Những sáng tác độc đáo của nam cao trong sáng tác về đề tài người nông dân trước cách mạng tháng tám - Pdf 31

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Khoá luận tốt nghiệp

MỤC LỤC
Trang
Mở đầu

3

1. Lí do chọn đề tài

3

2. Lịch sử vấn đề

5

2.1. Trước Cách mạng tháng Tám

5

2.2. Sau Cách mạng tháng Tám

6

3. Mục đích nghiên cứu

7

4. Nhiệm vụ nghiên cứu

10

1.1.1. Cuộc đời

10

1.1.2. Sự nghiệp sáng tác

12

1.1.2.1. Trước Cách mạng tháng Tám

12

1.1.2.2. Sau Cách mạng tháng Tám

13

1.2. Quan điểm nghệ thuật của Nam Cao

14

1.2.1. Trước Cách mạng tháng Tám

15

1.2.2. Sau Cách mạng tháng Tám

16


19

2.2.1.2. Phát hiện ra quy luật tha hoá của người nông dân

23

2.2.1.3. Sáng tạo trong xây dựng nhân vật đa tính cách

28

2.2.2. Sáng tạo về mặt nghệ thuật

32

2.2.2.1. Sáng tạo trong khắc hoạ tâm lý nhân vật

33

2.2.2.2. Sáng tạo trong sử dụng ngôn ngữ

39

2.2.2.3. Giọng điệu

41

2.2.2.4. Sáng tạo trong tổ chức xung đột nghệ thuật

44


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trào lưu văn học hiện thực phê phán Việt Nam 1930 - 1945 vận động
và phát triển qua ba chặng: 1930 - 1935, 1936 - 1939, 1940 - 1945. Thành tựu
của nó đã góp phần to lớn trong quá trình hiện đại hoá nền văn học dân tộc.
Nhiều tác giả, tác phẩm của trào lưu văn học này đã trở thành những dấu son
chói lọi, là niềm tự hào của nền văn học dân tộc trên bước đường hội nhập và
phát triển.
Nói đến văn học hiện thực phê phán là nói đến tên tuổi của các nhà văn
như: Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng... và
đặc biệt là Nam Cao - một tài năng tiêu biểu cho sự hoàn thiện về nghệ thuật
của trào lưu văn học này.
Tác phẩm của Nam Cao phần lớn ra đời trong những năm chiến tranh
thế giới thứ hai, đánh dấu bước phát triển của trào lưu văn học hiện thực phê
phán trong một thời kì tưởng chừng như bế tắc. Nam Cao là người đến sau
nhưng lại là cây bút lớn nhất, tiêu biểu nhất của văn học hiện thực phê phán
Việt Nam ở chặng đường cuối cùng (1940 - 1945). Ông cũng là nhà văn có ý
thức cao và sâu sắc về quan điểm nghệ thuật của mình. Xuất hiện trên văn đàn
khi trào lưu hiện thực chủ nghĩa đã đạt được nhiều thành tựu xuất sắc: Ngô
Tất Tố đã có Tắt đèn, Nguyễn Công Hoan với Bước đường cùng, Vũ Trọng
Phụng với Giông tố, Vỡ đê... Nam Cao đã ý thức sâu sắc rằng “Văn chương
chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa
ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có”(Đời thừa). Và thực sự Nam Cao đã
bước vào làng văn với “những cạnh sắc riêng của mình”. Ông không tiếp thu
truyền thống một cách thụ động mà trên cơ sở đó kế thừa trong sự phát triển,
đẫ nắm bắt, lĩnh hội một cách nhạy cảm những biến đổi dao động của thời

Đặng Thị Huế - K32B Văn

3

nghệ thuật, tư tưởng nghệ thuật... ở họ tất cả đều riêng biệt độc đáo. Phong
cách Nam Cao là sự kết tinh phong cách thời đại. Tác phẩm của Nam Cao
thường ẩn chứa nhiều chủ đề, hướng tới nhiều đối tượng... Cách viết của Nam

