nghệ thuật điển hình hoá trong những sáng tác tiêu biểu trước cách mạng tháng tám của nguyễn công hoan (2) - Pdf 24

PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ do chọn đề tài
Chủ nghĩa hiện thực phê phán Việt Nam với tư cách là một trào lưu,
một phương pháp sáng tác ra đời muộn hơn ở phương Tây nhưng đã có rất
nhiều thành tựu. Mét trong những điểm nổi bật của chủ nghĩa hiện thực phê
phán là nghệ thuật điển hình hoá. Đây là vấn đề lí luận và thực tiễn đã thu
hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu văn học song vẫn còn nhiều vấn
đề có thể khai thác toàn diện hơn.
Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) là một nhà văn xuất sắc của trào lưu
hiện thực phê phán với sở trường là truyện ngắn trào phúng. Nguyễn Công
Hoan sáng tác trong thời gian cả trước và sau Cách mạng tháng Tám nhưng
những tác phẩm ra đời trước Cách mạng được đánh giá là thành công, phong
phú và chiếm khối lượng lớn trong toàn bộ di sản văn học mà ông để lại.
Là một đại diện xuất sắc của trào lưu hiện thực phê phán, song chủ yếu
các nghiên cứu đối với sáng tác của nhà văn đều hướng về nghệ thuật trào
phúng, về tiếng cười đả kích. Phần nghiên cứu tìm hiểu nghệ thuật điển
hình hoá trong truyện ngắn và tiểu thuyết tiêu biểu của Nguyễn Công Hoan
còn Ýt được đề cập. Thông qua đề tài “Nghệ thuật điển hình hoá trong
những sáng tác tiêu biểu trước Cách mạng tháng Tám của Nguyễn
Công Hoan”, người viết mong muốn góp thêm tiếng nói đối với một nhà
văn mình yêu quý.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1. Trước năm 1945:
Trước năm 1945, điển hình hoá của chủ nghĩa hiện thực phê phán
Việt Nam chưa trở thành đối tượng khảo sát của lĩnh vực nghiên cứu văn
học. Các bài viết chủ yếu dừng lại ở góc độ đánh giá tác phẩm riêng biệt.
Ngay từ khi mới ra đời, tác phẩm của Nguyễn Công Hoan đã được
các nhà phê bình và nghiên cứu quan tâm. Tuy nhiên đứng ở góc độ điển
1
hình hoá mới chỉ là những nhận xét sơ lược. Năm 1932, trong bài viết Lược
khảo về sự tiến hoá của quốc văn trong lối viết tiểu thuyết đăng trên báo

bút”, “Tài nghệ của nhà văn là ở cách kể chuyện” và Hoài Thanh đánh giá
“Văn Nguyễn Công Hoan xem mệt mà có Ých. Văn như thế xem khôn
người ra (24; 266). Ngoài việc khẳng định Nguyễn Công Hoan “biết vẽ
người bằng những nét vẽ ngộ nghĩnh thần tình, biết vấn đáp bằng những
giọng hoạt kê lí thú và biết kết cấu thành những tấn bi hài kịch”, Thiếu Sơn
đã phát hiện “Nguyễn Công Hoan rất sở trường về cái luật tương phản…bày
ra hai cảnh tượng trái ngược nhau để cảnh này làm tăng ý nghĩa cảnh kia”
(24; 275). Phê bình tập Kép Tư BÒn, Trần Hạc Đình còn tinh tế khi cảm
nhận được tình cảm thái độ của Nguyễn Công Hoan khi “vẽ cái đau đớn khổ
sở lầm than của hạng cùng đinh nghèo khó và cái giả trá xấu xa bất lương
của bọn quyền quý trưởng giả” là thái độ bất bình phẫn uất muốn đạp đổ xã
hội giả dối và ô trọc. Tác giả Trần Hạc Đình cũng khẳng định “tiếng cười
mỉa mai lạnh lùng trong đó Èn cả một tấm lòng cảm động, đau đớn ê chề vì
những điều trông thấy…Tiếng cười Êy cũng như tiếng cười của Molière,
nghe còn thảm hơn tiếng khóc” (24; 282,283).
Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại đã có nhiều ý
kiến sâu sắc về truyện Nguyễn Công Hoan. Theo ông, phần nhiều truyện
ngắn Nguyễn Công Hoan “linh động, có nhiều bất ngờ …”. Tác giả dẫn một
đoạn trong Thằng ăn cắp và đánh giá “tả chân tuyệt khéo”, “đặc kiểu Guyde
Maupassant”…
Nhìn chung, trước Cách mạng Tháng Tám, do hạn chế về phương
pháp luận nghiên cứu khoa học nên các bài phê bình văn học về Nguyễn
Công Hoan mới chỉ dừng lại ở mức độ đánh giá mối quan hệ giữa văn học
và đời sống, chưa có phát hiện dù sơ sài ở góc độ nghệ thuật điển hình hoá.
2.2. Sau năm 1945
3
Sau thành công của Cách mạng Tháng Tám, phương pháp luận
nghiên cứu khoa học thực sự phát triển và nghệ thuật điển hình hoá của chủ
nghĩa hiện thực phê phán Việt Nam bắt đầu được xem xÐt. Những nguyên lí
về lí luận văn học của giáo sư Hà Minh Đức đã dành gần trọn một chương

“Nguyễn Công Hoan có sở trường về mặt khắc hoạ tính cách nhân vật phản
diện. Ông thường dựng lên những chân dung biếm hoạ theo kiểu phóng
đại…Phóng đại cũng là một biện pháp tô đậm một số nét điển hình của nhân
vật phản diện làm cho người đọc tập trung chó ý vào những nét chủ đạo đó”
(24; 179).
N.I. Niculin, nhà Việt Nam học người Nga trong bài viết Nguyễn
Công Hoan mét bậc thầy về truyện ngắn châm biếm đã nhận xét sâu sắc về
năng lực tuyệt vời của nhà văn “tinh mắt nhìn thấy những tình huống hài
hước và có tài nhận ra đằng sau những sự việc thoạt tưởng nhỏ nhặt các vấn
đề quan trọng của thời đại” và khẳng định “Văn châm biếm của Nguyễn
Công Hoan là vũ khí của cái thiện” (24; 368).
Năm 1974, cuốn Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại của giáo sư Phan Cự
Đệ ra đời. Đây là một công trình nghiên cứu toàn diện và công phu nền tiểu
thuyết Việt Nam hiện đại trên nhiều vấn đề lớn mà đến nay vẫn còn nguyên
giá trị. Tác giả đã dành 44 trang viết về vấn đề điển hình hoá trong tiểu
thuyết hiện thực phê phán. Tác giả Phan Cự Đệ khẳng định thành tựu quan
trọng của tiểu thuyết hiện thực phê phán “đã biết đặt những tính cách điển
hình trong hoàn cảnh điển hình”, trong đó Nguyễn Công Hoan được nhắc
đến với tác phẩm Bước đường cùng.
Năm 1989, sau nhiều tập hợp tư liệu và nghiên cứu, trong cuốn Tổng
tập văn học Việt Nam- tập 29A, giáo sư Phan Cự Đệ khẳng định đặc trưng
của văn học hiện thực phê phán về nghệ thuật điển hình hoá “Thành công
chủ yếu của tiểu thuyết Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công
5
Hoan…là đã xây dựng được những tính cách điển hình đa dạng và phong
phó về mặt thẩm mỹ, đặc biệt là những tính cách có quá trình phát triển tâm
lí” (13, 47).
Được coi là một nhà nghiên cứu toàn diện nhất về Nguyễn Công
Hoan, PGS. TS Lê Thị Đức Hạnh đã có nhiều phát hiện sâu sắc mới mẻ
trong đó có nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Công Hoan “phác hoạ tài tình

trong từng thời kì lịch sử, do đó cần sự nhìn nhận linh hoạt, toàn diện. Nói
đến nghệ thuật điển hình hoá là nói đến điểm hội tụ của trình độ nhận thức
hiện thực, của tư tưởng, năng lực sáng tạo của tác giả. Nói đến cùng thì mọi
phương diện nghệ thuật cũng như giá trị nội dung của một hình tượng điển
hình đều có dấu Ên của điển hình hoá. Do vậy, nghiên cứu truyện ngắn
Nguyễn Công Hoan dưới góc độ điển hình hoá thực chất là đi tìm hiểu toàn
diện giá trị hiện thực, ý nghĩa xã hội của hệ thống các hình tượng trong tác
phẩm. Qua đó, luận văn góp thêm một tiếng nói khẳng định tài năng độc đáo
của nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp hệ thống: Đặt điển hình hoá trong các sáng tác tiêu
biểu của Nguyễn Công Hoan trước Cách mạng tháng Tám trong hệ thống
điển hình hoá của dòng văn học hiện thực phê phán để thấy được nét đặc thù
trong sáng tác của nhà văn.
