Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết nhà thờ đức bà pari của victo huygô - Pdf 31

Mục lục
Trang

Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
Nội dung
Chương 1. Một số khía cạnh của nghệ thuật nghịch
dị trong tiểu thuyết Nhà thờ Đức bà Pari
1.1. Tìm hiểu chung về khái niêm Nghịch dị
1.1.1. Khái niệm Nghịch dị
1.1.2. Sơ lược về sự phát triển của khái niệm Nghịch dị
trong tiến trình lịch sử văn học
1.2. Một số khía cạnh của nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết
Nhà thờ Đức bà Pari
1.2.1. Cái hài
1.2.2. Cái khủng khiếp, dị hình
1.2.3. Cái huyền ảo, kỳ quái
Chương 2. Các hình tượng nghịch dị trong tiểu
thuyết Nhà thờ Đức bà Pari
2.1. Các nhân vật nghịch dị
2.1.1. Nhà thờ Đức bà: Cái nôi và mồ chôn
2.1.2. Cadimôđô: Dị dạng và hoàn hảo
2.1.3. Clôđơ Phrôlô: Thánh thiện và ác tà
2.1.4. Exmêranđa: Cái đẹp và sự đầy ải
2.1.5. Một số nhân vật nghịch dị khác..
2.2. Các nhóm nhân vật nghịch dị
2.2.1. Cadimôđô - Exmêranđa: Con đom đóm yêu một vì

56
59


Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Nhà thờ Đức bà Pari của Victo Huygô
mở đầu
1. Lý do chọn đề tài

Tác phẩm văn học là một công trình nghệ thuật ngôn từ do một cá
nhân hoặc tập thể sáng tạo, nhằm khái quát bằng hình tượng về cuộc sống, con
người. Qua đó thể hiện tâm tư, thái độ, tình cảm của chủ thể trước thực tại
(05tr.290). Tác phẩm văn học ở bất cứ thời kỳ nào cũng là một di sản văn hoá
không những của dân tộc mà còn của nhân loại. Vì vậy đối với người học tập
và nghiên cứu văn học không chỉ giới hạn ở việc tiếp thu những giá trị của nền
văn học trong nước mà cần hướng tới chân trời tri thức - những tinh hoa văn
học thế giới.
ở phương Tây vào thế kỷ XIX, Pháp được coi là cường quốc số một
trên thế giới về tiểu thuyết trong đó Victo Huygô (1802 - 1885) là một trong
những cây bút xuất sắc ở lĩnh vực này. Ông xuất hiện như một ngôi sao mọc
sớm và lặn rất muộn ở chân trời thế kỷ (Đặng Anh Đào). Cuộc đời và sự
nghiệp sáng tác của ông bao trùm thế kỷ XIX của Pháp (Phùng Văn Tửu) bởi
ông là người chứng kiến những cơn bão táp của lịch sử làm rung chuyển đất
nước trong suốt thế kỷ, đồng thời ông cũng là người trực tiếp tham gia cách
mạng. Có thể nói rằng Huygô và thời đại có mối liên hệ chặt chẽ. Những hoài
bão, ước mơ hay băn khoăn day dứt của thế kỷ XIX để lại nhiều bóng dáng
trong tác phẩm của Huygô trên tất cả các lĩnh vực bởi ông là con người tài
năng. Có thể thấy điều này qua số lượng tác phẩm đồ sộ của ông: 20 vở kịch,
10 tiểu thuyết lớn và truyện vừa, 15 tập thơ và hàng trăm bài chính luận, lý
luận văn chương Huygô quả là người có sức sáng tạo vĩ đại.
Huygô được coi là nhà văn có nhiều sáng tạo độc đáo đặc biệt là ở lĩnh

truyền kỳ xung quanh cuộc đời Huygô và sự nghiệp văn chương của ông
(14tr.146). Điều đó chứng tỏ Huygô là con người tài năng hay nói như Xuân
Diệu: Chưa bao giờ có một nghệ sĩ sống cuộc sống của thời đại mình một
cách sâu sắc hơn Huygô.
Ông đi nhiều, hiểu biết nhiều và người ta ví cuộc đời ông giống như một
tấm gương phản ánh cách mạng Pháp. Chính sự trải nghiệm đó đã tạo điều
kiện rất nhiều trong quá trình sáng tác của ông đặc biệt là sáng tác tiểu thuyết.
Tác giả Đặng Anh Đào trong cuốn Văn học phương Tây nói rằng tiểu thuyết
là nơi mà Huygô có thể thể hiện tối đa những điều không thể có. Vì vậy, hệ
thống tiểu thuyết của ông được đông đảo bạn đọc ưa thích.