Đặng Thị Huế - K32B Văn

4


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Khoá luận tốt nghiệp

Cao có tính chất định hướng cho con đường phát triển về sau. Trong văn học
sử, Nam Cao có một vị trí lớn. Vì vậy, con người và tác phẩm Nam Cao đã
đang và sẽ là đối tượng nghiên cứu của những người yêu quý văn Nam Cao,
muốn tìm tòi khám phá các tác phẩm của ông.
Việc thực hiện đề tài này cũng là cơ sở để tác giả khoá luận rèn luyện
tư duy nghiên cứu độc lập, tập dượt làm nghiên cứu khoa học ở mức độ cao
hơn, hình thành phương pháp nghiên cứu về quan điểm sáng tạo của một nhà
văn và điều quan trọng hơn cả là thấy được vị trí của Nam Cao trong nền văn
học dân tộc.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Trước Cách mạng tháng Tám
Trước Cách mạng tháng Tám, tác phẩm của Nam Cao chưa được số
đông văn nghệ sỹ cùng thời quan tâm. Vị trí của nhà văn chưa được khẳng
định. Giá trị tư tưởng nghệ thuật chưa có sự đánh giá đúng mức. Nhận xét về
Nam Cao trong thời kì này chỉ có Lê Văn Trương với một vài ý kiến trong lời
giới thiệu Đôi lứa xứng đôi (Nxb Đời Mới, 1941) “Giữa lúc chúng ta đang
đắm mình trong những truyện tình mơ mộng và “hùa nhau” phụng sự cái thị

hai nghìn công trình bài báo viết về Nam Cao và chắc chắn đây không phải là
con số cuối cùng. Thật khó có đặc điểm cơ bản nào của nội dung, hình thức
nghệ thuật trong sáng tác của Nam Cao chưa được phát hiện. Nhưng dù có tài
năng đến đâu cũng không nhà nghiên cứu nào có khả năng khám phá hết
những giá trị vốn rất tiềm tàng trong sáng tác của một nhà văn lớn.
Đề tài người nông dân trong sáng tác của Nam Cao đã có nhiều công
trình, bài viết đề cập. Xin dẫn ra một số công trình tiểu biểu liên quan trực
tiếp đến đề tài:
Trong Chủ nghĩa hiện thực Nam Cao, Trần Đăng Suyền viết: “Nam
Cao là nhà văn của những người nông dân nghèo khổ và bất hạnh, nhà văn
của những người khốn khổ, tủi nhục nhất trong xã hội thực dân phong kiến” [
8, 115] .
“Trong những tác phẩm viết về đề tài người nông dân của Nam Cao
không vang lên những tiếng thúc sưu, dồn thuế cũng không miêu tả trực tiếp
cảnh tranh cướp ruộng đất nhưng vẫn phản ánh chân thực sâu sắc tình trạng
khốn cùng của người nông dân Việt Nam trên con đường bần cùng hoá, phá
sản không lối thoát vào những năm 1940 - 1945”. [ 8, 124 ]

Đặng Thị Huế - K32B Văn

6


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Khoá luận tốt nghiệp

“Viết về người nông dân, Nam Cao tập trung viết về tình trạng con
người luôn luôn bị lăng nhục, bị xúc phạm về nhân phẩm bị đẩy vào tình
trạng tha hoá, lưu manh hoá”. [ 8, 137 ]

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Khoá luận tốt nghiệp

Với đề tài này, tác giả khoá luận hướng đến những mục đích sau:
Thấy được những điểm sáng tạo độc đáo của Nam Cao khi viết về đề
tài người nông dân so với các nhà văn cùng thời và ý nghĩa của những sáng
tạo ấy.
Góp phần thiết thực vào công tác giảng dạy của một giáo viên dạy văn
sau này.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Khoá luận Những sáng tạo độc đáo của Nam Cao trong sáng tác về
đề tài người nông dân trước Cách mạng tháng Tám có nhiệm vụ sau:
Nêu những khái quát về cuộc đời, sự nghiệp, quan điiểm nghệ thuật của
tác gia Nam Cao.
Chỉ ra được những nét độc đáo, mới mẻ của Nam Cao khi viết về đề tài
người nông dân trước Cách mạng so với các nhà văn cùng thời cả về nội dung
và hình thức nghệ thuật.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng
Khoá luận lấy đối tượng khảo sát là các tác phẩm của Nam Cao trước
Cách mạng tháng Tám. Văn bản tác phẩm được trích dẫn rút từ Tuyển tập
Nam Cao - Nxb Văn học, 2003, do Hà Minh Đức tuyển chọn.
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Với khuôn khổ của một khoá luận tốt nghiệp và khả năng làm chủ tư
liệu có hạn chúng tôi nghiên cứu những sáng tạo mới mẻ của Nam Cao trong
những sáng tác về đề tài người nông dân trước Cách mạng tháng Tám. Ngoài
ra để thấy được nét mới, nét sáng tạo của Nam Cao khoá luận còn đặt sáng tác
của Nam Cao trong mối liên hệ đối chiếu so sánh với các tác giả cùng thời.
6. Phương pháp nghiên cứu


Khoá luận tốt nghiệp

NỘI DUNG
CHƯƠNG 1.