4.2. Phương pháp so sánh: so sánh Nguyễn Công Hoan với các tác giả
tiêu biểu khác của dòng văn học 1930 -1945 như Ngô Tất Tố, Vũ Trọng
Phụng, Thạch Lam, Nam Cao, Nguyên Hồng…
4.3. Phương pháp phân tích tác phẩm, phân tích nhân vật…
5. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được tổ chức thành 3
chương chính:
7
Chương I: Quan điểm nghệ thuật về con người và khuynh hướng điển
hình hoá của Nguyễn Công Hoan
Chương II: Xây dựng tình huống độc đáo
Chương III: Thủ pháp khắc hoạ tính cách điển hình
NỘI DUNG
Chương I
QUAN ĐIỂM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI VÀ KHUYNH
HƯỚNG ĐIỂN HÌNH HOÁ CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN

ổi, xấu xa. Giáo sư Phan Cự Đệ đã nhận xét: “Đi vào thế giới truyện ngắn
Nguyễn Công Hoan, ta có cảm tưởng như bước vào mét khu triển lãm phong
phú, nhiều màu nhiều vẻ về những cảnh ngộ, những con người đang múa
may, khóc cười trong xã hội cũ. Có những truyện độc ác tàn nhẫn, những
truyện xấu xa rởm hợm, những truyện thương tâm ai oán cùng những truyện
nực cười lố lăng trong cái xã hội thực dân phong kiến đầy những ngang trái
bất công…” (24; 177).
Trong các tác phẩm của mình, Nguyễn Công Hoan đã thể hiện một
cách nhìn đời độc đáo. Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra cách nhìn đời như một
sân khấu hài kịch, một tấn trò nhố nhăng, giả dối của Nguyễn Công Hoan.
Cách nhìn Êy xuất phát từ lập trường quan điểm của tầng lớp quan lại xuất
thân khoa bảng bị thất thế. Hơn nữa nhà văn lại có khiếu hài hước “ranh
mãnh tinh nghịch và hay chế nhạo”, lại sinh trưởng trong mét gia đình quan
lại lỗi thời bị lép vế “chịu sự giáo dục hằn học với quan lại ôm chân đế quốc
để mưu cầu phú quý trên lưng những người nghèo hèn”, lại sớm chứng kiến
cảnh đời nhiều ngang trái bất công…Tất cả những tiền đề Êy làm nên một
cách nhìn đời vô cùng đặc biệt. Trong hồi kí Đời viết văn của tôi, Nguyễn
9
Công Hoan đã tâm sự: “Tôi là người bi quan hoài nghi nên khinh thế ngạo
vật, hay đùa và hay chế nhạo. Sống dưới chế độ thực dân, tôi thấy cái gì cũng
là giả dối lừa bịp đáng khôi hài. Thế mà thằng làm trò khôi hài là thằng thực
dân, lại làm ra mặt nghiêm chỉnh. Thật là buồn cười, nên tôi hay chế giễu mỉa
mai. Tôi coi thường tất cả. TÊt cả đối với tôi chỉ là trò cười. Tôi viết tiểu
thuyết cũng mang giọng nói thẳng của tôi là trào phúng và hài hước” (22;
367).
