Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp đại học
MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển của kinh tế và sự gia tăng dân số trên toàn thế
giới vấn đề ô nhiễm môi sinh, mất cân bằng sinh thái đã tới mức nghiêm
trọng. Nếu con người cứ tiếp tục hoạt động của mình mà không chú ý đến
việc bảo vệ thiên nhiên, giữ gìn môi sinh thì họ tự huỷ diệt điều kiện sống của
mình và ngay chính bản thân mình [2].
Bảo vệ môi trường, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo sự
phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững, hiện nay trở thành nhiệm vụ
cấp bách, mang tính toàn cầu.
Như ta đã biết môi trường được cấu tạo bởi 3 thành phần: môi trường
khí quyển, môi trường thuỷ quyển và môi trường thạch quyển; chúng có mối
quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Do đặc điểm, thành phần và cấu trúc từng
môi truờng mà mức độ lan truyền các chất khác nhau, mức độ lan truyền các
chất trong môi trường thuỷ quyển và môi trường khí quyển là lớn nhất. Vì vậy
ô nhiễm môi trường không khí và môi trường nước gây mối lo ngại cho con
người do tác dụng độc hại của nó. Các chất gây ô nhiễm môi trường rất đa
dạng về loại chất cũng như về dạng tồn tại, do đó nó gây ảnh hưởng rộng và
nhanh chóng đến con người, động thực vật trên trái đất [3].
Có rất nhiều nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường, trong đó sự ảnh
hưởng của môi trường công nghiệp là rất lớn. Bởi lẽ nói tới ô nhiễm công
nghiệp, trước hết nên lưu ý rằng ở trong mọi trường hợp, tất cả các nguồn tài
nguyên khai thác từ môi trường tự nhiên một phần được chuyển đổi thành sản
phẩm có ích còn một phần sẽ quay lại môi trường tự nhiên dưới dạng chất thải
công nghiệp. Bản thân sản phẩm là có ích tại giai đoạn này nhưng tới một lúc
nào đó cũng bị biến đổi, mất dần giá trị sử dụng và cũng quay về môi trường
dưới dạng chất thải. Như vậy xét cho cùng trong mối quan hệ sản xuất công
Đàm Thị Lê
cũng như đời sống của nhân dân xung quanh khu vực Công ty. Vì vậy, việc
xác định và định lượng các yếu tố gây độc là hết sức cần thiết.
Đàm Thị Lê
Hoá
2
K31D
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp đại học
CHƢƠNG 1
MÔI TRƢỜNG, VẤN ĐỀ Ô NHIỄM MÔI TRƢỜNG VÀ
NHỮNG GIẢI PHÁP CHO VIỆC PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
1.1 MÔI TRƢỜNG VÀ VẤN ĐỀ GÂY Ô NHIỄM, HỦY HOẠI MÔI
TRƢỜNG
“Môi trường” của một vật thể hoặc một một sự kiện là tổng hợp các điều
kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới vật thể và sự kiện đó. Bất cứ một vật thể,
một sự kiện nào cũng diễn biến trong một môi trường nhất định [1].
Môi trường, sức khoẻ và sự phát triển của con người phụ thuộc rất nhiều
vào những gì mà chúng ta làm hôm nay. Nếu con người không thay đổi
phương thức khai thác, sản xuất và thậm chí cả những nền nếp sinh hoạt thì
trái đất vẫn tiếp tục bị tổn thương và môi trường mà sự sống của chúng ta
đang lệ thuộc vào sẽ tiếp tục bị huỷ hoại.
các gốc hiđrôxyl hoạt động (HO), các oxit nitơ (NOx) và quan trọng là các
hợp chất của clo.
Tầng ôzôn bị phá huỷ nhiều sẽ làm ảnh hưởng tới sức khoẻ của con
người gây huỷ hoại thuỷ tinh thể. Nó cũng gây tác động đến đời sống cây
trồng, tới quá trình quang hợp và gây ảnh hưởng lâu dài cho các sản phẩm
công nghiệp.
