TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
***************
TRƢƠNG ANH TUẤN
Một số giải pháp phát triển DNNN ở Việt Nam
trong bối cảnh hội nhập
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: kinh tế chính trị
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
GV. Nguyễn Thị Nhung
HÀ NỘI - 2012
1
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới cô giáo
Nguyễn Thị Nhung giảng viên hướng dẫn, đã tận tình chỉ bảo,
đóng góp ý kiến quý báu giúp em hoàn thành khóa luận này.
Đồng thời em cũng xin bày tỏ lời cảm ơn tới các thầy, cô trong
trường ĐHSPHN 2. Đặc biệt là các thầy cô trong khoa Giáo Dục
Chính Trị đã giảng dạy giúp đỡ em trong suốt thời gian qua.
Do hạn chế về mặt thời gian cũng như kiến thức bản thân nên
đề tài này khó tránh khỏi thiếu sót, vì vậy rất mong được sự đóng
góp ý kiến của thầy, cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
1. Lý do chọn đề tài
Đại hội lần thứ VI của đảng (1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện
đất nước, trong đó phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo
cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa (XHCN) . Chủ trương này đã được các Đại hội VII, VIII, IX, X, và XI
tiếp tục khẳng định bổ sung và làm rõ thêm. Trong quá trình thực hiện chính
sách kinh tế nhiều thành phần, đảng ta luôn khẳng định thành phần kinh tế
Nhà nước mà cốt lõi là hệ thống doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đóng vai trò
chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, là lực lượng vật chất quan trọng và là
công cụ để nhà nước ta điều tiết vĩ mô nền kinh tế nước ta theo định hướng
XHCN.
Hiện nay, DNNN có mặt ở hầu như tất cả các ngành và các lĩnh vực hoạt
động kinh tế then chốt, tuy nhiên so với tiềm năng là chưa tương xứng, chưa
đạt được mục tiêu mà nhà nước mong muốn.
Trong thời gian qua, Nhà nước đã thực hiện nhiều biện pháp trợ giúp
doanh nghiệp nhà nước như: miễn thuế, giảm thuế, cho vay ưu đãi, vay không
phải thế chấp, khoanh nợ, dãn nợ, chuyển nợ thành vốn ngân sách cấp, được
trúng thầu hoặc được giao thầu nhiều công trình do Nhà nước đầu tư v.v…
Tuy vậy, những yếu kém của doanh nghiệp nhà nước vẫn còn rất nghiêm
trọng. Đó là: năng lực cạnh tranh thấp do chất lượng kém, giá thành của nhiều
sản phẩm còn cao, nhiều mặt hàng có giá cao hơn mặt hàng cùng loại nhập
5
khẩu (như sắt thép, phân bón, xi-măng, đường) công nợ quá lớn, nợ quá hạn,
nợ khó đòi ngày càng tăng, quy mô doanh nghiệp quá nhỏ, công nghệ lạc hậu,
có những doanh nghiệp còn làm ăn thua lỗ kéo dài.
năm 2010; Để làm tốt vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế
thị trường (KTTT) định hướng XHCN, của PGS, TS kinh tế, Nguyễn Huy
Oánh, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2006; DNNN trong sự
nghiệp công nghiệp hoá (CNH), hiện đại hoá (HĐH) theo định hướng XHCN
ở Việt Nam, của, PGS, TS, UVTW đảng Tô Huy Rứa, năm 2002. Hội nhập
kinh tế thế giới: vấn đề và giải pháp, tạp chí cộng sản (số 5), tr. 17-23, năm
2000…
Tuy nhiên mỗi công trình trên đều nghiên cứu ở một khía cạnh riêng lẻ
của từng vấn đề, đặc biệt là chưa đi sâu vào nghiên cứi thực trạng của các
DNNN nhất là trong bối cảnh hiện nay, để tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động của các DNNN trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu khoá luận
* Mục đích của đề tài
Nghiên cứu cơ sở lý luận, phân tích, đánh giá trực trạng hệ thống DNNN
trong bối cảnh hội nhập hiện nay. Trên cơ sở đó đề ra các giải pháp chủ yếu
nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống các DNNN trong bối cảnh
hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay.
* Nhiệm vụ của đề tài
- Làm rõ khái niệm DNNN và tính tất yếu phải phát triển DNNN.
- Làm rõ khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế và sự cần thiết phải hội nhập
kinh tế quốc tế.
- Phân tích thực trạng của các DNNN Ở Việt Nam trong thời gian qua,
những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân.
- Trên cở sở phân tích đánh giá nguên nhân để đề ra các giải pháp chủ
yếu phát triển DNNN ở Việt Nam hiện nay.