Ngay từ nhỏ, Nguyễn Công Hoan đã có khiếu hài hước. Ông diễn trò
cho gia đình và những người giúp việc xem “Tôi bắt chước Môlie, tôi cũng
làm hài kịch. Những hài kịch của tôi mới đầu chỉ là những màn ngắn mà
diễn viên cương ra những câu nói nhảm để chế ông thầy bói thầy cúng
phỏng theo truyện tiếu lâm. Diễn viên chính bao giờ cũng là tôi. Diễn viên

thuẫn và giả dối được phát hiện qua giác quan nhạy bén đặc biệt đã tạo nên
bức tranh trào phúng đặc sắc sinh động “có một không hai”.
1.2. Nhân vật diễn trò, con người tha hoá
Quan niệm nghệ thuật về con người là nguyên tắc lí giải của chủ thể
sáng tác. Con người là đối tượng chủ yếu của văn học, tất cả những gì liên
quan đến con người, thuộc về con người đều nằm trong phạm vi biểu hiện
của văn học. GS Trần Đình Sử cho rằng “Muốn tìm hiểu quan niệm nghệ
thuật về con người thì phải xuất phát từ các biểu hiện lặp đi lặp lại của nhiều
nhân vật thông qua các yếu tố bền vững được tô đậm dùng để tạo nên
chúng” (50; 66). Nói cách khác, nhân vật văn học là “yếu tố cơ bản nhất
trong tác phẩm văn học, tiêu điểm để bộc lộ chủ đề và tư tưởng của chủ đề,
đến lượt mình, nó lại được các yếu tố có tính chất hiện thực của tác phẩm
tập trung khắc hoạ. Nhân vật, đó là nơi tập trung giá trị tư tưởng nghệ thuật
của tác phẩm văn học” (34; 27). Như vậy, văn học không thể thiếu nhân vật
“đó là hình thức cơ bản để qua đó văn học miêu tả thế giới một cách hình
11
tượng. Bản chất văn học là mối quan hệ đối với đời sống qua những chủ thể
nhất định, đóng vai trò như những tấm gương của cuộc đời” (38; 62).
Được chi phối bởi quan niệm nghệ thuật rất riêng mang tính độc đáo,
Nguyễn Công Hoan đã xây dựng lên những hình tượng nghệ thuật nhân vật
diễn trò, con người tha hoá. Thông qua cái nhìn mang tính phát hiện đầy sắc
sảo, Nguyễn Công Hoan nhận diện cả một xã hội đang diễn trò. Sân khấu
của trò diễn là bối cảnh xã hội, nhân vật diễn trò bằng những hành động, cử
chỉ và ngôn ngữ đầy chủ động. Ở đó có trò diễn của nhà nước với dân đen
(Đào kép mới, Tinh thần thể dục), trò diễn của vợ với chồng (Một tấm
gương sáng, Thế là mợ nó đi Tây, Nỗi vui sướng của thằng bé khốn nạn),
chồng với vợ (Xuất giá tòng phu, Cho tròn bổn phận); trò diễn của con cái
với bố mẹ (Báo hiếu, trả nghĩa cha; Báo hiếu trả nghĩa mẹ); trò diễn của
các cô gái mới tân thời Âu hoá, vui vẻ trẻ trung (Cô Kếu, gái tân thời; Oẳn
tà roằn) và nhiều nhất, đa dạng phong phú nhất là trò diễn của quan lại,

buồn vào men rượu song “càng uống càng tỉnh”. Chí đã xách dao đến nhà
Bá Kiến gào lên những tiếng kêu căm giận, tuyệt vọng để rồi giết Bá Kiến
và giết luôn cả chính mình. Mối tình với Thị Nở đã giúp Chí nhận thức được
tình người là đẹp đẽ, cuộc sống lương thiện giản dị và đáng mơ ước biết
chừng nào. Khi bản chất tốt đẹp trong con người Chí bừng tỉnh là lúc Chí
phải đau đớn chấp nhận chọn lựa cái chết. Nội dung tác phẩm Chí Phèo
không đơn giản là số phận của một kẻ bị lưu manh hóa trong xã hội thực dân
phong kiến mà còn là một lời tố cáo xã hội thối nát, một sự bày tỏ những
khát vọng nhân đạo, một sự thức tỉnh đối với người đọc về sự bất tử của
nhân tính con người.