1.1.2 Tình trạng nóng dần lên của trái đất
Sự nóng dần lên của trái đất hay “hiệu ứng nhà kính” là hiện tượng
nóng dần lên của khí quyển do sự gia tăng của một số loại khí, trong đó chủ
yếu là khí cacbonic (CO2), mêtan (CH4) và một số loại khí phá huỷ tầng ôzôn.
Như chúng ta đã biết, nhiệt độ bề mặt trái đất được tạo thành bởi sự cân
bằng giữa năng lượng mặt trời chiếu xuống trái đất và năng lượng bức xạ
nhiệt của mặt đất phát vào không gian vũ trụ. Bức xạ mặt trời là bức xạ sóng
ngắn nó dễ dàng xuyên qua các lớp khí CO2, CH4, hơi nước và tầng ôzôn
chiếu xuống trái đất, ngược lại bức xạ nhiệt từ mặt đất phản xạ vào khí quyển
là bức xạ sóng dài, nó không có khả năng xuyên qua các lớp khí CO2 và lại bị
khí CO2 và hơi nước hấp thụ, do đó nhiệt độ của khí quyển bao quanh trái đất
tăng lên. Hiện tượng này được gọi là “hiệu ứng nhà kính” vì lớp khí CO2,
CH4, hơi nước bao quanh trái đất có tác dụng tương tự như lớp kính giữ nhiệt
của nhà kính trồng rau xanh mùa đông, chỉ khác là nó quy mô toàn cầu.
Đàm Thị Lê
Hoá
4
K31D
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Đàm Thị Lê
Hoá
5
K31D
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp đại học
- Nguồn phát sinh chất gây ô nhiễm (tác nhân ô nhiễm)
- Quá trình phát tán, lan truyền trong khí quyển được xem như môi
trường trung gian.
- Bộ phận tiếp nhận là thực vật, động vật, con người, các công trình xây
dựng, đồ vật chịu sự tác động có hại của tác nhân gây ô nhiễm.
Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh ô nhiễm, người ta chia tác nhân ô
nhiễm làm 2 loại: nguồn thiên nhiên và nguồn nhân tạo.
- Nguồn thiên nhiên: Núi lửa phun (Sunfua, mêtan …), cháy rừng, bão
bụi, các quá trình thối rữa các xác động thực vật (NH3, H2S, CH4 …).
- Nguồn nhân tạo: Nguồn ô nhiễm nhân tạo rất đa dạng nhưng chủ yếu
do hoạt động công nghiệp, giao thông vận tải, đốt nhiên liệu hoá thạch, hoạt
động nông nghiệp và các hoạt động khác.
Tác nhân ô nhiễm phát thải ra bao gồm bụi và các khí như CO, CO2,
SOx, hyđrocacbon, NOx, bụi kim loại nặng [1].
1.1.5 Ô nhiễm nƣớc
Nước là cội nguồn chính yếu trong mọi sự sống và bản thân nó cũng là
môi trường sống cho mọi động thực vật sinh tồn. Các nguồn nước và đại
dương đã từ lâu cũng được sử dụng như một nơi để thải bỏ các chất thải [6].
chảy dầu và sự cố các giàn khoan đã gây hậu quả lớn về môi sinh.
1.1.6 Ô nhiễm môi truờng đất
Ô nhiễm môi trường đất là tất cả các hiện tượng, các quá trình làm ô
nhiễm bẩn đất, thay đổi các tính chất vật lí hóa học tự nhiên của đất do các tác
nhân gây ô nhiễm dẫn đến làm giảm độ phì nhiêu của đất. Đất là một môi
trường sinh thái rất đa dạng, trong đó luôn luôn xảy ra mối quan hệ lẫn nhau
giữa các thành phần cấu tạo đất rất phức tạp.