NAM CAO VÀ QUAN ĐIỂM NGHỆ THUẬT
CỦA NHÀ VĂN NAM CAO

1.1. Tác giả Nam Cao
1.1.1. Cuộc đời
Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri, sinh ngày 29-10-1917 tại làng Đại
Hoàng, phủ Lý Nhân (nay là xã Hoà Hậu, huyện Lý Nhân) tỉnh Hà Nam.
Làng Đại Hoàng của Nam Cao ở một vùng xa phủ, xa huyện nên bọn cường
hào chức dịch trong làng càng được dịp hoành hành. Nơi đây hàng năm vẫn
thường xuyên xảy ra những vụ kiện tụng lẫn nhau giữa những bọn nhà giàu có
nhiều thế lực, và không ít cảnh những người nông dân phải rời bỏ làng quê đi
tha phương cầu thực. Những sự việc có thực diễn ra ở đây đã được ghi lại trên
trang sách của Nam Cao với dấu ấn nặng nề về một vùng quê đói nghèo tăm
tối.
Nam Cao sinh trưởng trong một gia đình nghèo, đời sống khá chật vật,
trong các anh em chỉ có mình Nam Cao được đi học. Đói nghèo, bệnh tật đeo
đuổi và giày vò Nam Cao ngay từ những năm còn nhỏ. Thi thành trung trượt,
Nam Cao theo một người cậu làm may vào Sài Gòn kiếm sống. Rời bỏ cái
làng quê nghèo đói và tù túng Nam Cao mang theo nhiều dự định lớn lao.
Tưởng những miền xa quê hương sẽ mở ra một chân trời mới lạ, nhưng rốt
cuộc bệnh tật lại trả Nam Cao về với nơi chôn rau cắt rốn. Ở Sài Gòn về, Nam

Đặng Thị Huế - K32B Văn


nhập Đảng Cộng sản Đông Dương (1948).
Tháng 11 năm 1951, trên đường vào công tác vùng địch hậu Liên khu
Ba, Nam Cao bị địch phục kích và bắn chết gần bốt Hoàng Đan (Ninh Bình).

Đặng Thị Huế - K32B Văn

11


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Khoá luận tốt nghiệp

Cuộc đời Nam Cao cũng giống như cuộc đời của bao trí thức tiểu tư
sản khác, bao nhiêu khát khao, ước mơ hoài bão và lý tưởng đều không thực
hiện được. Nhà văn phải vật lộn với với miếng cơm manh áo ở đời, trải qua
mấy lần thất nghiệp, ngược xuôi khắp trong Nam ngoài Bắc nhưng cuộc đời
Nam Cao cũng sớm được soi sáng bởi ánh sáng của Đảng, của Cách mạng.
Chính Cách mạng đã giúp Nam Cao thoát khỏi những bế tắc, đưa Nam Cao ra
khỏi tâm sự u uất sống một cuộc sống thật sự có ý nghĩa.

1.1.2. Sự nghiệp sáng tác
1.1.2.1. Trước Cách mạng tháng Tám
Nam Cao có sáng tác đăng báo từ năm 1936, nhưng sự nghiệp sáng tác
văn học của ông chỉ thực sự bắt đầu từ truyện ngắn Chí Phèo (1941). Sáng tác
của Nam Cao trước Cách mạng tập trung vào hai đề tài chính : cuộc sống của
người trí thức tiểu tư sản nghèo và cuộc sống của người nông dân ở quê
hương. Dù viết ở đề tài nào thì điều Nam Cao quan tâm trước tiên và day dứt
tới đau đớn là tình trạng con người bị tha hoá, bị xói mòn về nhân phẩm thậm
chí bị huỷ hoại cả về nhân tính trong cái xã hội phi nhân đạo đương thời.