Trần Thị Thu Hằng

2

K29EVăn


Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Nhà thờ Đức bà Pari của Victo Huygô
Là nhà văn lãng mạn nhưng Huygô lại luôn khẳng định văn học phải
phản ánh chân thực cuộc sống. Ông đặc biệt chú ý lý thuyết về cái thô
kệch và phê phán các nhà văn cổ điển không phản ánh những mặt tương phản
trong thiên nhiên, xã hội, con người mà chỉ chạy theo cái đẹp vĩnh cửu
(06tr.338). Cho nên cống hiến to lớn của Huygô là mở toang cánh cửa sáng
tạo nghệ thuật. Ông đã đề xuất tất cả cái gì tồn tại trong tự nhiên đều tồn tại
trong nghệ thuật.
Trước khi đưa ra những ý kiến đánh giá về vấn đề nghịch dị trong sáng
tác của Huygô, ta hãy xem những ý kiến đánh giá về tiểu thuyết Huygô. Qua
đó thấy được giá trị tác phẩm của Huygô.
2.1. Những ý kiến đánh giá về tiểu thuyết Huygô

chất thơ cùng tất cả sự phong phú của tư tưởng và kịch tính, tôi xin nói thêm
cuốn truyện của ông còn có gì đó làm tôi vô cùng xúc động (12tr.6). Có
nghĩa là tác phẩm được coi là một bài thơ hùng tráng và trữ tình. Đó là sự tổng
hợp của thơ, lịch sử, kịch, triết học một sự tổng hợp bao la khiến cho người
đọc ngạc nhiên và say mê.
Nhà sử học Giuyn Misơlê nhận xét vào năm 1833: Cạnh ngôi nhà thờ
lớn cổ kính, Huygô xây dựng một toà nhà thờ lớn khác bằng thi ca, cũng vững
chắc như nền móng, cũng ngất cao như dãy tháp của toà nhà nọ (12tr.6).
Đấy là những nhận xét, đánh giá chung về tiểu thuyết này. Còn về
phương diện nghệ thuật nó được nhìn nhận ra sao?
Phương pháp sáng tác lãng mạn vốn ưa dựng cốt truyện ly kỳ, mà
Huygô lại ưa miêu tả cái cao cả cạnh cái tầm thường nên ông đã sử dụng
thành công bút pháp nghệ thuật tương phản khi miêu tả nhân vật của tác
phẩm.
Tác giả Đặng Anh Đào trong cuốn Văn học phương Tây cho rằng
những hình tượng nhân vật ở đây rất gần với mẫu gốc của văn học dân gian.
Và Nhà thờ Đức bà Pari - cuốn sách bằng đá là chị em sinh đôi với những
khúc dân ca... Đó chính là nét đặc sắc của Huygô trong việc xây dựng chân
dung và tính cách nhân vật của mình.
Còn theo tác giả Nguyễn Ngọc Thi trong Chân dung các nhà văn thế
giới thì Huygô lựa chọn sự kết hợp giữa các trác tuyệt và cái thô kệch. Nhân
vật của Huygô có cái phi thường, cái quá kích cỡ. Những hình thái tu từ
trong nghệ thuật miêu tả của Huygô như ẩn dụ, ngoa dụ, tương phản tạo nên