7
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
NỘI DUNG
Chƣơng 1. MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DOANH NGHIỆP
NHÀ NƢỚC VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1. Khái niệm, phân loại và tính tất yếu phải phát triển doanh nghiệp
nhà nƣớc
1.1.1. Khái niệm DNNN
Trên thế giới, khi nghiên cứu hoặc đề xuất phương án cải cách DNNN,
các học giả thường có quan niệm khác nhau về bản thân DNNN. Các định
nghĩa pháp lý và học thuật của các quốc gia khác nhau về DNNN cũng khác
nhau. Mỗi quốc gia trong khái niệm DNNN có thể nhấn mạnh tiêu chí này
hoặc tiêu chí khác, chẳng hạn Việt Nam gọi là xí nghiệp quốc doanh, sau này
gọi là DNNN, Trung Quốc gọi là xí nghiệp quốc hữu, Pháp gọi là công ty
quốc doanh hay doanh nghiệp quốc doanh. Như vậy ngay trong nội hàm của
khái niệm DNNN cũng có sự khác nhau. Mặc dù nội hàm khái niệm DNNN ở
các nước có sự khác nhau song DNNN ở Việt Nam được hiểu như sau:
Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là tổ chức kinh tế được thực hiện nhằm
các mục đích tổ chức kinh doanh nhà nước về một hay nhiều ngành, được tổ
chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm
hữu hạn, trong đó nhà nước sở hữu trên 50 % vốn điều lệ (luật doanh nghiệp –
NXB Thế Giới 2007).
DNNN gồm các loại hình doanh nghiệp sau: Doanh nghiệp 100 % vốn
Nhà nước hoạt động theo luật doanh nghiệp Nhà nước do trung ương quản lý
và địa phương quản lý; công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước do trung ương
quản lý và địa phương quản lý; công ty vốn cổ phần trong nước mà Nhà nước
chiếm trên 50 % vốn điều lệ. [13,tr.177]
10
Nhóm DNNN hoạt động kinh doanh theo phân loại của pháp luật Việt
Nam bao gồm cả loại doanh nghiệp nhóm 1 và loại doanh nghiệp nhóm 3 nhà
nước đầu tư 100 % vốn theo phân loại của Liên hiệp quốc.
* Ngoài các hình thức phân loại doanh nghiệp Nhà nước trên, còn nhiều
cách thức phân loại khác về DNNN tại Việt Nam như:
- Theo hình thức tổ chức doanh nghiệp: DNNN độc lập và tổng công ty
Nhà nước.
- Theo cơ cấu tổ chức quản lý: DNNN có Hội đồng quản trị và DNNN
không có hội đồng quản trị…
1.1.3. Tính tất yếu phải phát triển DNNN
Trong qua trình xây dựng và phát triển kinh tế đất nước hiện nay đảng ta
luôn quán triệt và thực hiện chính sách kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận
hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng
XHCN. Trong đó kinh tế nhà nước mà cốt lõi là hệ thống doanh nghiệp nhà
nước luôn giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ
để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Các doanh nghiệp nhà nước giữ những vị trí then chốt phải đi đầu trong
việc ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, nêu gương về năng xuất, chất
lượng, hiệu quả kinh tế xã hội và chấp hành pháp luật, phải hoàn thành việc
củng cố, sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động
[4,tr.60].
Trong thời gian qua, Nhà nước đã thực hiện nhiều biện pháp trợ giúp
doanh nghiệp nhà nước như: miễn thuế, giảm thuế, cho vay ưu đãi, vay không
phải thế chấp, khoanh nợ, dãn nợ, chuyển nợ thành vốn ngân sách cấp, được
trúng thầu hoặc được giao thầu nhiều công trình do Nhà nước đầu tư v.v…
Tuy vậy, những yếu kém của doanh nghiệp nhà nước vẫn còn rất nghiêm
trọng. Đó là: năng lực cạnh tranh thấp do chất lượng kém, giá thành của nhiều
12
Phải phát triển bền vững về kinh tế, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô,
bảo đảm an ninh kinh tế. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi
mô hình tăng trưởng, coi chất lượng, năng xuất, hiệu quả, sức cạnh tranh là ưu
tiên hàng đầu, chú trọng phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức.
Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hoà với phát triển văn hoá, thực hiện tiến
bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống nhân
dân. Phát triển kinh tế - xã hội phải luôn coi trọng cải thiện và bảo vệ môi
trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Nước ta có điều kiện phát
triển nhanh và yêu cầu phát triển nhanh cũng đang đặt ra hết sức cấp thiết.