Nhân vật Tám Bính trong Bỉ vá của Nguyên Hồng sau bao nhiêu nổi
chìm đau đớn vẫn không nguôi hi vọng khát khao “trở về với con, làm ăn
sum họp”. Sống với Năm Sài gòn, nhận thức rõ cuộc đời tội lỗi của Năm,
13
Tám Bính đã muốn dứt bỏ tất cả để trở về cuộc sống lương thiện, làm ăn tần
tảo bằng đôi vai bé nhỏ của mình. Và ngay cả khi tội lỗi vây chặt lấy nàng,
nhân tính thánh thiện trong con người nàng vẫn trỗi dậy với bao xấu hổ và
xót xa, nàng “ghê sợ cho cái dấu vết mãi mãi xấu xa của đời mình” (26;
169). Trong nhiều tác phẩm, Nguyên Hồng đã miêu tả một cách chân thật
đau đớn và dữ dội quá trình bần cùng hoá và lưu manh hoá của dân nghèo
thành thị. Những con người Êy dù quằn quại trong bóng tối nhưng “vẫn
muốn ngoi lên ánh sáng như những mầm cây xanh” (Ngọn lửa).
Còn dưới lăng kính của Vũ Trọng Phụng, xã hội “khốn nạn”, “chó
đểu” cộng với bao thói hư tật xấu mà ông cho là thuộc về bản chất con
người đã đẩy con người vào tình trạng tha hoá “Đời chỉ toàn là những sự vô
nghĩa lí, đời là một cơn giông tố làm đảo điên tất cả”. Bè con trở thành kẻ
thù, anh em ruột trở thành chồng vợ (Giông tè), kẻ nghèo đói trở thành triệu
phú, kẻ mạt hạng biến thành vĩ nhân (Số đỏ). Tất cả quay cuồng điên loạn
trong một xã hội mất hết tính người. Con người trong xã hội Êy đầy nhơ
nhớp xấu xa. Nhân vật Mịch và Long trong Giông tè đều thay đổi nhanh

nhỏ lỡ đụng vào, là có thể làm chảy ra hàng lít nước nhờn mà ta quen gọi là
mỡ” (20; 61). Nguyễn Thanh Tó trong luận văn viết năm 1994 “Nghệ thuật
trào phúng trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan” đã phân tích rất chi tiết
những biểu hiện nhân vật tha hoá trong sáng tác của Nguyễn Công Hoan.
Với người nghèo, ông gọi họ là nó, là thằng, là con, là anh cu, chị cu, là anh
đĩ, chị đĩ. Với kẻ giàu có là những khuôn mặt thịt vô hồn, là cây thịt.
Nguyễn Thanh Tú còng chia ra ba loại người tha hoá trong các tác phẩm tiêu
biểu của Nguyễn Công Hoan. Đó là con người xấu xí về ngoại hình, con
người xấu xí về tính cách; con người thấp hèn và con người bi thảm.
Đúng thế, đọc truyện Nguyễn Công Hoan người đọc luôn bị ám ảnh
bởi sự tha hoá về nhân hình và nhân tính trong các nhân vật của ông. Thế
15
giới nhân vật trong sáng tác của Nguyễn Công Hoan hầu như đều có một
ngoại hình xấu xí. Điều này đã trở thành một ý thức thẩm mỹ trong sáng tác
của ông. Khi miêu tả bọn quan lại cường hào ngòi bút của ông không ngần
ngại dựng lên những bức tranh đả kích. Đó là vẻ xấu xí kì dị đến ghê tởm
của hạng người giàu có, quyền thế mà đểu cáng bất nhân. Sự xấu xí về ngoại
hình đồng nghĩa với sự xấu xa về nhân cách về bản chất. Hàng loạt bức chân
dung quan lại được Nguyễn Công Hoan vẽ theo nguyên tắc vật hoá. Đây là
bức chân dung quan huyện Hinh “Chà! Chà! Béo ơi là béo! Béo đến nỗi giá
có thằng dân nào vô ý buột mồm nói một câu sáo rằng “Nhờ bóng quan lớn,
là ông tưởng ngay nó nói xỏ ông. Tức thì mặt bàn là một, mặt nó là hai bị vả
đôm đốp. Trên mép ông, đã bao công trình mới cÊy được từng Êy râu cho
khác hẳn với tụi huyện trẻ nhãi” (Đồng hào có ma). Đây là bức chân dung
quan nghị Trinh “Một người mặt mũi phương phi, cổ rụt, bụng phệ, môi trễ
mà không râu, mặc quần áo lụa, phe phẩy cái quạt ra vườn chơi”(Hai thằng
khốn nạn). Và chân dung quan phụ mẫu trong tiểu thuyết Bước đường cùng
cũng là khuôn mặt thịt vô cảm không tâm hồn.