Trần Thị Thu Hằng

4

K29EVăn



Trần Thị Thu Hằng

5

K29EVăn


Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Nhà thờ Đức bà Pari của Victo Huygô
phát từ phản ứng với chủ nghĩa cổ điển đề cao nghệ thuật grôtexcơ mà ông coi
như là một yếu tố mới mẻ. Tinh thần dân chủ hoá nghệ thuật thấm đượm trong
từng trang, từng chữ ông viết về grôtexcơ. Ông tìm ra một hình thức sân khấu
có thể thể hiện nghệ thuật grôtexcơ, đó là đram. Ngoài ra cái grôtexcơ còn
được thể hiện trong thơ và tiểu thuyết của Huygô.
Tác giả Đỗ Đức Hiểu trong Tạp chí văn học số 6 - 1985 chỉ ra rằng: cái
grôtexcơ (cái nghịch dị, thô kệch) là nguồn cảm hứng không hề vơi cạn trong
các sáng tác của Huygô. Nhờ nó mà Huygô sáng tạo ra một thế kỷ thơ, kịch,
tiểu thuyết. Và từ Nhà thờ Đức bà Pari (1831) đến Chín mươi ba (1874) cái
grôtexcơ bao giờ cũng là linh hồn của tiểu thuyết Huygô.
Trong cuốn Victo - Huygô (tác gia tác phẩm văn học nước ngoài trong
nhà trường) tác giả Lê Nguyên Cẩn có nói về cái grôtexcơ (cái nghịch dị, thô
kệch) nhưng không đi nghiên cứu sâu mà chỉ khẳng định đề cao quan điểm về
cái thô kệch (grôtexcơ) mà Huygô đề xuất: Cái xấu tồn tại bên cạnh cái đẹp,
cái ác bên cạnh cái thiện, cái xấu xí bên cạnh cái tao nhã, bóng tối bên cạnh
ánh sáng
Còn trong cuốn Văn học phương Tây tác giả Đặng Anh Đào chỉ ra rằng
các nhà nghiên cứu ở thế kỷ XX đặc biệt chú ý tới yếu tố grôtexcơ trong kịch
đram của Huygô và cho biết cái grôtexcơ ám ảnh Huygô trong nhiều sáng tác
của ông và với Huygô, cái grôtexcơ xuất hiện như một phản đề, là đối cực
giữa cái bụng, xác thịt, con vật với cái đầu, tinh thần, con người. Ông chưa

Đối tượng nghiên cứu: Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Nhà thờ
Đức bà Pari.
Phạm vi nghiên cứu: Tiểu thuyết Nhà thờ Đức bà Pari, bản dịch của tác
giả Nhị Ca, Nxb Văn học, năm 2006.
5. Phương pháp nghiên cứu

ở đề tài này chúng tôi sử dụng một số phương pháp chủ yếu sau:
Phương pháp khảo sát, phân tích văn bản.
Phương pháp so sánh.
Phương pháp hệ thống.

Trần Thị Thu Hằng

7

K29EVăn


Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Nhà thờ Đức bà Pari của Victo Huygô

Nội dung
Chương 1
Một số khía cạnh của nghệ thuật nghịch dị
trong tiểu thuyết Nhà thờ Đức bà Pari
1.1. Tìm hiểu chung về khái niệm Nghịch dị

1.1.1. Khái niệm Nghịch dị
Theo tài liệu nghiên cứu của M.Bakhtin trong Tiếng cười Rabelais và
văn hoá trào tiếu dân gian thuật ngữ nghịch dị (grôtexcơ) được xuất hiện
lần đầu tiên vào thời đại Phục Hưng, nhưng lúc đầu nó chỉ được dùng theo

thế lẫn nhau giữa bầu nhiệt huyết và óc mỉa mai (02tr. 210).
Thuật ngữ nghịch dị dịch từ tiếng Italia: Grottesco và tiếng Pháp:
grotesque, cũng có cách dịch khác là lố bịch, thô kệch hoặc kỳ quặc. ở đề tài
nghiên cứu về nghệ thuật viết văn của Huygô thì chúng tôi chọn sử dụng thuật
ngữ dịch nghịch dị. Vì nếu dùng lố bịch hay thô kệch, kỳ quặc thì chỉ
làm nổi bật hình tượng được một chiều, nghiêng về phê phán, chế nhạo (Lố
bịch: không hợp với lẽ thường của người đời một cách quá đáng đến mức đáng
chế nhạo, cười chê. Ví dụ: Điệu bộ lố bịch; Thô kệch: quá thô, không thanh,
không nhã. Ví dụ: Dáng người thô kệch; Kỳ quặc: khác thường một cách lố
bịch). Trong khi đó nghịch dị thể hiện được hai mặt của vấn đề, có sử dụng
biện pháp đối lập, tương phản phù hợp với phong cách nghệ thuật của Huygô
(nghịch: phản lại, không thuận, ngược lại với thuận, dị: khác lạ).
Nghịch dị khác với kì ảo và châm biếm mặc dù có sự gần gũi và
có sử dụng các yếu tố này.
Tóm lại Trong tiến trình vận động của văn hoá, nghệ thuật, cái nghịch
dị có xuất nguồn trào tiếu dân gian đó đã biến dạng, đã vỡ thành chi chít các
mảnh vụn mà theo M.Bakhtin, những mảnh ấy đôi khi hoá ra không chỉ là
mảnh vỡ, mà còn biểu lộ năng lực sống một kiếp sống mới (13tr38 - 39). Vậy
chúng ta cùng tìm hiểu đời sống của cái nghịch dị qua từng thời kỳ.
1.1.2. Sơ lược về sự phát triển của khái niệm Nghịch dị trong tiến
trình lịch sử văn học
1.1.2.1. Nghịch dị trong văn học cổ đại
Nghịch dị là kiểu hình tượng (phương pháp xây dựng hình tượng) đã có
từ xa xưa. Nó đã có trong các hệ thần thoại, trong cổ ngữ của mọi dân tộc,
nhưng chỉ trong sáng tác của một số nhà văn cổ đại ở văn học châu Âu và
trong văn học dân gian nó mới trở thành thủ pháp.