Phát triển bền vững là cơ sở để phát triển nhanh, phát triển nhanh để tạo
nguồn lực cho phát triển bền vững. Phát triển nhanh và bền vững phải luôn
gắn chặt nhau trong quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế - xã
hội [6,tr. 99 ].
Như vậy phát triển DNNN không những có ý nghĩa về kinh tế mà còn
có ý nghĩa về chính trị… là công cụ để điều tiết vĩ mô nền kinh tế, cùng với
các thành phần kinh tế khác góp phần đẩy nhanh sự phát triển của nền kinh tế
quốc dân. Nhất là trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay, nhiều cơ
hội và thách thức đang đặt ra trước mắt, phát triển DNNN lại càng trở nên cấp
thiết hơn.
1.2. Khái niệm và sự cần thiết phải hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam
1.2.1. Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế
Đây là quá trình gắn kết các nền kinh tế của từng nước với kinh tế khu
vực và thế giới thông qua các nỗ lực tự do hóa và mở cửa nền kinh tế theo
những hình thức khác nhau, từ đơn phương đến song phương, tiểu khu
vực/vùng khu vực, liên khu vực và toàn cầu. Hội nhập kinh tế có thể diễn ra
theo nhiều mức độ. Theo một số nhà kinh tế, tiến trình hội nhập kinh tế được
chia thành năm mô hình cơ bản từ thấp đến cao như sau:
14
trải qua giai đoạn xây dựng thị trường duy nhất (Thị trường chung châu Âu)
trước khi trở thành một liên minh kinh tế.
- Liên minh kinh tế-tiền tệ: Là mô hình hội nhập kinh tế ở giai đoạn cao
nhất dựa trên cơ sở một thị trường chung duy nhất cộng thêm với việc thực
hiện chính sách kinh tế và tiền tệ chung (một đồng tiền chung, ngân hàng
trung ương thống nhất của khối). Ví dụ: EU hiện nay.
Một nước có thể đồng thời tham gia vào nhiều tiến trình hội nhập với
tính chất, phạm vi và hình thức khác nhau. Tuy nhiên, về cơ bản phải trải qua
các bước hội nhập từ thấp đến cao, việc đốt cháy giai đoạn chỉ có thể diễn ra
trong những điều kiện đặc thù nhất định mà thôi (chẳng hạn Cộng đồng Kinh
tế châu Âu đã đồng thời thực hiện xây dựng khu vực mậu dịch tự do và liên
minh thuế quan trong những thập niên 60-70). Hội nhập kinh tế là nền tảng
hết sức quan trọng cho sự tồn tại bền vững của hội nhập trong các lĩnh vực
khác, đặc biệt là hội nhập về chính trị và nhìn chung, được các nước ưu tiên
thúc đẩy giống như một đòn bẩy cho hợp tác và phát triển trong bối cảnh toàn
cầu hóa.
1.2.2. Sự cần thiết phải hội nhập kinh tế quốc tế
- Hội nhập kinh tế quốc tế - xu hướng tất yếu của thời đại
Toàn cầu hoá kinh tế là xu thế tất yếu biểu hiện sự phát triển nhảy vọt
của lực lượng sản suất do phân công lao động quốc tế diễn ra ngày càng sâu
rộng trên phạm vi toàn cầu dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công
nghệ và tích tụ tập trung tư bản dẫn tới hình thành nền kinh tế thống nhất. Sự
hợp nhất về kinh tế giữa các quốc gia tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến nền
kinh tế chính trị của các nước nói riêng và của thế giới nói chung. Đó là sự
phát triển vượt bậc của nền kinh tế thế giới với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao,
cơ cấu kinh tế có nhiều sự thay đổi. Sự ra đời của các tổ chức kinh tế thế giới
16
Hai là, sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa các nước ngày càng tăng.
Chính sự chuyên môn hóa, hiệp tác hóa sản xuất làm cho các nước phụ thuộc
nhau về nhiều mặt như: nguyên liệu, kỹ thuật, công nghệ, vốn đầu tư, lao
động, thị trường... Mỗi nước đều cố gắng khai thác tối đa những lợi thế tuyệt
đối và tương đối của mình. Thị trường thế giới ngày càng có vai trò quan
trọng đối với "đầu vào" và "đầu ra" của nền kinh tế mỗi quốc gia.
Ba là, hình thành kết cấu hạ tầng sản xuất quốc tế và giá cả quốc tế.