Không chỉ miêu tả nhân vật tha hoá là kẻ giàu có, quyÒn thế, khi
miêu tả người nghèo, Nguyễn Công Hoan cũng đã nhìn thấy ở họ sự xấu xí

Việt Nam: Xây dựng tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình
Việt Nam từ thế kỉ XIX trở về trước tuy là một nước nhỏ chậm phát
triển với nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu nhưng có nền văn hoá lâu đời. Trải
qua bao thử thách dưới áp lực thôn tính thường trực của phong kiến phương
Bắc, nhân dân ta vẫn giữ được bản sắc văn hoá với tâm hồn, trí tuệ và sức
sống bất diệt của con người Việt Nam. Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng
xâm lược nước ta, nền văn hoá Việt Nam có nhiều thay đổi. Một tầng lớp trí
thức Tây học xuất hiện, tầng lớp này sống nhờ vào nhà nước bảo hộ và
được hưởng đặc ân đặc quyền của Pháp. Thực dân Pháp sử dụng họ như một
17
công cụ đắc lực làm tay sai tuyên truyền cho những chính sách phản động và
ru ngủ tầng lớp thanh niên. Mục đích của chúng được thể hiện rất rõ trong
diễn văn khai mạc nghị viện Bắc Kì của thống sứ Pháp Đextơnây “Như vậy,
trách nhiệm nhà nước có hai điều: một là coi giữ trong nước được thái bình,
khỏi hỗn độn; hai là phải dẫn lối cho dân được tấn tới được phấn chấn hơn.
Nếu nhà nước trễ nải, không thi hành điều thứ hai thì nước sinh ra nhốn
nháo, rồi sau sinh ra xôn xao loạn lạc. Bởi vì trong nước thì tự nhiên lòng
người dần dần biến hoá, ý kiến từ từ nảy nở, không có luật lệ nào ràng bó lại
được. Từ ngoài tư tưởng mới cứ lẳng lặng tràn vào không có thành luỹ nào
ngăn cản được” (16- II; 174). Vì thế, thực dân Pháp ra sức kiểm duyệt sách
báo và đàn áp tư tưởng tiến bộ “Về mặt văn hoá, thực dân Pháp còn thi hành
chính sách ngu dân. Chúng mở nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng bắt học
sinh các trường tư thục từ mười tám tuổi trở lên phải đóng thuế thân để con
em nghèo không được đi học. Kết quả là hơn 90% nông dân mù chữ” (8;
308).
Từ năm 1900 đến 1945, văn hoá Việt Nam chịu ảnh hưởng mạnh của tư
sản phương Tây trong “Hành lang của văn hoá Pháp”. Tuy vậy, dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và ảnh hưởng của phong trào cách
mạng, văn học Việt Nam ngày càng phát triển trong đó chủ nghĩa hiện thực
càng có ý thức hơn khi hướng về con người trong cảnh lầm than để thức tỉnh

đức. Hệ thống nhân vật cũng dần đông đảo với đầy đủ các khuôn mặt xã hội.