Trần Thị Thu Hằng

9

nguyên tắc quy định cấu trúc hình tượng của nghịch dị thời Phục Hưng là:
Thái độ đối với thời gian, đối với sự hình thành và gắn với hai nguyên tắc trên
là tính lưỡng trị, là việc miêu tả một cách chỉnh thể, không tách biệt cả hai cực

Trần Thị Thu Hằng

10

K29EVăn


Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Nhà thờ Đức bà Pari của Victo Huygô
của sự hình thành: cả cái mới lẫn cái cũ, cả cái chết chóc lẫn cái sinh thành.
Tiếng cười do hình tượng nghịch dị gây nên cũng mang tính hai chiều: nó vừa
phủ định vừa khẳng định. Chất nghịch dị thời Phục Hưng, gắn với cảm quan
hội cải trang, diễn đạt cảm quan về tính tương đối đầy vui nhộn và tính
không hoàn tất vĩnh vửu của tồn tại. Nó cũng thấm nhuần sự phục hồi cho
thân xác thấm nhuần tinh thần chống khổ hạnh một cách ngạo ngược
Như vậy có thể thấy nghệ thuật nghịch dị thời Phục Hưng trực tiếp gắn
bó với nền văn hoá dân gian, mang tính chất quảng trường và tính hội hè toàn
dân. Hình thức nghịch dị theo phong cách hội hè cải trang có chức năng như
sau: Nó hợp lệ hoá tính hư cấu tự do, cho phép kết hợp cái trái nghịch và
nhích lại gần nhau cái xa cách, giúp giải phóng ý thức con người khỏi quan
điểm chính thống về thế giới, khỏi mọi sự ước lệ, mọi chân lý khuôn sáo, khỏi
tất cả những gì là thường tình, quen thuộc, được mọi người thừa nhận; nó cho
phép nhìn thế giới bằng con mắt mới, nhận thấy được tính tương đối của mọi
thực tại hiện hữu và khả năng có thể có một trật tự thế giới hoàn toàn khác.
(02tr.199)
Chính nhờ những chức năng này mà trong các ngày hội vui đó con
người trở thành chính nó.

độc ác, tức là nhân tố tiếng cười tổ chức hình tượng nghịch dị đã bị biến chất
so với thời trung cổ và Phục Hưng.
ở Pháp nghệ thuật nghịch dị được xem như một truyền thống dân tộc
nên có rất nhiều tác giả lãng mạn Pháp quan tâm đến cái nghịch dị trong đó
không thể không kể đến Huygô. Theo Huygô thì các nhà lãng mạn dùng
nghịch dị để nhấn mạnh rằng không thể nào thanh toán được những đối kháng
có cơ sở thế giới quan, nhất là đối kháng giữa cái thẩm mĩ và cái đạo đức
(01.tr 212). Nói như vậy nghĩa là ông chưa thấy được chất lưỡng tính của cái
nghịch dị.
Nhìn chung cái nghịch dị trong văn học lãng mạn tính hai chiều của nó
(giữa cái cao cả và thấp hèn, cái sống và cái chết, cái đẹp và cái quái gở) trở
thành nghịch âm đối chọi, tách rời nhau đến mức đối lập, tuy nhiên nó cũng
có một ý nghĩa tích cực vô cùng to lớn, đó là sự phát hiện ra con người nội
tâm, con người chủ quan với chiều sâu, tính phức tạp và phong phú vô tận của
nó (02.tr 214).