Ngày nay, khi xây dựng kết cấu hạ tầng sản xuất như đường giao thông,
sân bay, bến cảng, kho bãi, hệ thống thông tin liên lạc và cả các lĩnh vực khác
như dịch vụ, khách sạn... các quốc gia đều dựa theo tiêu chuẩn quốc tế. Hệ
quả của nó là tạo ra điều kiện thuận lợi hơn cho mở rộng quan hệ kinh tế đối
ngoại của các quốc gia. Toàn cầu hóa kinh tế còn biểu hiện ở sự hình thành
giá cả quốc tế. Ngày nay, các sản phẩm phổ biến (như xăng dầu, gạo, sắt thép,
cà phê...) đều có giá cả quốc tế. Sự xuất hiện giá cả quốc tế lại giúp cho các
quốc gia tìm ra lợi thế của mình, tập trung sản xuất những sản phẩm có thế
mạnh để xuất khẩu và mua những sản phẩm mà chưa sản xuất được hoặc chất
lượng chưa cao, giá cả lại đắt. Chính vì vậy, trong những thập niên gần đây,
thương mại quốc tế phát triển rất mạnh mẽ và có những xu hướng mới.
Tóm lại, thời đại ngày nay toàn cầu hóa kinh tế diễn ra mạnh mẽ, là xu
thế khách quan và không một quốc gia nào có thể đứng ngoài dòng xoáy của
nó. Toàn cầu hóa kinh tế vừa tạo ra cơ hội vừa tạo ra thách thức cho mỗi quốc
gia. Vì vậy, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế trở thành tất yếu khách quan và
là một trong các nhiệm vụ kinh tế cơ bản trong thời kỳ quá độ ở nước ta và
được nhấn mạnh nhiều lần trong các văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà
nước "Đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại, hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn
với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương, lấy phục vụ lợi ích
đất nước làm mục tiêu cao nhất”.
19
lật đổ, khủng bố vẫn diễn ra gay gắt; các yếu tố đe doạ an ninh phi truyền
thống, tội phạm công nghệ cao tiếp tục gia tăng. Những vấn đề toàn cầu như
an ninh tài chính, an ninh lượng, an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, thiên
tai, dịch bệnh… sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp. Toàn cầu hoá và cách mạng
khoa hoc – công nghệ diễn ra mạnh mẽ, thúc đẩy quá trình hình thành xã hội
thông tin và kinh tế tri thức. Kinh tế thế giới mặc dù có dấu hiệu phục hồi sau
khủng hoảng nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, bất ổn; quá trình cấu trúc lại nền
kinh tế và thể chế tài chính diễn ra mạnh mẽ ở các nước. Cạnh tranh kinh tế
thương mại, giành giật các nguồn tài nguyên, năng lượng thị trường, công
nghệ, nguồn vốn, nguồn nhân lực chất lượng cao… giữa các nước ngày càng
gay gắt. Cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc,
dân sinh, dân chủ và tiến bộ xã hội tiếp tục phát triển. Cuộc đấu tranh giai cấp
và dân tộc diễn biến phức tạp…
Ngày nay vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế khách quan đang
diễn ra trên thế giới. Một trong những nguyên nhân của nó là do sự tác động
của lực lượng sản xuất ngày càng mang tính chất quốc tế hoá, đặc biệt là từ
khi cuộc cách mạng khoa hoc và công nghệ bùng nổ. Xu thế trên đây thúc đẩy
các quốc gia phải có chiến lược về hội nhập kinh tế quốc tế.
Trước xu thế toàn cầu hoá kinh tế, hầu hết các nước tên thế giới ngày
càng hường về phát triển mạnh nền kinh tế thị trường quốc gia và mở rộng hội
nhập kinh tế quốc tế. Để không bị bao vây cô lập và tụt hậu về kinh tế, Đảng
và Nhà nước ta đã sớm nhận thức được vấn đề và đưa ra chủ trương di đoi với
phát triển mạnh nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Đó là phải chủ
động mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế với các nước thông qua con đường mở
cửa thị trường và hội nhập phát triển kinh tế dưới nhiều hình thức theo
nguyên tắc đôi bên cùng có lợi.
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Hiện nay quan hệ buôn bán ngoại thương của nước ta đã mở rộng phạm
vi tới gần 140 nước trên thế giới ở những mức độ khác nhau, xuất khẩu nhiều
mặt hàng có giá trị cao ra thị trường thế giới thu về mỗi năm hàng chục tỷ
21
USD. Chúng ta cũng đã thiết lập được thị trường chứng khoán và có văn
phòng ngân hàng đại diện ở một số nước như: Pháp, Singapore, Hồng Kông,
Thuỵ Điển…để tham gia vào hoạt động tên một số lĩnh vực của thị trường
tiền tệ thế giới. Hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần đưa nước ta lên vị thế
cao hơn trên trường quốc tế. Việt Nam trở thành thành viên của tổ chức
thương mại quốc tế WTO và được bầu làm uỷ viên thường trực không chính
thức của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc… Những kết quả đạt được trên đây
về kinh tế xã hội nói chung và hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng đã chứng
minh đường lối mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại của Đảng và nhà nước ta là
đúng đắn.