Trong các sáng tác của Hồ Biểu Chánh, người đọc dễ dàng nhận ra nhân vật
thợ thuyền, gái điếm, trẻ bán báo, thông ngôn kí lục, tá điền điền chủ, cường
hào ác bá, hương chức hội tÒ… “Hồ Biểu Chánh đã bóc trần những lớp
vàng son giả hiệu, đã lột mặt nạ những thủ đoạn lừa phỉnh nhơ nhớp, ti tiện
của bọn địa chủ phong kiến” (8- II; 38). Trong tiểu thuyết Tiền bạc, bạc
tiền, Hồ Biểu Chánh tố cáo sự khuynh đảo của đồng tiền trong xã hội Việt
19
Nam trên con đường tư sản hoá. Đồng tiền sai khiến con người làm điều bất
nhân, biến quan hệ huyết thống thành mối quan hệ giả tạo, biến tình yêu và
quan hệ vợ chồng gắn bó thiêng liêng thành những trò hề. Tuy các tính cách
nhân vật còn đơn giản nhưng Tiền bạc, bạc tiền vẫn rất có giá trị, có nhiều
bước tiến gần tới điển hình hóa. Truyện Mạng nhà nghèo của Nguyễn Bửu
Mọc lại xoanh quay gia đình tá điền Năm Vạn, Thị Bần và cô con gái Kim
Sa. Họ bị xã hội áp bức đến cùng cực, thậm chí bị bức tử. Bộ mặt xã hội
thực dân phong kiến hiện lên có sức nặng tố cáo sâu sắc.
Truyện ngắn Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tèn xây dùng hai
cảnh đối lập có tính kịch cao. Một bên là bức tranh cơ cực của những thân
phận con sâu cái kiến bé nhỏ chống chọi và bất lực trước sự hung dữ của
thiên tai “lũ con dân đang chân lấm tay bùn, trăm lo ngàn sợ, đem thân hèn
yếu mà đối với sức mưa to, nước lớn”. Còn bên kia là cảnh trong đình làng,
quan phụ mẫu, người có trách nhiệm cao nhất trong việc bảo vệ an toàn tính
mạng và tài sản cho dân thì lại ở trong đình “uy nghi chễm chệ” say sưa
chơi tổ tôm mặc dân tình lo lắng khốn khổ. Nhà văn đã có dụng ý tố cáo sâu
sắc khi cảnh bên ngoài đê chỉ được miêu tả vừa đủ còn cảnh trong đình được
miêu tả tỉ mỉ. Kịch tính của truyện phát triển theo diễn biến ván bài mà quan
phụ mẫu đang chờ ù trong tương quan với tiếng vọng bên ngoài về con đê
sắp vỡ. Lóc quan cha mẹ dân mãn nguyện được ván bài ù cũng là lúc “khắp
mọi nơi, nước tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, nhà cửa trôi băng, lúa má
ngập hết; kẻ sống không chỗ ở, kẻ chết không nơi chôn, lênh đênh mặt

tưởng, ý thức hệ hình thành những quan điểm, những tâm lí thẩm mĩ và
nhiều khuynh hướng trào lưu văn học khác nhau. Cuộc tranh luận nghệ thuật
giữa hai phái “Nghệ thuật vị nghệ thuật” và “Nghệ thuật vị nhân sinh” đã
khẳng định phần thắng nghiêng về phái nghệ thuật vị nhân sinh, hướng dòng
văn chương vào cuộc sống, phục vụ cuộc sống. Ở trào lưu hiện thực phê
21
phán, các nhà văn đã dám nhìn thẳng vào cuộc sống, dám phanh phui hiện
thực và biểu hiện rõ thái độ bất bình với chế độ thuộc địa nửa phong kiến.
Nếu như chủ nghĩa lãng mạn đã có nét nhân văn đem lại sinh khí mới cho
văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX song vẫn là thứ nhân văn tư sản thiếu tính
hiện thực thì văn học hiện thực phê phán đã hướng tới những con người
cùng khổ. Ngòi bút của Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Nguyên
Hồng, Vũ Trọng Phụng… đều hướng về cuộc sống. Đối tượng các nhà văn
hiện thực quan tâm không phải là những chàng, những nàng mà là mối quan
hệ giai cấp, là bộ mặt xấu xa của tầng lớp thống trị đương thời và nỗi thống
khổ của những lớp người dưới đáy. Hiện thực khách quan mà văn học phản
ảnh là những mặt nghịch chiều của đời sống. Chủ nghĩa hiện thực vạch rõ sự
bất công về cuộc đời hướng con người tới thế giới lương thiện, nhìn thẳng
vào đời sống để phanh phui nã ra để khám phá mạch ngầm trong dòng chảy
chung của xã hội. Nét đặc trưng cơ bản của văn học hiện thực phê phán là
nghệ thuật điển hình hoá.