Trần Thị Thu Hằng

12

K29EVăn


Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Nhà thờ Đức bà Pari của Victo Huygô
Sang đến nửa sau thế kỷ XIX, nghịch dị không được quan tâm nhiều, có
chăng người ta chỉ coi nó như một trong những hình thức pha trò hạ đẳng,
dung tục, hoặc như là một hình thức nghệ thuật trào phúng đả phá những hình
tượng tiêu cực thuần tuý và riêng lẻ. Cho nên nghịch dị thời kỳ này có tính cụ
thể, tính định hướng xã hội triệt để và sâu sắc.
1.1.2.5. Nghịch dị trong văn học thế kỷ XX


Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Nhà thờ Đức bà Pari của Victo Huygô
tàn, những lâu đài phong kiến và tầng lớp kỵ sĩ. Còn đối với Huygô, ông đã
hướng hẳn về nền Trung cổ của nhân dân qua việc miêu tả những sắc thái của
nền văn hoá thời đó từ sinh hoạt đến phong tục, tập quán, tín ngưỡng, kiến
thức v.v đều gắn với nhân dân và làm toát lên sức mạnh vô tận của quần
chúng (08tr.68).
Bối cảnh làm nền cho câu chuyện ở đây là một bối cảnh hiện thực và
chính phẩm chất hiện thực này tạo ra sức sống mãnh liệt cho sáng tác của
Huygô. Đây cũng là điều phân biệt Huygô với những nhà lãng mạn khác: Ông
không thoát ly hiện thực để đi tìm những chốn mộng mơ mà ông đứng vững
trên mảnh đất hiện thực để từ đó kiến giải theo cách riêng của ông, theo cảm
quan lãng mạn của ông. Với ông cái bình thường là cái giết chết nghệ thuật.
Và văn chương kỳ diệu ở chỗ phát hiện được cái khác lạ trong những cái vốn
là bình thường, quen thuộc.
Soi vào tiểu thuyết Nhà thờ Đức bà Pari Huygô đã đưa cái nghịch dị
vào tác phẩm như là đối tượng phản ánh chính của tác phẩm. Cái nghịch dị
hay chính là tinh thần và diễn biến của hội cải trang, nó có nhiều biểu hiện
khác nhau. Sau đây chúng tôi sẽ đi sâu vào tìm hiểu một số khía cạnh của
nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Nhà thờ Đức bà Pari để qua đó làm nổi
bật giá trị nghệ thuật cũng như tư tưởng của tác phẩm. Các khía cạnh đó là: cái
hài, cái khủng khiếp, dị hình; cái huyền ảo, kỳ quái.
1.2.1. Cái hài
Cái hài là một trong những phạm trù của mỹ học. Nó xác định giá trị
thẩm mĩ thông qua việc phát hiện tính mâu thuẫn có ý nghĩa xã hội của thực
tại. Cái hài là cái cười cao cả, phù hợp với những phẩm chất đa dạng của thực
tại, là các sắc thái khác nhau của tiếng cười. Mà một trong những sản phẩm vô
giá của con người là tiếng cười. Cái cười không tồn tại bên ngoài xã hội loài
người. Bản thân tiếng cười được sinh ra từ sự mâu thuẫn giữa nội dung được
phản ánh và hình thức phản ánh, nảy sinh khi cái ti tiện tự làm ra vẻ vĩ đại, cái

biểu nhất là tiếng lóng - cái thế giới ngôn từ kỳ quặc nhưng lại có sức sống
mãnh liệt ngoài vòng pháp luật. Đó là những lời mắng rủa, những câu chửi
đôi khi dài và phức tạp. Và những câu ấy thường được biệt lập về ngữ pháp
và ngữ nghĩa trong lời nói và được tiếp thụ như những chỉnh thể hoàn bị giống
như những ngạn ngữ (02tr.168). Vì sao lại có những đảo lộn ấy? Đơn giản
là do phong tục tập quán, cho nên trước những lời công kích, những tiếng
mắng chửi, tiếng hét kinh người, những lời văng tục của tất cả các miệng lưỡi