Trong thực tế, nhiều tác nhân gây ô nhiễm có nguồn gốc khác nhau
nhưng lại gây tác hại như nhau. Để thuận lợi cho việc giám sát môi trường
người ta thường phân loại theo tác nhân: ô nhiễm do tác nhân hoá học, lí học
và sinh học. Ngày nay cùng với sự tiến bộ của khoa học và kỹ thuật thì môi
trường đất cũng trở nên bị ô nhiễm bởi con người đã đưa vào sản xuất những
ứng dụng khoa học nhằm mục đích nâng cao đời sống phát triển kinh tế đất
nước như việc con người sử dụng phân bón hoá học, thuốc trừ sâu, diệt cỏ,
chất kích thích sinh trưởng…, sử dụng các hoá chất trong công nghiệp, giao
thông vận tải, nghiên cứu khoa học,…
Đàm Thị Lê
Hoá
7
K31D
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Môi trường đất bị ô nhiễm sẽ ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến đời
K31D
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp đại học
nghiệp hoá đã tiêu thụ một lượng phóng xạ, nhiên liệu và nguyên liệu một
cách vượt bậc làm cạn kiệt nguồn trữ cho tương lai.
Mặt khác, quá trình sản xuất công nghiệp đã làm suy thoái môi trường
qua các sự kiện ô nhiễm nước, không khí và đất do các nhà máy thải ra, vượt
khả năng tự thanh lọc của môi trường.
Ví dụ: Hàng năm, các nước công nghiệp lớn trên thế giới thải ra 115
triệu tấn SO2 và 30 triệu tấn NO2 gây nên hiện tượng mưa axit huỷ diệt ao hồ
và rừng cây [4].
Ở nước ta riêng thành phố Hồ Chí Minh, nhiều khu công nghiệp như
vùng kênh Tham Lương, kênh Lò Gốm, khu Tăng Nhơn Phú - Thủ Đức, nước
và không khí chứa nhiều chất độc như Hg, chất hữu cơ, hàm lượng khí CO2,
NO2,… đã vượt xa tiêu chuẩn vệ sinh cho phép.
Một lượng đáng kể khí CO, CO2 được thải ra từ quá trình sản xuất gang
thép đã gây ra ô nhiễm không khí rất nghiêm trọng, trong đó còn có khí cũng
được thải ra như SO2, H2S,…
Trong công nghiệp sản xuất axit sunfuric khí SO2, SO3, bụi, các oxit
asen, selen và các hợp chất flo cũng tương đối nhiều.
Khi tổng hợp amôniac và axit nitric thì chủ yếu là thải ra các hợp chất
của nitơ như NO, NO2,… ngoài ra còn có khí CO, CO2.
Như vậy tác nhân gây ô nhiễm môi trường chủ yếu là các hợp chất
cacbon, hợp chất nitơ, hợp chất lưu huỳnh.
1.2.1.1 Các hợp chất có chứa lưu huỳnh
nhức mắt và cảm giác nóng trong cổ họng. Khi nồng độ của khí SO2 trong khí
quyển không quá 1 ppm thì gây cay mắt, nhưng khi nồng độ của nó khoảng 3
ppm thì có mùi vị gây kích thích phát cáu.
Khí SO2 được sinh ra từ các hợp chất có chứa lưu huỳnh, hoạt động của
núi lửa, quá trình lưu hoá cao su, các phương tiện giao thông vận tải.
Trong khí quyển khí SO2 bị ôxi hoá thành SO3 theo quá trình ôxi hoá
xúc tác hay ôxi hoá quang hoá. Trong điều kiện độ ẩm cao, SO2 dễ bị các giọt
nước xúc tác (muối của Fe2+, Mn2+,…), NH3 có trong không khí cũng làm cho
phản ứng tăng nhanh và làm tăng độ tan SO2 trong các hạt nước [1].