Điển hình là một hiện tượng nghệ thuật phổ biến có ở nhiều trào lưu
sáng tác như chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa lãng mạn và ngay cả trong nghệ
thuật dân gian. “Điển hình trong nghệ thuật là những nét, những tính cách cơ
bản nhất, quan trọng nhất và nổi bật nhất trong đời sống xã hội được tập
trung biểu hiện và nâng cao qua sự sáng tạo của nghệ sĩ nhưng chung quy nã
vẫn là cuộc sống” (4; 259).
Điển hình là những hình tượng nghệ thuật có chất lượng cao kết
tinh tư tưởng tình cảm và vốn sống, tài năng sáng tạo của nhà văn, nó phản
ánh sinh động bản chất và quy luật của hiện thực đời sống trong một hình

Trong chủ nghĩa hiện thực, cá nhân tự nó là đối tượng trực tiếp của
sự miêu tả, cái khái quát, cái điển hình toát ra từ tính cách con người cụ thể.
Cá tính cao độ của nhân vật sẽ làm nó trở nên sinh động. Nhân vật của chủ
23
nghĩa hiện thực phê phán hiện ra với những cá tính sinh động từ lí lịch, dáng
vẻ, tác phong, hành động đến ngôn ngữ làm cho người đọc như được tiếp
xúc với những con người cụ thể ở ngoài đời đồng thời các nhân vật của chủ
nghĩa hiện thực là tiêu biểu cho thời đại. Tính chung và tính riêng có mối
quan hệ hữu cơ không tách rời nhau. Tính cách điển hình phải được đặt
trong hoàn cảnh điển hình “Cũng như tính cách điển hình, ý nghĩa tiêu biểu
khái quát của hoàn cảnh điển hình phải thông qua tính chÊt cụ thể riêng biệt
của nó. Cái hiện lên trước mắt người đọc chính là những hoàn cảnh cụ thể
riêng biệt này. Qua những nét cụ thể riêng biệt đó, người đọc cảm nhận
được những vấn đề xã hội rộng lớn” (33; 532).
Với nguyên tắc lịch sử - cụ thể và nguyên tắc phản ánh bản chất qui
luật đời sống hiện thực bằng chính hiện thực đời sống, chủ nghĩa hiện thực
phê phán có lợi thế trong việc xây dựng nên những hoàn cảnh điển hình. Đó
là hoàn cảnh của những nhân vật được tái hiện vào trong tác phẩm phản ánh
được bản chất hoặc một vài khía cạnh bản chất trong những tình thế xã hội
với mối quan hệ nhất định. Chủ nghĩa hiện thực phê phán bác bỏ cách thức
chủ quan, chú trọng quan điểm khách quan, đòi hỏi nhà văn xuất phát từ
thực tại, xem xét sự vật trong hoàn cảnh quan hệ xã hội tình thế mâu thuẫn
và đấu tranh giai cấp. Chủ nghĩa hiện thực phê phán không tìm đến thế giới
xa lạ mà tìm đến những đối tượng quen thuộc phổ biến của đời sống quanh
ta dù đó chỉ là những cảnh đời vụn vặt nhàm chán. Chủ nghĩa hiện thực còn
bao trùm cả phạm vi hiện thực tập trung vào khát vọng của con người với
những biểu hiện phong phú phức tạp, phát hiện bản chất qui luật khách quan
của đời sống bằng chính hiện thực đời sống, là sự “bắt mạch cuộc đời”.
Cũng như tính cách điển hình, ý nghĩa tiêu biểu của hoàn cảnh điển
hình phải thông qua tính cụ thể riêng biệt của nó để người đọc cảm nhận

25

Trích đoạn Những thành tựu nghệ thuật điển hình hoá của văn học hiện thực phê phán Việt Nam 1930 THỦ PHÁP KHẮC HOẠ TÍNH CÁCH ĐIỂN HÌNH 1 Miêu tả ngoại hình nhân vật qua lăng kính trào phúng Miêu tả tính cách qua cử chỉ hành động Miêu tả tính cách qua ngôn ngữ đối thoại và độc thoạ đến cách mạng tháng Tám NXB Chính trị Quốc gia.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status