Trần Thị Thu Hằng

15

K29EVăn


Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Nhà thờ Đức bà Pari của Victo Huygô
tháo khoán, miệng lưỡi giáo sinh và học trò cả năm bị kìm giữ vì sợ thanh sắt
nung của Xanh Luy (12tr.61) tạo thành một sự nổi loạn, phá phách mà các
nhà chức trách có thẩm quyền chẳng thèm để ý và bận tâm. Đó chính là tiếng
nói của cacnavan; nó cũng hoá trang lộng lẫy và dị dạng, uyên bác và tục tằn,
đa nghĩa và vô nghĩa; từ đáy xã hội nó vùng lên đòi không gian sinh tồn của
nó. Có thể nói tiếng nói ấy là ngôn ngữ bị tha hoá hay ngôn ngữ grotesque.
Chính điều đó tạo cho người đọc cái cười thành thực vì người đọc nhận ra rằng
trong xã hội ấy người dân phải sống dưới một chế độ cực kỳ hà khắc của lý
thuyết của nhà thờ Thiên chúa giáo nhưng họ đã biết lợi dụng này của mình
để làm những điều họ muốn. Chính vì thế họ đã thực sự nổi loạn khi tham
gia bầu Cuồng đãng giáo hoàng. Cái trò này đã làm cho họ say mê đến cuồng
loạn bao nhiêu khuôn mặt quái gở lần lượt tới nhe răng há miệng ở lỗ cửa
hoa thị giống như bấy nhiêu bùi nhùi rơm vứt thêm vào đống lửa (12tr.77).
Cách so sánh của Huygô thật độc đáo và chính xác khiến cho người đọc tuy

không hề biết mình là đối tượng để cười. Cụ thể như sau: Với người cầm cán
cân công lý đáng lẽ phải là người sáng suốt, hoàn hảo về mặt tri thức cũng như
trong mọi tình huống cần giải quyết vậy mà lão thẩm phán ở đây ngả đầu ra
sau ghế và lim dim đôi mắt thành ra lúc đó lão vừa điếc lại vừa mù. Nếu
không có hai điều kiện này, lão đã chẳng thành một thẩm phán hoàn hảo
(12tr.255). Thì ra làm thẩm phán thời đó cũng không khó chỉ cần ra vẻ lắng
nghe là đủ sau đó ký vào bản án và cứ thế mà thi hành. Người đọc có lẽ
không quên chi tiết viên lục sự thấy thương hại gã tội nhân khốn khổ, y có ý
muốn xin giảm nhẹ tội cho nó nên ghé sát tai viên thẩm phán rồi chỉ
Cadimôđô và bảo: Anh ta điếc thì lập tức thầy Phloriăng ra vẻ nghe rõ và
đáp: Ra thế à? Nếu vậy lại khác. Nào tôi có biết đâu. Trong trường hợp này,
phạt thêm nó một giờ bêu tù nữa (12tr.259). Đúng là sự ngu ngốc làm ra vẻ
thông thái, vĩ đại đã làm hại một con người. Chính điều này tạo ra sự mâu
thuẫn và gây nên tiếng cười châm biếm, mỉa mai không chỉ đối với riêng một
cá nhân mà cả một chế độ xã hội đương thời: Một thầy thẩm phán điếc - đại
diện cho pháp luật xử án một kẻ điếc bị buộc về tội đáng lẽ anh ta không phải
chịu. Các tội mà anh ta bị buộc phải nhận trước toà là: Làm náo động ban
đêm, có hành động bất chính với một người đàn bà điên, chống đối và gian
manh đối với các cung thủ ngự lâm quân. Nếu tìm hiểu rõ nguyên nhân, nếu
pháp luật công minh thì có lẽ anh ta chỉ bị cảnh cáo mà thôi.

Trần Thị Thu Hằng

17

K29EVăn


Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Nhà thờ Đức bà Pari của Victo Huygô
Hình ảnh Cadimôđô trong chi tiết xử án này cũng thật đáng cười: Khi