Hơi SO3 phản ứng rất mạnh với nước tạo thành các hạt sa mù axit
sunfuric rất nhỏ bé, gặp mưa nó rơi xuống mặt đất. Khi nồng độ axit sunfuric
cao vào khoảng pH từ 5,4 – 2,5 được gọi là mưa axit.
SO2 và axit H2SO4 gây tác hại đến sức khoẻ và con người, động vật. Nó gây
tổn hại đến cây trồng các hệ sinh thái nước, ăn mòn các công trình xây dựng,…
Đàm Thị Lê
Hoá
10
K31D
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp đại học
1.2.1.2 Các hợp chất của cacbon
Trong sản xuất công nghiệp việc dùng cacbon làm nhiên liệu và nguyên
liệu với một lượng lớn đã làm sinh ra một lượng đáng kể các khí CO,CO2 thải
ra môi trường, chúng là các tác nhân gây ra ô nhiễm môi trường lớn.
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Nồng độ khí CO2 trong khí quyển nhanh chóng tăng lên do hoạt động
công việc, gia tăng khối lượng vận tải, đốt các loại nhiên liệu đang tạo nên
hiệu ứng nhà kính. Từ năm 1870 đến năm 1980 nồng độ CO2 trên trái đất tăng
lên 11% từ 290 – 335 ppm, do đó nhiệt độ trung bình trên toàn trái đất sẽ tăng
lên 0,50C.
Nhiệt độ trái đất tăng lên thì khả năng hoà tan CO2 sẽ bị giảm xuống,
một số lượng lớn CO2 sẽ thoát vào khí quyển, làm cho hiệu ứng nhà kính tăng
lên gấp bội. Nếu toàn bộ các khối băng bị tan nước biển sẽ dâng lên từ 75 –
79 m, 1/5 đất đai phần lớn là vùng đông dân, phì nhiêu, kinh tế phát triển sẽ bị
vùi ngập dưới nước đại dương [4].
1.2.1.3 Các hợp chất của nitơ
Các hợp chất chứa nitơ quan trọng trong khí quyển là N2O, NO, NO2,
NH3 và các muối nitrat, nitrit và amoni.
● Nitơ ôxit (NO)
Nitơ ôxit là khí được tạo ra cả từ nguồn tự nhiên và nhân tạo qua quá
trình đốt cháy nhiên liệu hoá thạch ở nhiệt độ cao và sấm sét trong không khí.
NO là chất gây ô nhiễm không khí.
Nitơ ôxit là một khí không màu rất độc, khó hoá rắn và khó hoá lỏng, ít
tan trong nước.
Khí NO kết hợp với oxi và nước trong không khí góp phần vào hiện
tượng mưa axit. Mặt khác, khí NO cùng với những hyđrocacbon chưa cháy
của nhiên liệu, dưới tác dụng của tia tử ngoại của ánh sáng mặt trời, gây nên
khói mù quang hoá, có hại đối với sức khoẻ con người. Nitơ ôxit cũng như
CO tác dụng mạnh với hemoglobin, nhưng NO tác dụng với hemoglobin
mạnh gấp 1500 lần so với khí CO làm ảnh hưởng đến khí hô hấp, viêm phổi
cấp, phù,… [1].
gồm hơi, khói mù.
Căn cứ vào tác hại của bụi, người ta chia làm 5 loại bụi:
● Bụi gây nhiễm độc chung: Pb, Hg, C6H6,...
● Bụi gây dị ứng, viêm mũi, hen, nổi ban: bụi bông gai, phấn hoa,
phân hoá học,…
● Bụi gây ung thư: bụi quặng, bụi phóng xạ, hợp chất crôm,…
● Bụi gây nhiễm trùng: lông, tóc,…
● Bụi gây xơ phổi: bụi amiăng, bụi thạch anh.