nhịn nhục thì càng bị chà đạp phũ phàng. Ông đặc biệt đi sâu vào những
trường hợp con người bị lăng nhục một cách độc ác bất công mà xét đến cùng
chẳng qua là vì họ nghèo đói khốn khổ. Tuy giọng văn lắm khi lạnh lùng
nhưng kì thực Nam Cao đã dứt khoát bênh vực quyền sống và nhân phẩm của
những con người bất hạnh, bị xã hội đẩy vào tình trạng nhục nhã đó (Chí
Phèo, Một bữa no, Tư cách mõ). Viết về người người nông dân bị lưu manh
hoá, nhà văn đã kết án sâu sắc cái xã hội tàn bạo, tàn phá cả thể xác và linh
hồn người nông dân lao động, đồng thời, ông vẫn phát hiện và khẳng định bản
chất đẹp đẽ của họ, ngay trong khi họ bị vùi dập tới mất cả hình người, tính
người. Nhà văn đã tự đặt ra vấn đề phải xác định “đôi mắt” đúng đắn để nhìn
nhận về quần chúng. Ông luôn có ý thức “cố mà tìm hiểu” cái “bản tính tốt”
của người nông dân nghèo thường bị “che lấp”, vùi dập. Trong nhiều tác
phẩm, Nam Cao không những đã vạch ra nỗi cùng cực của người nông dân
mà còn thể hiện cảm động bản chất đẹp đẽ, cao quý trong tâm hồn họ ( Lão
Hạc, Một đám cưới, Dì Hảo...)
1.1.2.2. Sau Cách mạng tháng Tám

Đặng Thị Huế - K32B Văn

13


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Khoá luận tốt nghiệp

Sau Cách mạng tháng Tám, Nam Cao lao mình vào mọi công tác cách
mạng và kháng chiến. Ông tự nguyện làm người cán bộ tuyên truyền vô danh
của Cách mạng và có ý thức tự rèn luyện cải tạo mình trong thực tế kháng
chiến. Truyện ngắn Đôi mắt (1948) là một thành công xuất sắc của văn nghệ

Khoá luận tốt nghiệp

Nam Cao là một trong số những nhà văn hiện thực phê phán (1930 1945) có ý thức sâu sắc về quan điểm nghệ thuật của mình. Những quan điểm
đó ít khi được phát biểu trực tiếp dưới dạng lý luận mà thường được bộc lộ
qua những sáng tác và hình tượng nghệ thuật của ông.
Quan điểm nghệ thuật chỉ được nảy sinh khi các nhà văn có ý thức
trách nhiệm về ngòi bút của mình, khi nghiền ngẫm sâu sắc về “những điều
trông thấy”, nghe thấy và bằng trái tim người nghệ sỹ muốn lên tiếng để chia
sẻ cảm thông hay phê phán, tố cáo một vấn đề nào đó. Nam Cao xuất hiện
trên văn đàn từ năm 1936 - 1939 với những bài thơ, truyện ngắn chịu ảnh
hưởng của văn học lãng mạn đương thời. Quá trình sáng tác của Nam Cao từ
chủ nghĩa lãng mạn đến chủ nghĩa hiện thực không đơn giản và cũng không
dễ dàng. Mãi đến năm 1940 khi Cái lò gạch cũ ra đời Nam Cao mới thực sự
cắm được cột mốc vinh quang trên con đường sáng tác theo khuynh hướng
hiện thực chủ nghĩa đồng thời mới hoàn toàn dứt bỏ được thứ văn chương
lãng mạn thoát ly. Như vậy phải mất gần năm năm Nam Cao mới cập bến chủ
nghĩa hiện thực, so với các nhà văn hiện thực tiền bối như Nguyễn Công
Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố thì quá trình “tìm đường” và “nhận
đường” ở Nam Cao diễn ra liên tục và vất vả hơn nhiều. Tuy nhiên, nhờ thế
mà giai đoạn sáng tác sung mãn nhất của đời văn Nam Cao luôn có sự đồng
hành của hệ thống các quan điểm nghệ thuật. Hiện thực không ở bên ngoài
hay phía trước để “dẫn đường” mà hoá thân trong chính những hình tượng
nhân vật sống động của tác phẩm như Điền (Trăng sáng), Hộ (Đời thừa),
Lộc (Truyện người hàng xóm)...
1.2.1. Trước Cách mạng tháng Tám
Trước hết, với Nam Cao văn chương nghệ thuật phải phản ánh chân
thực đời sống. Người nghệ không nên chạy theo cái đẹp, cái thơ mộng mà
quay lưng lại hiện thực để rồi viết ra toàn những điều giả dối và phù phiếm.