18

K29EVăn


Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Nhà thờ Đức bà Pari của Victo Huygô
những tội mình đã phạm và thú nhận. Vụ án kết thúc bằng một giọng nói
lạnh lùng của viên lục sự: cô sẽ bị treo cổ tại quảng trường Grevơ vào lúc giữa
trưa nhưng chưa biết cụ thể vào ngày nào vì còn phải tuỳ thuộc vào đức hoàng
thượng định đoạt. Nhưng may thay vào ngày cuối cùng của đời cô, cô đã được
cứu sống. Người cứu cô thoát khỏi giá treo cổ đã bất chấp nguy hiểm và cái
chết không ai khác chính là Cadimôđô - gã kéo chuông Nhà thờ Đức bà. Hành
động này đã được dân chúng hò reo, tán thưởng và hô vang Nôen! Nôen!,
nó khác nào quái vật cứu tiên nữ khiến cho tiếng cười ở đây bật ra thật đau
đớn, xót xa.
Có thể thấy bản chất của nghệ thuật là sáng tạo nhưng sáng tạo phải dựa
trên cơ sở hiện thực, không xa vào thực tế. Và bằng tài năng của mình Huygô
đã sáng tạo ra rất nhiều chi tiết gây cười với bút pháp quen thuộc là đối lập
tương phản qua đó làm nổi bật được một phần nào đó giá trị tư tưởng của tác
phẩm là phê phán chế độ xã hội đương thời: đó là một xã hội bất công, tồn tại
nhiều hủ tục lạc hậu nên có nhiều người đã phải chịu những hình phạt oan
uổng và qua đây Huygô mong rằng sẽ có một tương lai tốt đẹp hơn, công bằng
hơn Đó cũng chính là ước mơ, khát vọng của nhân dân.
1.2.2. Cái khủng khiếp, dị hình
Khía cạnh thứ hai của nghệ thuật nghịch dị đó là cái khủng khiếp dị
hình, đây là nét nghĩa quan trọng của nghịch dị ở Huygô, nó có quan hệ với
cái hài và cái xấu.
Trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, các văn nghệ sĩ chân chính đều có
niềm khao khát cháy bỏng thể hiện chân thực cuộc sống, nhưng không ai
muốn biến tác phẩm của mình thành bản sao chép cuộc sống mà muốn phản

bảo đó là thằng nhóc quái vật không phải là trẻ sơ sinh và thậm tệ hơn họ
bảo nó giống một con thú, một con vật, sản phẩm của một tên Do Thái với
một mụ lợn xề cần vứt xuống sông hoặc quẳng vào lửa (12tr.189). Quả
đúng là hắn có hình hài thật đáng sợ Đó là một khối nhỏ rất gồ ghề và quẫy
rất mạnh Cái đầu hình thù cũng méo mó, chỉ thấy một rừng tóc đỏ hoe, một
con mắt, một cái mồm và hàm răng. Thử hỏi với bề ngoài như thế thì ai
dám nhận về nuôi cơ chứ cho nên thay vì nhận nó, họ muốn nó phải chết. Họ
ghê tởm nó tới mức có người nói ta tưởng ở đây chỉ bày trẻ con và quay mặt
đi biểu hiện sự miệt thị, nghĩa là họ không coi nó là người, là một đứa trẻ. (So
với Chí phèo của Nam Cao thì Cadimôđô đáng thương hơn nhiều. Tuy đã có
lúc Chí Phèo bị coi là con quỷ dữ của làng Vũ Đại và bị loại khỏi cộng đồng

Trần Thị Thu Hằng

20

K29EVăn


Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Nhà thờ Đức bà Pari của Victo Huygô
xã hội loài người nhưng ít ra hắn cũng đã từng được coi là con người còn
Cadimôđô thì chưa một lần vả lại còn bị hắt hủi). Cuối cùng nó cũng được một
linh mục trẻ (sau này trở thành phó chủ giáo) Clôđơ Phrôlô nhận về nuôi. Nó
lớn lên trong nhà thờ, cách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài, trở thành
người kéo chuông trong nhà thờ Đức bà. Thời gian trôi đi, Cadimôđô đã
trưởng thành và hắn cực kỳ xấu. Hãy xem tác giả miêu tả: Cả người hắn là
một khối nhăn. Một cái đầu to tướng lởm chởm tóc đỏ quạch; giữa đôi vai là
cái bướu kếch xù làm đằng trước ngực như nhô ra chân vòng kiềng bẻ queo
rất kỳ tài, chỉ có thể chạm nhau ở đầu gối hai bàn chân to bè, hai bàn tay
lớn khủng khiếp, và cùng với cả hình thù quái dị này, còn là một dáng đi đáng