1.2.2 Các phƣơng pháp xử lí
1.2.2.1 Xử lí khí thải
Đàm Thị Lê
Hoá
13
K31D
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Căn cứ vào tình hình thực tế khu vực, chúng ta phải chịu phương pháp
xử lí ô nhiễm khả thi cho từng nhà máy xí nghiệp.
● Xử lí bụi
Có nhiều phương pháp xử lí bụi:
- Với phương pháp trọng lực, các hạt bụi lơ lửng được tách ra bởi trọng
trường bằng thiết bị là phòng tắm bụi. Khi hạt bụi bị rơi xuống nó chịu sự tác
dụng của 2 lực: trọng lực và trở lực của môi trường.
- Lắng bụi li tâm là phương pháp được sử dụng rộng rãi trong công
(NH4)2SO3 + SO2 + H2O → 2NH4HSO3
- Dùng MgO huyền phù trong dung dịch nước
MgO + SO2 + 6H2O → MgSO3. 6H2O [1]
Đàm Thị Lê
Hoá
15
K31D
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp đại học
* Khí ôxit của nitơ (NOx)
Có 2 phương pháp xử lí khô và xử lí ướt
- Phương pháp khô là phân huỷ các NOx thành O2 và N2 trên xúc tác Pt.
- Phương pháp ướt được sử dụng rộng rãi, có hiệu quả cao. Người ta
dùng nước hoặc các dung dịch muối để chuyển tất cả NOx thành dạng muối
thương phẩm.
2NO2 + M2CO3
→ MNO3 + MNO2 + CO2
N2O3 + M2CO3 → 2MNO2 + CO2
Các muối gốc nitrit thường độc nên phải chuyển chúng thành muối
nitrat. Có thể thay thế các muối bằng dung dịch NaOH 20%. Ngoài ra có thể
16
K31D
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp đại học
= O + H2S HO
O=
OH +
S
- Dùng ADA (anthraquinon đisunfonic axit) kèm theo Na2CO3:
H2S + Na2CO3 + ADA S + Na2CO3 + muối natri của axit 9,10 –
anthraquinon – 2,6 – đisunfonic
- Dùng than hợp tính để hấp thụ
Phương pháp ôxi hoá khử:
Theo phương án xử lí chất ô nhiễm không khí, đặc biệt chất có
mùi hôi của Công ty công nghệ và hoá chất Châu Á (ACE). Trước hết người
ta cho luồng khí thải qua dung dịch axit sunfuric để hấp thụ amin và amoniac,
rồi cho luống khí tiếp tục đi qua dung dịch kiềm để hấp thụ axit cacboxylic
mercaptan, axit béo, phenol. Sau mỗi giai đoạn đều cho luồng khí qua dung
17
K31D
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Dùng lưu huỳnh
Hg (độc)+ S
§k
th-êng
→ HgS (không độc)
- Xử lí chì:
Phương pháp xử lí đơn giản nhất là ngưng tụ trực tiếp dòng khí thải
bằng mút hoặc kết tủa các hợp chất của chì: cho dòng khí thải có chứa tạp
chất của chì ở dạng hợp chất qua dung dịch Na2S (K2S, (NH4)2S)
Pb2+
+ S2-
↔
PbS↓
Phương pháp tạo phức với 2,3 – đimercapto propanol
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp đại học
● Phương pháp hoá lí:
Những phương pháp hoá lí để xử lí nước thải gồm có đông tụ, keo tụ,
tuyển nổi, hấp phụ, trao đổi ion và phương pháp điện hoá.
● Phương pháp hoá học:
Có 2 phương pháp chính là trung hoà và oxi hoá khử để xử lí nước thải
- Phương pháp trung hoà dựa trên nguyên tắc:
Trộn lẫn nước thải có môi trường axit với nước thải có môi trường
kiềm. Lọc nước thải axit qua lớp vật liệu có tác dụng trung hoà. Hấp thụ
khí axit bằng nước thải kiềm hoặc hấp thụ NH3 bằng nước thải axit.
