, nên
chỉ trong khoảng 10 năm, Khái Hưng đã để lại một sự nghiệp văn chương
khá phong phú, đồ sộ, bao gồm 12 cuốn tiểu thuyết, 8 tập truyện ngắn, 4
tập kịch, 4 tác phẩm viết chung và một số tác phẩm chỉ đăng báo không
xuất bản thành sách. Về kịch, Khái Hưng có 4 tập: Tục Luỵ, Đồng bệnh,
Nhất tiểu, Khúc nghê thường. Về truyện ngắn có nhiều, vài trăm truyện.
Một số tập truyện ngắn tiêu biểu: Tiếng suối reo, Đội mũ lệch, Hạnh…
Đặc biệt về tiểu thuyết Hồn bướm mơ tiên và Nửa chừng xuân là hai
cuốn tiểu thuyết đầu tiên đã gây được tiếng vang lớn. Ở hai tác phẩm này,
bước đầu những quan niệm mới của nhóm Tự lực văn đoàn về xã hội và
nhân sinh đã in sâu vào thế giới nghệ thuật tiểu thuyết. Ngoài hai tiểu
thuyết trên thì Khái Hưng còn nhiều tiểu thuyết khác mà nội dung và nghệ
thuật cũng rất tiêu biểu (Gánh hàng hoa, Đời mưa gió, Tiêu sơn tráng sĩ,
Những ngày vui, Gia đình, Thoát ly, Đẹp, Băn khoăn).

việc tái hiện với quy mô lớn những bức tranh hiện thực trong đời sống
con người, của lịch sử, của đạo đức, của phong tục… nghĩa là tiểu thuyết
có khả năng phản ánh hiện thực một cách bao quát và sinh động theo
hướng tiếp cận trên cả bề rộng lẫn bề sâu.
Việc sáng tạo nhân vật thường được xem là công việc có tầm quan
trọng hàng đầu đối với người viết tiểu thuyết. Nói như G.N. Pospelov đây
là “phương tiện tất yếu quan trọng nhất để thực hiện tư tưởng (…) là
phương diện có tính thứ nhất trong hình thức của tác phẩm ấy, quy định
phần lớn vừa cốt truyện, vừa lựa chọn chi tiết, vừa phương tiện ngôn ngữ
và cả tiêu chí kết cấu nữa” [14, 18].

Vũ Thị Thắm

K32E - Văn


Trường đại học sư phạm Hà Nội 2

Khoá luận tốt nghiệp

Chức năng cơ bản của nhân vật văn học là khái quát số phận và tính
cách của con người. Nhân vật văn học là khái quát số phận và tính cách
của con người. Nhân vật văn học thể hiện quan niệm nghệ thuật lý tưởng
thẩm mĩ của nhà văn về con người. Với chức năng như vậy, để cho nhân
vật hiện lên chân thực sống động, có hồn, nhà văn phải thổi vào đó những
nét tâm lý, tính cách, hay nói cách khác việc đi sâu vào đời sống bên
trong của nhân vật, miêu tả tâm lý nhân vật, tác giả đã làm nên sức sống
nội tại cho nhân vật.
Hà Minh Đức từng nhận xét: “Ở Hồn bướm mơ tiên đã bộc lộ khả
năng miêu tả tâm lý của Khái Hưng đặc biệt đối với nhân vật nữ (…) biểu

Khoá luận tốt nghiệp

người đọc. Khái Hưng đã giấu kín điều bí mật ấy cho đến gần cuối tác
phẩm. Lan là con nhà dòng dõi được học hành thầy học là người mộ đạo
phật nên Lan cũng đem lòng yêu mến “cái đạo rất dịu dàng êm ái kia”.
Cha mẹ mất sớm, Lan phải ở với chú, chú gả ép Lan vào nơi giàu có mà
không hợp tính tình, Lan trốn vào chùa để tu, xa lánh cõi trần. Nguyên
nhân đẩy Lan vào cuộc đời tu hành là một nguyên nhân xã hội có ý nghĩa
thời sự. Tình trạng hôn nhân gả ép theo kiểu đẳng cấp xã hội hoặc chịu áp
lực của đồng tiền còn là phổ biến trong xã hội. Nhưng Khái Hưng không
quan tâm khai thác khía cạnh này nhiều. Ông muốn tập trung miêu tả tình
yêu lãng mạn của đôi nam nữ thanh niên trong ngôi đền thiêng của tôn
giáo.
Là cuốn tiểu thuyết đầu tay nhưng Khái Hưng đã chiếm được cảm
tình của đông đảo công chúng, đặc biệt là tầng lớp nam thanh nữ tú đương
thời. Đồng thời thu hút được sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu. Lê Hữu
Mục cho rằng đây là cuốn tiểu thuyết “mở đầu kỉ nguyên văn học mới”
[11,17].