như mày! (12tr.82). Sau đó chúng cho Cuồng đãng giáo hoàng ăn mặc lố
lăng và ngồi trên chiếc kiệu sặc sỡ diễu qua hành lang bên trong toà pháp
đình, ra phố và ngã tư trong tiếng nhạc, tiếng cười nói ầm ĩ, huyên náo, cái
kệch cỡm ở chi tiết này còn ở chỗ khi thấy tất cả những người tuấn tú, hiên
ngang và cân xứng đều dưới đôi chân dị hình của Cadimôđô.
Sự khủng khiếp của nhân vật này còn được tác giả khắc hoạ rõ nét qua
khuôn mặt người chẳng ra người, quỷ chẳng ra quỷ của Cadimôđô. Sức ghê
rợn khủng khiếp của bộ mặt làm cho đàn bà chửa xảy thai, hay đẻ ra thứ con
hai đầu ngay từ cái nhìn đầu tiên. Không những thế có lúc nó được miêu tả
mang màu sắc ma quái, nó thét lên nghiến răng kèn kẹt, mái tóc đỏ hoe dựng
đứng, ngực thở phì phò như bể lò rèn, mắt toé lửa. Như vậy với bút pháp
cường điệu, ngoa dụ tác giả đã đẩy nhân vật tới tầm phi cuộc sống, xa rời hiện
thực. Và có thể nói rằng với cách miêu tả như vậy Cadimôđô chỉ là một thứ
gần đủ, thiếu sự hài hoà để giống người và thiếu chi tiết để thành quỷ. Có lẽ
cha mẹ hắn bỏ hắn cũng vì hắn nửa người nửa thú như vậy.
Hình hài dị dạng của Cadimôđô đã gây cho hắn bao nhiêu là phiền toái.
hắn không được hưởng cái hạnh phúc đời thường của nhân loại. Hắn yêu say
đắm Exmêranđa nhưng không hề được nàng đáp lại dù chỉ là bằng cái nhìn có
chăng cũng chỉ là lòng thương hại mà thôi. Exmêranđa khiếp sợ mỗi khi nhìn
thấy hắn. Vì thế hắn chỉ đến gần nàng khi nàng đã đi ngủ. Có lần hắn đã nói
với nàng: Tôi là cái gì gớm ghiếc, chẳng phải người, chẳng phải vật, một thứ
gì đó còn cứng rắn hơn, bị dày xéo dưới chân và bị dị dạng hơn một hòn sỏi
(12tr.459). Như vậy là hắn tự ý thức được sự dị dạng của mình. Ta có cảm giác
đây là nỗi đau ứa máu đầy căm giận mà Cadimôđô đành câm nín. Dụng ý của
nhà văn khi ông đẩy nhân vật của mình tới mức cực đoan về ngoại hình như

Trần Thị Thu Hằng

22


phẩm, nó ám ảnh nhân vật của Huygô như là một định mệnh. Cho nên dường
như nó cũng gây nên một nỗi kinh hoàng nào đó cho con người.

Trần Thị Thu Hằng

23

K29EVăn


Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Nhà thờ Đức bà Pari của Victo Huygô
Đoạ đầy Exmêranđa không chỉ có như vậy mà cô còn luôn bị nguyền
rủa, mắng chửi thậm tệ bởi mụ tu kín ở tháp Rôlăng. Mụ vốn ghét người Ai
Cập nên ghét lây sang cả cô vì tưởng cô cũng trong nhóm bọn họ. Mụ gào lên
bằng một giọng the thé, xua đuổi cô như đuổi một vật gì đáng ghê tởm khiến
cho cô ghê sợ mỗi lần qua nơi ở của mụ. Mụ trở thành con người khủng khiếp,
hoá điên, hoá dại như vậy cũng chỉ vì đứa con đứt ruột đẻ ra của mình bị bọn
người Ai Cập bắt đi, đánh tráo.
Ta thấy rằng thành phố Pari đã đi vào nhiều tác phẩm văn học với vẻ
đẹp tráng lệ, nguy nga nhưng trong tiểu thuyết này nó xuất hiện trước mắt
độc giả với một diện mạo mới mẻ. Đó không còn là cung điện nguy nga và
cuộc sống ăn chơi phè phỡn nữa mà là những phố đen tối tăm, với những cuộc
tấn công của những kẻ ăn mày vào nhà thờ Đức bà; là nơi ở của cô gái nghèo
khổ Exmêranđa và người kéo chuông nhà thờ tàn tật Cađimôđô. Đó là còn là
nơi của những thân tàn ma dại, què cụt, bẩn thỉu. Càng vào sâu trong thành
phố ta sẽ thấy Nào què hai chân, nào mù loà, thọt cẳng cứ nhung nhúc vây
quanh lại thêm bọn cụt tay, chột mắt, bọn hủi, lở loét, chúng gào thét,
gầm rú, run rẩy, tất cả đều bước thấp, bước cao, láo nháo, kéo ùa về phía ánh
sáng và lội bì bõm trong bùn như ốc sên sau cơn mưa (12tr.115). Quả thật
đây là thế giới của những người kinh dị, nơi đó ranh giới giữa các loài vật và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status