- Phương pháp ôxi hoá khử:
Sử dụng các chất ôxi hoá mạnh để xử lí nước thải như Cl2, clorua
vôi, thuốc tím, kali bicromat, oxi già, ôzôn,…
- Phương pháp sinh học:
Dựa vào khả năng hoạt động của các vi sinh học để phân huỷ, bẻ gãy
các phân tử hợp chất hữu cơ gây ô nhiễm nước thải thành các hợp chất đơn
giản [5].
1.2.2.3 Xử lí phế thải rắn
Tất cả các sinh vật trong quá trình phát sinh phát triển và tồn tại đề đưa
vào môi trường các chất phế thải. Nó gây ô nhiễm cho môi trường, vì vậy cần
được xử lí.
● Xử lí các phế thải rắn sinh hoạt:
Quá trình xử lí bao gồm thu gom, vận chuyển, tập trung, xử lí.
Hiện nay việc xử lí các chất thải rắn theo phương pháp công nghệ
được chia ra làm các phương pháp sau:
gây nên sự mất cân bằng sinh thái, sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên, các mối
quan hệ xã hội mang tính người, tính văn hoá ở nhiều nơi, nhiều lúc bị phá vỡ
hoặc xuống cấp làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và phát triển bền
vững của đất nước. Một trong những nguyên nhân chính là do sự nhận thức và
thái độ của con người đối với môi trường còn hạn chế. Từ đó một vấn đề đặt ra
là: cần thiết phải tăng cường công tác giáo dục bảo vệ môi trường [8].
Khi con người có nhận thức đúng, đầy đủ về ý nghĩa, tầm quan trọng,
nội dung bảo vệ môi trường thì tạo ra cho con người có những ứng xử, những
hành động đúng đắn phù hợp với thực tế khách quan. Bảo vệ môi trường là
nhiệm vụ chung của toàn nhân loại, không riêng ai. Bởi vậy giáo dục môi
trường là cả một quá trình lâu dài, kể từ khi con người biết nhận thức được
thế giới vật chất khách quan cho tới lúc từ bỏ thế giới này. Giáo dục môi
Đàm Thị Lê
Hoá
20
K31D
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp đại học
trường về nội dung bao hàm những quy luật, những hiện tượng có bản chất
khoa học tự nhiên, nhưng nó lại khác ở chỗ chứa đựng đặc tính xã hội, nhân
văn rất cao.
Do đó việc đưa giáo dục môi trường vào nội dung của quá trình giáo
dục là tất yếu khách quan.
1.3.2 Nội dung kiến thức về giáo dục bảo vệ môi trƣờng đƣa vào hệ thống
Khoá luận tốt nghiệp đại học
● Các biện pháp phòng chống suy thoái môi trường và biện pháp kiểm
soát ô nhiễm môi trường.
● Bảo vệ tính đa dạng sinh học và vốn gen di truyền các loài.
● Phòng chống và kiểm soát các sự cố môi trường.
● Các biện pháp bảo vệ môi trường.
● Chiến lược bảo vệ môi trường trên thế giới và ở Việt Nam.
1.3.2.3 Các vấn đề quản lí môi trường
● Quy hoạch môi trường.
● Chính sách và luật pháp môi trường.
● Đánh giá chất lượng môi trường.
● Tổ chức các hoạt động, các phong trào quần chúng bảo vệ môi trường.
● Nghiên cứu và sử dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ vào các
ngành sản xuất để tái chế chất thải, kiểm soát ô nhiễm môi trường, xử lí các
hiện tượng ô nhiễm môi trường.
● Thanh tra và kiểm soát môi trường.
● Giáo dục môi trường trong trường học và cộng đồng, đào tạo cán bộ
để nghiên cứu về môi trường, công nghệ môi trường và đánh giá tác động
môi trường.