Tổng kết kinh nghiệm 25 năm đổi mới thực hiện đường lối đối ngoại,
chủ động mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế, Đại hôi lần thứ XI của Đảng tiếp
tục khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ,
hoà bình hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động
và tích cực hội nhập quốc tế… Kết hợp chặt chẽ đối ngoại của Đảng với đối
ngoại của Nhà nước và ngoại giao nhân dân giữa ngoại giao chính trị với
ngoại giao kinh tế và ngoại giao văn hoá với ngoại giao quốc phòng an ninh.
Nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập tự
chủ và phát triển nhanh bền vững, phát huy vai trò nguồn lực của ccộng đồng
người Việt Nam ở nước ngoài vào phát triển đất nước. Tiếp tục cải thiện môi
trường đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút mạnh các nguồn vốn quốc tế,
thu hút các nhà đầu tư lớn, có công nghệ cao, có cộng nghệ nguồn; mở rộng
để tổ chức thực hiện tốt trong thực tiễn.
Hai là, hiểu biết một cách nhuần nhuyễn các quy luật của nền kinh tế thị
trường vận động trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội ở các khâu sản
xuất phối, trao đổi và tiêu dùng ở các hoàn cảnh cụ thể của thị trường trong
nước và thị trường thế giới để vận dụng một cách sáng tạo vào việc giải quyết
các công việc sản xuất kinh doanh đối ngoại của mình đạt hiệu quả cao nhất,
hạn chế thấp nhất những thiệt hại do sự rủi ro hoặc thiếu trách nhiệm gây ra.
Ba là, biết tìm kiếm và phát hiện kịp thời những thế mạnh của sản xuất
và thị trường trong nước và thế yếu của thị trường thế giới để thực hiện tốt
23
nhất các mục tiêu của hội nhập kinh tế quốc tế theo hướng đa phương và đa
dạng hoá của Đảng đề ra nhằm đạt hiệu quả cao nhất.
Bốn là, không ngừng học tập bồi dưỡng để nâng cao trình độ nghiệp vụ
chuyên môn và trình độ ngoại ngữ, trình độ hiểu biết luật pháp, đặc biệt là
luật kinh tế để giải quyết một cách thông thạo các quan hệ giao dịch và kinh
doanh ngang tầm đòi hỏi của thị trường thế giới trong điều kiện hiện nay.
Năm là, làm công việc gì, ở đâu với nước nào, cũng đều phải đặt lợi ích
quốc gia, lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân. Trong bất cứ trường hợp nào
cũng phải giữ vững mục tiêu đưa nền kinh tế nước ta đi theo định hướng
XHCN, không vì lợi ích kinh tế trước mắt mà đánh mất lợi ích chính trị xã hội
lâu dài.
Sáu là, góp phần thực hiện tốt các cam kết với tổ chức thương mại quốc
tế WTO và các hiệp định quan hệ thương mại song phương khác để chứng tỏ
rằng: Việt Nam luôn là đối tác làm ăn tin cậy của họ.
Hội nhập kinh tế quốc tế theo đường lối của Đảng và Nhà nước đề ra là
một quá trình lâu dài phức tạp và gian khổ nhưng nhất định sẽ thành công.
Toàn Đảng, toàn dân, các doanh nghiệp và từng người lao động có vai trò
được tăng lên.
Bảng 2.1: Số doanh nghiệp (cơ cấu doanh nghiệp) đang hoạt động
sản xuất kinh doanh tại thời điểm 31/12 hàng năm phân theo loại hình
doanh nghiệp (tính theo tỷ lệ doanh nghiệp (tỷ lệ %)) [13,tr.181]
Năm
2005
2006
2007
2008
2009
Tổng số
112950
(100 %)
131318
(100 %)
155771
(100 %)
205732
(100 %)
(94,57 %)
196778
(95,65 %)
328932
(96,01%)
4220
(3,21%)
4961
(3,19 %)
5626
(2,73 %)
6546
(2,63%)
DNNN
Doanh nghiệp
ngoài nhà nước
Doanh nghiệp có
3697
vốn đầu tư nước
(3,27 %)
ngoài