Đặng Thị Huế - K32B Văn

một vài kiểu mẫu đưa cho, văn chương chỉ dung nạp những người biết đào
sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì
chưa có”. Quan niệm này trở thành trở thành phương châm phấn đấu trong
suốt quá trình sáng tác của Nam Cao.

Đặng Thị Huế - K32B Văn

16


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Khoá luận tốt nghiệp

Người cầm bút phải có lương tâm trách nhiệm với nghề của mình. Đối
tượng của văn chương là con người, văn chương có nhiệm vụ bồi đắp tư
tưởng tình cảm lối sống cho con người, do đó yêu cầu người cầm bút phải tâm
huyết với nghề thấy được trách nhiệm to lớn của mình. Trong tác phẩm Đời
thừa ông viết: “Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương rồi.
Nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện”.
1.2.2. Sau Cách mạng tháng Tám
Cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, Nam Cao lên Việt Bắc tự
chiêm nghiệm và trải nghiệm “đôi mắt nghệ thuật” của mình. Từ khói lửa
chiến tranh lòng không nguôi nghĩ về tư cách “con dân nước Việt” về trách
nhiệm của nhà văn và văn chương trước vận mệnh dân tộc. Tự nhận định cho
đúng về mình cũng chính là nhìn người cho chân thực. Trong nhật kí Ở rừng
Nam Cao chân thành tâm sự: “Nhiều khi phải quên mình đi, quên cái tuổi của
mình để thành người có ích. Có cần gì phải cầy cục ghi tên mình lại cho lịch
sử ? Tạo ra lịch sử lại là sự nghiệp của số đông. Ta nên nghĩ đến cái số đông
nhiều hơn ta. Trước sự gian khổ và hi sinh lớn lao của cuộc chiến tranh vệ

khám phá chiều sâu số phận con người và cuộc đời ngay trong cái hàng ngày
ấm nồng hơi thở sự sống. Cội rễ ấy đã nuôi dưỡng và phát lộ tài năng văn
chương xuất chúng của ông, đưa ông trở thành nhà nhân đạo lớn, môt nhà
hiện thực bậc thầy.

CHƯƠNG 2. SÁNG TẠO CỦA NHÀ VĂN NAM CAO
TRONG SÁNG TÁC VỀ ĐỀ TÀI NGƯỜI NÔNG DÂN
TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM
2.1. Đề tài người nông dân trong văn xuôi hiện thực phê phán Việt Nam
1930 - 1945
Một khuynh hướng văn học bao giờ cũng xuất hiện trên cơ sở những
tiền đề xã hội nhất định. Những mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp
trong xã hội Việt Nam thời kì 1930 - 1945, những ảnh hưởng qua lại trên lĩnh
vực ý thức hệ, những tác phẩm hiện thực chủ nghĩa trong thế kỉ trước và thời

Đặng Thị Huế - K32B Văn

18


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Khoá luận tốt nghiệp

kì cận đại, đó là những tiền đề khách quan giúp cho khuynh hướng văn học
hiện thực phê phán hình thành và phát triển. Dòng văn học này đã đáp ứng
một phần những yêu cầu cơ bản của cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân
tộc lúc bấy giờ. Các nhà văn hiện thực bạn đường của giai cấp công nhân như
Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng... đã sử dụng chủ nghĩa hiện
thực phê phán như vũ khí chiến đấu. Bên cạnh đề tài quan lại, cường hào, đời