1.3.3 Phƣơng pháp giáo dục bảo vệ môi trƣờng
Để thực hiện tốt mục tiêu giáo dục nhà trường thì cần phải có phương
pháp giáo dục hợp lí, phù hợp thực tiễn của đất nước.
Việc đưa giáo dục môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân là vấn
đề cấp thiết, bằng cách thông qua môn học, các hoạt động tập thể,… mà từng
người sẽ nhận thức được kiến thức về giáo dục bảo vệ môi trường.
Trước tiên là đào tạo cán bộ nghiên cứu về môi trường, cán bộ giảng
dạy cùng với những chính sách - luật pháp Nhà Nước ban hành, mỗi công dân
- Nước thải nhiễm dầu: Hiện nay công ty sử dụng dầu FO để chạy lò
hơi. Trong quá trình sử dụng dầu có thể rơi vãi ra ngoài khi xuất nhập dầu,
hoặc rò rỉ từ chỗ ống nối, van dầu,…
2.1.2 Các chất gây ô nhiễm không khí
Theo dây chuyền công nghệ sản xuất của Công ty, có thể xác đinh các
nguồn gây ô nhiễm không khí và các chất gây ô nhiễm chủ yếu là:
- Bụi sinh ra trong quá trình bốc dỡ nguyên liệu, các thuốc nhuộm.
- Các chất thải trong phân xưởng dệt chủ yếu là các chất thải rắn như
sợi vụn, vải vụn và bông bụi là các mảnh vụn có kích thước nhỏ phát sinh
trong quá trình cắt xén.
Đàm Thị Lê
Hoá
23
K31D
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp đại học
- Phân xưởng nhuộm của công ty là nơi phát sinh ra các khí độc vì
khi nhuộm ở nhiệt độ cao hơi nước bốc ra có thể kéo theo một số chất độc hại
gây ô nhiễm môi trường.
- Nguồn gốc gây ô nhiễm không khí của Công ty chủ yếu do khí thải từ
nồi hơi đốt dầu. Khói đốt dầu có chứa bụi, SOx, NOx, COx, hiđrôcacbon.
Để tính toán thành phần khí thải chúng ta cần biết thành phần và
tính chất của dầu FO.
Theo tài liệu nước ngoài, dầu FO có tính chất thành phần như sau:
90g/tấn nhiên liệu
CO
:
1g/tấn nhiên liệu
NOx
:
2,36g/tấn nhiên liệu
Anđêhit
:
22g/tấn nhiên liệu
Tổng hữu cơ
:
48g/tấn nhiên liệu
Ngoài ra còn có khí thải phát sinh từ máy phát điện (dùng khi mất điện
lưới) và khí thải do các phương tiện giao thông vận tải sử dụng tại Công ty.
2.1.3 Chất thải rắn
Chất thải rắn của Công ty Dệt Kim Hà Nội bao gồm các loại sau:
các chất hữu cơ. Một số kim loại nặng, hợp chất thơm chứa hợp tố không
những có thể tiêu diệt thuỷ sinh vật mà còn gây hại cho người sử dụng khi
nước thải này đổ ra sông.
Nước thải này khi ngấm vào đất sẽ làm ô nhiễm nguồn nước ngầm:
pH cao, chứa các chất hoạt động bề mặt, BOD, COD tăng cao,…
● Nước thải nhiễm dầu
Hiện nay Công ty sử dụng dầu FO để chạy lò hơi. Trong quá trình sử
dụng dầu có thể rơi vãi ra ngoài khi xuất, nhập khẩu, hoặc rò rỉ ở chỗ ống nối
từ van dầu,… Khi có sự cố chảy dầu, dầu sẽ chảy vào ống thải và đưa ra ngoài
môi trường. Dầu sẽ bao phủ bề mặt nguồn nước làm ngăn cản quá trình trao đổi
Đàm Thị Lê
Hoá
25
K31D