Vũ Thị Thắm

K32E - Văn


Trường đại học sư phạm Hà Nội 2

Khoá luận tốt nghiệp

CHƯƠNG 2
NGHỆ THUẬT MIÊU TẢ TÂM LÍ NHÂN VẬT CỦA KHÁI HƯNG


Khoá luận tốt nghiệp

tâm trạng, tính cách hay thân phận của nó góp phần thể hiện sâu sắc tư tưởng
tình cảm của tác phẩm.
Hồn bướm mơ tiên là câu chuyện nhẹ nhàng, bay bướm. Cốt truyện có
thể tóm tắt trong vài câu ngắn. Nhưng với cốt truyện ấy tác giả đã viết lên một
tác phẩm dài 109 trang. Đó không phải do tài "tán" của nhà văn. "Tán" không
phải là đức tính trong một tác phẩm văn nghệ. Đó là vì tác giả có vốn sống về
tình yêu phong phú, có thể miêu tả tỉ mỉ từng cảm giác, từng băn khoăn, cái
lạnh lùng bề ngoài, sự đấu tranh bên trong, cái ghen bóng ghen gió, nỗi hồi
hộp, nhất là sự xung đột trong lòng giữa cái chí tu hành đã quyết từ lâu với cái
tình yêu lai láng, tràn ngập, rạo rực trong tâm hồn nhân vật. Tác giả luôn đi
sâu vào miêu tả những trạng thái cảm xúc, cảm giác trong tâm trạng con
người. Có lẽ bởi vậy đọc tác phẩm của ông, người đọc không bắt gặp tình
huống mang tính chất bất ngờ, éo le, hài hước, hay tình huống tạo xung đột
quyết liệt. Khái hưng sáng tạo ra những tình huống trữ tình và các tình huống
của Khái Hưng không nhằm mở ra một cái thế thúc đẩy một thứ hành động
thông thường của nhân vật mà nhằm thúc đẩy hành động tâm lí. Nghĩa là làm
dấy lên trong lòng các nhân vật những cảm xúc, cảm tưởng nhiều khi rất đột
xuất, riêng tư, nhẹ nhàng.
Tình huống trong Hồn bướm mơ tiên là cuộc gặp gỡ của Lan và Ngọc ở
nơi chùa chiền thanh tịnh. Ngọc một học sinh trong dịp nghỉ hè lên thăm bác
ở chùa Long Giáng và đã gặp Lan. Lan là con nhà dòng dõi được học hành.
Thầy học là người mộ đạo Phật nên Lan cũng đem lòng yêu mến "cái đạo rất
dịu dàng êm ái kia". Cha mẹ mất sớm nên Lan phải ở với chú, chú gả ép vào
nơi giàu có mà không hợp tính tình. Lan bỏ đi, giả trai vào chùa tu hành xa
lánh cõi trần. Cuộc gặp gỡ đầy bất ngờ đã làm nảy sinh tình yêu lãng mạn, lí
tưởng. Nó không diễn ra ở nơi phồn hoa đô hội, ồn ào, náo nhiệt mà nó xảy ra
ở nơi chùa chiền bình yên thanh tịnh. Chùa chiền là nơi thanh tịnh, là nơi ngự

nhanh hay chậm, với chiều dài thời gian là quá khứ, hiện tại hay tương lai
(…). Thời gian nghệ thuật là sáng tạo của tác giả trên cơ sở tổ chức chất
liệu" [16, 64]. Vì là "sáng tạo của tác giả" nên thời gian trong tác phẩm nghệ
thuật mang tính chủ quan nghệ sĩ. Nó có thể trùng hợp với thế giới vật chất,
nhưng cũng có thể biến dạng để chuyển tải tư tưởng, cảm nhận của tác giả về
thế giới, về đời sống xã hội. Cả chiều dài, qui mô, hướng vận động của thời
gian trong tác phẩm nghệ thuật đều phụ thuộc vào nhận thức của người nghệ
sĩ. Nó thoát khỏi sự vận động một chiều của thế giới tự nhiên khách quan.
Thời gian trong Hồn bướm mơ tiên đó là thời gian hiện thực (tự nhiên
khách quan). Thời gian hiện thực là dòng thời gian vận động, chảy trôi theo
quy luật tuần tự tuyến tính. Trong một ngày, thời gian đó được đánh dấu bằng
các thời điểm như sáng, trưa, chiều, tối. Trong một năm là sự tiếp nối của tứ
quý bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Trong Hồn bướm mơ tiên có sự hiện diện
của các thời điểm như vậy. Thời gian trong truyện kéo dài 6 tháng. Trong thời

Vũ Thị Thắm

K32E - Văn


Trường đại học sư phạm Hà Nội 2

Khoá luận tốt nghiệp

gian đó mọi việc xảy ra tuần tự theo trình tự thời gian tuyến tính. Ngọc lên
chùa trong một tháng, trong thời gian đó Ngọc quen Lan, cảm mến Lan rồi
yêu Lan. Mỗi ngày trôi qua tình cảm ấy càng lớn dần lên. Trong tác phẩm, khi
nói tới sự thay đổi của thời gian tác giả thường sử dụng các cụm từ: "sáng
hôm sau", "sáng hôm ấy", "trưa hôm ấy", "buổi tối". Đó là các thời điểm
trong một ngày. Mọi việc diễn ra tuần tự theo trình tự thời gian ấy. Trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status