hoàn chỉnh bức tranh hiện thực cả về mặt phản ánh xã hội cũng như khả năng
biểu hiện nghệ thuật, người đã đưa dòng văn học này lên đến đỉnh cao với
nhiều tác phẩm có giá trị.
2.2. Sáng tạo của Nam Cao trong những sáng tác về người nông dân
trước Cách mạng tháng Tám
2.2.1. Sáng tạo về mặt nội dung
2.2.1.1 Đề cập đến cái đói và miếng ăn trên một bình diện mới
Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, lại ở một vùng quê mà
bọn cường hào ác bá chia bè kéo cánh, đục khoét bóc lột người dân Nam Cao
am hiểu thấm thía số phận người dân nghèo khổ. Lúc Nam Cao bước vào con
đường văn học cũng là lúc xã hội Việt Nam chao đảo ngột ngạt nhất. Các giai
cấp bị phân hoá dữ dội, đời sống người nông dân bị đe doạ hơn bao giờ hết.
Viết về người nông dân ở thời kì cùng quẫn bế tắc này, Nam Cao không dừng
lại ở hiện tượng bề mặt, ông cố gắng đi sâu vào bản chất sự vật và bày tỏ thái
độ đồng cảm xót thương đối với những tâm hồn đau khổ. Không như Tam
Lang, Trọng Lang và một số nhà văn lãng mạn khác, Nam Cao không nhìn
người nghèo với con mắt khinh bỉ giễu cợt nhưng cũng không thi vị hoá, lí
tưởng hoá họ. Tấm lòng yêu thương nhân đạo và sự hiểu biết sâu sắc về con
người, đời sống ở thôn quê đã giúp Nam Cao xây dựng được những hình
tượng nông dân sinh động. Từ một làng quê heo hút của mình nhà văn đã mở
rộng ra cả một thực trạng nông thôn đang thời kì lột xác. Đọc Ngô Tất Tố,
Nguyên Hồng chúng ta từng bắt gặp những con người bị dồn đẩy đến chân
tường và đã chứng kiến không ít những số phận éo le. Nhưng đến Nam Cao,
cảnh nghèo đã thấm qua từng trang sách và người đọc cứ day dứt không nguôi
về bi kịch của những con người bị đẩy đến tận đáy sâu thẳm của xã hội.
Phần lớn các truyện ngắn viết về đề tài người nông dân của Nam Cao ra
đời vào những năm 1940-1945. Cái dấu ấn một thời kì đen tối đã để lại khá

Đặng Thị Huế - K32B Văn

nhân phẩm, nhân tính của con người đang bị cái đói, miếng ăn làm cho tiêu
mòn đi, thui chột đi, huỷ diệt đi”. (Cái đói và miếng ăn trong truyện ngắn
của Nam Cao - Tạp chí kiến thức ngày nay, số 71,1/11/1991).
Bà cái đĩ trong Một bữa no thật đáng thương khi bị hành hạ, giày vò
trong cảnh đói quay quắt. Cái đói cứ dồn đẩy bà lão từng ngày, từ cảnh: “Hơn

Đặng Thị Huế - K32B Văn

21


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Khoá luận tốt nghiệp

ba tháng bà lão chỉ ăn toàn bánh đúc. Mới đầu còn được ngày ba tấm, sau
cùng thì một tấm cũng không có nữa. Tiền hết cả. Mỗi sáng bà ra chợ xin
người này một miếng, người kia một miếng”, đến cảnh: “mấy hôm nay bà
nhịn đói”. Thèm ăn lúc này không còn là nhu cầu bình thường nữa mà là vấn
đề giữa cái sống và cái chết, đẩy bà lão đến bước đường cùng buộc phải “nghĩ
ra một kế” mượn cớ đến chơi nhà đứa cháu đang đi ở kiếm bữa ăn. Bà lão,
bằng mọi giá cố ăn một bữa no trong sự lườm nguýt, gắt gỏng, chì chiết, nhục
mạ của bà phó Thụ. Nam Cao đã miêu tả tình cảnh của một con người với bao
đức tính tốt đẹp: thờ chồng nuôi con từ khi còn rất trẻ, hết nuôi con rồi lại
nuôi cháu, phải “chạy xạc cả gấu váy, hết chợ gần đến chợ xa, thì mới kiếm
nổi mỗi ngày mấy đồng xu”, đến khi “trận ốm thập tử nhất sinh” đã cướp một
chút sinh lực trong thân thể còm cõi của bà, đẩy bà đến tình cảnh phải từ bỏ
lòng tự trọng, từ bỏ nhân cách để đổi lấy một bữa ăn. Vì đói khát lâu ngày nên
khi được ăn, bà lão vội vàng ăn ngay, ăn nhanh, vì sợ người khác ăn hết mất.
Bà lão lập cập ăn vội nên rớt cả mắm ra ngoài, sau đó còn cạo nồi sồn sột...

lăn ra giãy chết”. Chỉ để thoả mãn sự thèm khát mà hắn đã nhẫn tâm làm thịt
và cùng với lũ bạn rượu đánh chén hết nhẵn cả một con chó, không cần biết
đó chính là nguồn lương thực nuôi cả nhà trong suốt nửa tháng trời. Thời gian
tưởng cứ kéo dài ra mãi khi ngòi bút khách quan lạnh lùng của nhà văn thản
nhiên miêu tả tỉ mỉ cảnh người cha cùng với đám bạn ung dung ngồi “ăn,
uống, tranh nhau nói và cười rung cả mái nhà” trong khi “người mẹ rất còm
cõi và bốn đứa con gầy ốm” quây quần với nhau trong xó bếp nóng lòng sốt
ruột đợi chút thức ăn thừa. Biết bao thèm khát, hi vọng chất chứa trong tiếng
hụ hị của những đứa con: “Đói! Bu ơi! Đói!” để rồi không thể nào tưởng
tượng nổi, chúng ngã ngửa người khi bất ngờ thấy “trong mâm chỉ còn bát
không”. Người cha ở đây thật không khác chi loài cầm thú khi hắn cùng với
đám bạn ăn uống no say, ăn hết cả phần con, để cho “thằng cu con khóc oà
lên, lăn ra, chân đập đập như người giãy chết, tay cào xé mẹ. Người mẹ đỏ
mũi lên và méo xệch đi, rưng rưng khóc”.
Như vậy, khi đề cập đến cái đói và miếng ăn, Nam Cao có một cách
nhìn nhận mới mẻ, độc đáo so với các nhà văn cùng thời. Viết cái đói không
chỉ là tiếng kêu cứu đói mà còn là tiếng kêu cứu lấy nhân phẩm, nhân tính con
người. Con người trong tác phẩm của Nam Cao không chỉ ôm nỗi khổ về vật
chất mà còn bị lăng nhục một cách tàn nhẫn về tinh thần. Trong đó “cái đói và

Đặng Thị Huế - K32B Văn

23


Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Khoá luận tốt nghiệp

miếng ăn” là yếu tố đẩy họ vào tình cảnh bần cùng hoá, lưu manh hoá. Nhân



Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Khoá luận tốt nghiệp

chăm chăm, chút chút làm để nuôi vợ nuôi con, vậy mà dần dần biến thành
thằng mõ tham ăn và ti tiện hơn cả “thằng mõ chính tông”. Vì nghèo túng, lại
bị mọi người xúm vào thuyết phục, bùi tai, Lộ nhận lời làm mõ. Nhưng khi
thấy Lộ làm mõ “ngon ăn quá”, mọi người sinh ra ngấm ngầm ghen tị với
hắn, vào hùa với nhau để làm nhục hắn. Trước sự hằn học , nhục mạ, khinh
ghét của những người xung quanh, Lộ đâm ra hối hận, bực tức, nhưng “sự đã
trót rồi, biết làm sao được nữa”. Bị mọi người làm nhục, Lộ có lúc thấy xấu
hổ cả với vợ, muốn bỏ phắt công việc, trả lại vườn, nhưng lại tiếc. Cứ như
thế, mỗi lần bị xúc phạm, Lộ lại tấm tức, lại thở ngắn thở dài nhưng rồi lại tặc
lưỡi, lại bất cần. Càng xúc phạm thì Lộ càng trơ trẽn, càng bị làm nhục thì hắn
càng không biết nhục. Lộ cứ tiến dần từng bước, từ chỗ hắn “bê cỗ về sân, đặt
lên phản, ung dung ngồi”, đến lúc hắn “đòi cỗ to, lúc ăn hắn lại còn đòi xin
thêm xôi, thêm thịt, thêm cơm nữa. Không đem lên cho hắn thì tự hắn xông
vào chỗ làm cỗ mà xúc lấy”.
Trong Nửa đêm, Nam Cao tập trung miêu tả quá trình tha hoá, lưu
manh hoá của Đức, từ một đứa bé “hiền như những con nhà thiếu ăn”, “ham
việc hơn ham sống” trở thành một thằng du côn, một tên giết người, một kẻ
điên loạn. Vừa mới sinh ra, Đức dã mang một nỗi nhục lớn bị cả làng khinh bỉ
: con của Trương Rự, một con thú độc ác đội lốt mệnh danh là “thiên lôi” chỉ
đâu đánh đấy. Mọi người “ghê tởm thằng bé khốn nạn mang trong huyết quản
cái máu ác ngược của quân giết người”. Cả một bầu không khí đầy những ghẻ
lạnh, khinh bỉ, hắt hủi vây quanh thằng Đức. Cả những người mẹ thừa sữa
cũng hắt hủi Đức không cho sữa, có kẻ thương hại thì “cho sữa rồi vội vàng
lau rửa vú cho thật kĩ càng sạch sẽ”. Đến khi lớn, Đức mon men đến chơi với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status